chia di sản của ông bà
Theo dữ liệu bạn cung cấp, không thể mặc nhiên chia tài sản thành 03
phần cho 03 người con trai. Ba người con gái của ông bà, dù đã lập gia
đình, về nguyên tắc vẫn có quyền thừa kế ngang bằng với các con trai.
1. Trước hết phải xác định di sản
của ông bà
Nếu tài sản là tài sản chung của ông và bà thì cần xác định phần tài sản
của từng người. Khi một bên vợ hoặc chồng chết, tài sản chung về nguyên tắc
được chia đôi; phần của người chết mới được xác định là di sản để chia thừa kế,
theo khoản 2 Điều 66 Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13.
Ngoài ra, trước khi chia di sản phải thanh toán các nghĩa vụ tài sản và
chi phí liên quan. Chi phí mai táng hợp lý được ưu tiên thanh toán trước,
theo Điều 658 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13.
2. Ba người con trai và ba người
con gái đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất
Theo điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha mẹ và con của người chết;
những người cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
Vì vậy, nếu:
- Ông bà không để lại di chúc;
- Sáu người con đều là con đẻ
hoặc con nuôi hợp pháp của ông bà;
- Không có người bị loại khỏi
quyền hưởng di sản;
- Không có người từ chối nhận di
sản;
thì về nguyên tắc, di sản của ông bà được chia theo 06 suất tương ứng
với 06 người con, chứ không phải chỉ chia thành 03 suất cho 03 người con
trai.
Việc ba người con gái đã lấy chồng không làm mất quyền thừa kế
của họ.
3. Người con trai thứ hai chết
trước ông bà
Nếu người con trai thứ hai chết trước ông bà, thì con của người
này được hưởng thừa kế thế vị.
Theo Điều 652 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13:
Trường
hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để
lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng
nếu còn sống.
Trong trường hợp này, cách chia về nguyên tắc là:
- Con trai thứ nhất: 01 suất;
- Con trai thứ ba: 01 suất;
- Ba người con gái: mỗi người 01
suất;
- Phần 01 suất của người con
trai thứ hai: do các con của người này hưởng thế vị.
Nếu người con trai thứ hai chỉ có một người con thì người con đó có thể
hưởng toàn bộ suất của cha mình. Nếu có nhiều người con thì các con cùng chia
đều suất thừa kế thế vị đó.
Do đó, người cháu có quyền yêu cầu chia di sản nếu cha của người
cháu đã chết trước hoặc cùng thời điểm với ông bà. Nội dung này cũng được giải
thích tại Câu hỏi 4 Công văn 1476/VKSTC-V9.
Ví dụ
Giả sử di sản ròng của ông bà là 600 triệu đồng và có 06 suất thừa kế:
- Mỗi suất là 600 triệu đồng : 6
= 100 triệu đồng;
- Mỗi người con gái được 100
triệu đồng;
- Hai người con trai còn sống,
mỗi người được 100 triệu đồng;
- Người con trai thứ hai được
thay thế bằng người con của mình, người cháu được 100 triệu đồng nếu là
con duy nhất.
Nếu người con trai thứ hai có 02 người con thì mỗi người cháu được 50
triệu đồng.
4. Người con trai thứ hai chết sau
ông bà
Nếu người con trai thứ hai còn sống tại thời điểm ông bà qua đời thì
quyền hưởng di sản của người này đã phát sinh.
Theo Điều 613 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, người thừa kế phải là người còn sống tại thời điểm mở thừa kế.
Khi đó:
1.
Di sản của ông bà trước hết được
chia cho 06 người con, trong đó người con trai thứ hai được hưởng 01 suất;
2.
Sau khi người con trai thứ hai chết,
suất thừa kế mà ông ấy nhận hoặc đáng lẽ được nhận sẽ trở thành di sản của
chính ông ấy;
3.
Phần này tiếp tục được chia cho
những người thừa kế của người con trai thứ hai, chẳng hạn như vợ, các con và
cha, mẹ của ông ấy nếu những người này còn sống tại thời điểm ông ấy chết.
Nội dung này phù hợp với hướng dẫn tại Câu hỏi 4 Công văn 1476/VKSTC-V9.
Vì vậy, nếu người con trai thứ hai chết sau ông bà thì người cháu không
đương nhiên được hưởng toàn bộ suất của cha. Cần xác định những người thừa
kế của người con trai thứ hai để chia tiếp.
Nếu người con trai thứ hai chết sau người ông nhưng trước người bà, hoặc
ngược lại, thì phải lập thành từng thời điểm mở thừa kế và tính riêng phần di
sản của từng người.
5. Việc không phụng dưỡng ông bà có
làm mất quyền thừa kế không?
Theo khoản 2 Điều 71 Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13, con có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm
đau, già yếu; nếu gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc,
nuôi dưỡng cha mẹ.
Bên cạnh đó, điểm b khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 quy định người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại
di sản có thể không được quyền hưởng di sản.
Tuy nhiên, cần phân biệt:
- Chỉ đi nơi khác sinh sống;
- Không ở chung với ông bà;
- Không trực tiếp chăm sóc;
- Không thường xuyên gửi tiền
phụng dưỡng;
không đồng nghĩa đương nhiên với việc bị mất quyền thừa kế.
Muốn loại một người khỏi quyền hưởng di sản phải có căn cứ chứng minh
hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng. Việc này cần xem xét
hoàn cảnh cụ thể, tình trạng sức khỏe của ông bà, khả năng chăm sóc của người con,
mức độ bỏ mặc và chứng cứ do các bên cung cấp.
Việc gia đình người con trai thứ hai có đóng góp tiền lo hậu sự cũng
không làm phát sinh thêm một suất thừa kế. Khoản tiền mai táng hợp lý có thể
được thanh toán từ di sản trước khi chia, nhưng không thể dùng việc đóng góp đó
để yêu cầu chia 03 phần cho 03 người con trai.
6. Người cháu có quyền tự mình khởi
kiện không?
Nếu cha của người cháu chết trước hoặc cùng thời điểm với ông bà, người
cháu là người hưởng thừa kế thế vị và có quyền yêu cầu chia di sản.
Nếu cha của người cháu chết sau ông bà, người cháu có thể yêu cầu chia
phần di sản mà cha mình đã được hưởng từ ông bà, nhưng cần xác định đầy đủ
những người thừa kế của cha.
Theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, thời hiệu yêu cầu chia di sản là:
- 30 năm đối với bất động sản;
- 10 năm đối với động sản;
tính từ thời điểm mở thừa kế.
Theo mục 1.2.1 phần II Hướng dẫn 24/HD-VKSTC, khi giải quyết tranh chấp phải xác định thời điểm người có tài sản
chết, thời điểm mở thừa kế, di sản, hàng thừa kế và thời hiệu khởi kiện.
7. Nếu tài sản là nhà, đất thì cần
làm rõ những gì?
Theo mục 1.2.2 phần II Hướng dẫn 24/HD-VKSTC, cần xác định:
- Tài sản có phải tài sản riêng
của ông hoặc bà không;
- Nếu là tài sản chung thì phần
của từng người là bao nhiêu;
- Nguồn gốc nhà, đất;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất;
- Diện tích thực tế;
- Quá trình quản lý, sử dụng;
- Có chuyển nhượng, tặng cho
hoặc biến động gì không;
- Ai đang quản lý tài sản;
- Công sức bảo quản, tôn tạo di sản;
- Chi phí mai táng, bảo quản và
các khoản chi hợp lý khác.
Nếu những người thừa kế không thể thống nhất chia bằng hiện vật, khoản 2 Điều 660 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 cho phép các bên thỏa thuận định giá, thỏa thuận người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật có thể được bán để chia giá trị.
Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng
Luật sư Triển Luật về vấn đề mà bạn yêu cầu. Nếu còn vướng mắc hoặc cần hỗ trợ
các vấn đề pháp lý khác, bạn vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa
chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TPHCM, số điện thoại
liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể.
Lĩnh vực Thừa kế - Di chúc
Không thể tìm thấy những gì bạn đang tìm kiếm?
Gửi một câu hỏi miễn phí trên diễn đàn công cộng của chúng tôi. Đặt một câu hỏi
Đặt câu hỏi- hoặc -
Tìm kiếm luật sư bằng cách đánh giá và xếp hạng..
Tìm kiếm luật sư
