Lê Thị Thu Hương
Tổng cộng: 659
-
Ủy quyền bất động sản
Xin chào luật sư, Tôi hiện đang đứng tên sổ hồng (TP. Hồ Chí Minh). Năm 2024, tôi ủy quyền toàn bộ cho con gái tôi. Tôi xin hỏi như sau: 1. Địa chỉ nhà hiện đã thay đổi sau khi các địa phương lân cận sáp nhập vào TP. HCM, địa chỉ trên căn cước của tôi và con gái cũng thay đổi theo đó. Tôi có cần điều chỉnh hay làm lại ủy quyền không? 2. Tôi có thể bổ sung tên cháu ngoại (là con ruột của con gái tôi) vào ủy quyền này được không (cháu ngoại và con gái có quyền và nghĩa vụ như nhau). 3. Theo ủy quyền đã lập năm 2024, con gái tôi được phép ủy quyền cho bên thứ ba. Hiện con gái tôi đang sinh sống tại nước ngoài (vẫn còn quốc tịch VN), con gái tôi có thể đển sứ quán VN tại nước ngoài để làm ủy quyền được không? Xin cảm ơn quý luật sư. Trân trọng
Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời
Ủy quyền bất động sản
Chào bạn,
Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:
1. Về việc địa chỉ nhà và căn cước thay đổi do sáp nhập:
Việc thay đổi địa giới hành chính là sự kiện khách quan do quyết định của cơ quan nhà nước, không làm thay đổi bản chất ý chí hay năng lực chủ thể nên hợp đồng ủy quyền cũ vẫn giữ nguyên hiệu lực pháp luật.
Theo Công văn 1555/BCA-C06/2025, cơ quan công an sẽ tự động cập nhật, điều chỉnh thông tin về cư trú của công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư khi có quyết định sáp nhập địa giới hành chính, do đó công dân không cần thực hiện thủ tục điều chỉnh thông tin.
Đồng thời, theo khoản 21 Điều 13 Thông tư số 10/2024/TT-BTNMT, việc thay đổi tên đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính sẽ được ghi nhận cập nhật vào Giấy chứng nhận. Vì vậy, bạn không bắt buộc phải làm lại hợp đồng ủy quyền. Tuy nhiên, để quá trình giao dịch bất động sản diễn ra suôn sẻ, tránh bị cơ quan tiếp nhận hồ sơ bắt bẻ do sai lệch câu chữ, có thể chủ động lập văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng ủy quyền để cập nhật đúng địa chỉ mới.
2. Về việc bổ sung tên cháu ngoại vào hợp đồng ủy quyền:
Thứ nhất, về hình thức và thủ tục sửa đổi hợp đồng: Hợp đồng ủy quyền năm 2024 của bạn đã được công chứng, do đó, theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 53 Luật Công chứng năm 2024, việc bổ sung người được ủy quyền phải được lập thành văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng.
Quá trình này phải có sự thỏa thuận hoặc cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã ký kết hợp đồng ban đầu. Đồng thời, thủ tục công chứng văn bản sửa đổi, bổ sung này phải do công chứng viên của chính tổ chức hành nghề công chứng nơi đã thực hiện việc công chứng trước đó tiến hành (trừ trường hợp tổ chức này đã chấm dứt hoạt động, chuyển đổi hoặc giải thể thì công chứng viên của tổ chức đang lưu trữ hồ sơ công chứng sẽ thực hiện).
Thứ hai, về năng lực xác lập giao dịch của cháu ngoại:
Do nội dung ủy quyền có liên quan trực tiếp đến bất động sản, việc cháu ngoại có được tự mình ký kết hay không phụ thuộc vào độ tuổi theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015:
Trường hợp cháu chưa đủ 06 tuổi: Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự sẽ hoàn toàn do người đại diện theo pháp luật thay mặt thực hiện.
Trường hợp cháu từ đủ 06 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi: Khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự bắt buộc phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.
Trường hợp cháu từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi: Cháu được quyền tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, nhưng do đây là giao dịch liên quan đến bất động sản nên vẫn bắt buộc phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.
3. Về việc ủy quyền lại tại Đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài:
Theo khoản 1 Điều 564 Bộ luật Dân sự 2015, bên được ủy quyền chỉ được ủy quyền lại cho người khác khi có sự đồng ý của bên ủy quyền hoặc thuộc trường hợp do sự kiện bất khả kháng theo quy định của pháp luật. Đồng thời, khoản 2 Điều này quy định việc ủy quyền lại không được vượt quá phạm vi ủy quyền ban đầu và khoản 3 quy định hình thức của hợp đồng ủy quyền lại phải phù hợp với hình thức của hợp đồng ủy quyền ban đầu.
Trong trường hợp của bạn, theo thông tin cung cấp, hợp đồng ủy quyền năm 2024 đã ghi nhận con gái bạn được quyền ủy quyền cho bên thứ ba, nên về nguyên tắc, con gái bạn có thể thực hiện việc ủy quyền lại trong phạm vi đã được bạn cho phép.
Có thể đến cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài để làm thủ tục ủy quyền lại cho bên thứ ba thực hiện giao dịch bất động sản tại Việt Nam. Căn cứ khoản 1 Điều 73 Luật Công chứng số năm 2024, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự ở nước ngoài được quyền công chứng “các loại văn bản ủy quyền”.
Quy định này chỉ hạn chế các cơ quan trên không được công chứng trực tiếp các hợp đồng định đoạt bất động sản tại Việt Nam (như mua bán, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp...), nhưng không cấm công chứng văn bản ủy quyền để giao cho người khác thực hiện các hợp đồng đó.
Về thủ tục thực hiện, do con gái bạn và bên thứ ba không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng, nên thực hiện như sau: Con gái bạn đến Đại sứ quán/Lãnh sự quán yêu cầu viên chức ngoại giao, lãnh sự chứng nhận việc đề nghị ủy quyền vào hợp đồng, sau đó gửi bản gốc về Việt Nam; bên thứ ba mang bản gốc này đến tổ chức hành nghề công chứng tại Việt Nam yêu cầu chứng nhận tiếp việc chấp nhận ủy quyền vào bản gốc đó để hoàn thành thủ tục hoặc tùy theo hướng dẫn của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại và tổ chức hành nghề công chứng tại Việt Nam để thực hiện.
Để tư vấn cụ thể hơn, bạn vui lòng cung cấp và làm rõ các thông tin sau:
1. Hợp đồng ủy quyền năm 2024 của bạn được công chứng hay chỉ chứng thực chữ ký?
2. Cháu ngoại hiện bao nhiêu tuổi?
3. Bạn mong muốn bổ sung cháu ngoại thành người được ủy quyền cùng với con gái (cả hai cùng có quyền thực hiện công việc được ủy quyền), hay muốn con gái chuyển toàn bộ quyền cho cháu ngoại?
4. Con gái bạn đang cư trú tại quốc gia nào?
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
-
Huỷ hợp đồng gym và chấm dứt khoản vay
Em chào anh/chị. Vào ngày 12/04/2025, em có đăng ký một gói tập tại Shefit Gym với tổng giá trị 24 triệu đồng. Phía phòng gym hướng dẫn em thanh toán bằng hình thức trả góp qua Ngân hàng Việt Tín trong thời hạn 3 năm. Tại thời điểm ký hợp đồng, em chỉ hiểu đơn giản đây là hình thức trả góp tiền tập theo từng tháng. Em không được tư vấn rõ rằng bản chất đây là một khoản vay tín dụng, cũng như những nghĩa vụ và rủi ro phát sinh khi ký hợp đồng vay với ngân hàng. Do còn thiếu hiểu biết và tin tưởng vào lời tư vấn của nhân viên nên em đã ký. Sau một thời gian, khi tìm hiểu kỹ hơn về hình thức này, em mới biết đây là khoản vay tín dụng và dù không tiếp tục tập thì vẫn có thể phải thanh toán đầy đủ cho ngân hàng. Hiện tại em không còn nhu cầu sử dụng dịch vụ, đồng thời cũng không muốn tiếp tục gánh khoản vay này vì vượt quá khả năng tài chính của em. Em đã liên hệ với phía phòng gym để mong được hỗ trợ chấm dứt hợp đồng, tuy nhiên đến nay vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng. Em muốn hỏi anh/chị và các anh/chị có kinh nghiệm: * Trường hợp của em có thể yêu cầu hủy hợp đồng và chấm dứt khoản vay được không? * Nếu em chứng minh được mình không được tư vấn đầy đủ về bản chất của khoản vay tín dụng thì có cơ sở pháp lý nào để bảo vệ quyền lợi của mình không? * Em nên làm việc với phòng gym, Ngân hàng Việt Tín hay cơ quan nào trước để có hướng giải quyết phù hợp? * Có anh/chị nào từng gặp trường hợp tương tự với Shefit Gym hoặc các phòng gym khác và đã giải quyết thành công không? Mong mọi người chia sẻ kinh nghiệm giúp em. Em rất mong nhận được sự tư vấn và hỗ trợ. Em xin chân thành cảm ơn.
Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời
Huỷ hợp đồng gym và chấm dứt khoản vay
Dựa theo thông tin mà bạn cung cấp, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời như sau:
1. Có thể yêu cầu hủy hợp đồng và chấm dứt khoản vay được không? Cơ sở để bảo vệ quyền lợi
* Về việc hủy hợp đồng tập Gym
Tại điểm a Khoản 1 Điều 10 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng như sau:
1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh bị nghiêm cấm thực hiện các hành vi sau đây:
a) Lừa dối hoặc gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng thông qua việc cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ, không chính xác về một trong các nội dung sau đây: sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà tổ chức, cá nhân kinh doanh bán, cung cấp…”
Trong trường hợp của bạn, bạn không được tư vấn rõ rằng bản chất đây là một khoản vay tín dụng, cũng như những nghĩa vụ và rủi ro phát sinh khi ký hợp đồng vay với ngân hàng mà chỉ được hiểu rằng đây là hình thức trả góp tiền tập theo từng tháng, điều này đồng nghĩa với việc bên phía phòng gym đã tư vấn gây nhầm lẫn cho bạn về dịch vụ mà bên phía phòng gym đang bán, đã phạm vào điều cấm của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Tại Khoản 1 Điều 126 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“Điều 126. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn
1. Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.”
Tùy theo tình tiết cụ thể của sự việc mà Hợp đồng tập gym có thể bị vô hiệu một phần hoặc toàn phần do nhầm lẫn hoặc do lừa dối (Lừa dối là hành vi cố ý làm cho bạn hiểu sai lệch về nội dung giao dịch).
Tuy nhiên, để có thể chứng minh việc phía phòng gym đã không giải thích rõ ràng, gây nhầm lẫn cho bạn về khoản vay tín dụng, thì cần có những chứng cứ xác đáng như: Hợp đồng (đặc biệt phần giải thích khoản vay); Ghi âm / ghi hình buổi tư vấn (nếu có); Tin nhắn, email trao đổi với nhân viên gym; Căn cứ chứng minh bạn không tiếp tục sử dụng dịch vụ,...
* Về việc chấm dứt khoản vay:
Hợp đồng vay tín dụng là một hợp đồng dân sự có tính ràng buộc pháp lý. Khi bạn ký hợp đồng vay trả góp với Ngân hàng Việt Tín để thanh toán gói tập gym, bạn đã phát sinh nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng vay tín dụng đó.Việc hủy hợp đồng dịch vụ (hợp đồng tập gym) và chấm dứt khoản vay tín dụng là hai vấn đề pháp lý khác nhau.
Hủy hợp đồng tập gym có thể được thực hiện nếu có căn cứ pháp lý hoặc thỏa thuận giữa bạn và phòng gym, nhưng khoản vay tín dụng với ngân hàng vẫn phải được thực hiện theo hợp đồng vay đã ký. Nếu bạn không tiếp tục sử dụng dịch vụ tập gym nhưng vẫn còn khoản vay tín dụng, bạn vẫn có nghĩa vụ trả nợ đầy đủ cho ngân hàng theo hợp đồng vay.
2. Nên làm việc với ai trước?
- Phòng gym (Shefit Gym): Gửi đơn yêu cầu chấm dứt hợp đồng bằng văn bản (gửi qua email + bưu điện có xác nhận). Yêu cầu họ phối hợp với ngân hàng để tất toán sớm và miễn trừ lãi phạt.
- Ngân hàng Việt Tín: Liên hệ trực tiếp bộ phận tín dụng tiêu dùng, cung cấp bằng chứng bị tư vấn sai. Yêu cầu tái cấu trúc khoản vay hoặc miễn giảm lãi phạt do lỗi tư vấn từ đối tác (gym).
- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền:
+ Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia thuộc Bộ Công Thương;
+ Sở Công Thương tại địa phương;
+ Hội Bảo vệ Người tiêu dùng Việt Nam.
Lưu ý: Không ngừng thanh toán đột ngột để tránh nguy cơ bị nợ xấu
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
-
Thẩm mỹ viện
Dạ em có một chuyện muốn đc mn tvan và giải đáp giúp em ạ Chuyện là e hiện đang sinh sống ở nc ngoài và có về Việt Nam! Chơi vài tháng trước, em có qua bên một viện thẩm mỹ để làm gói dịch vụ giảm mỡ đùi. Chi phí em làm dịch vụ tổng cộng 148 triệu đồng, và bây giờ không có kết quả như họ đã cam kết. 2 tuần qua e vừa phát hiện họ đã bị đóng cửa và đã chặn hết zalo liên lạc với em như muốn trốn tránh trách nhiệm. Hợp đồng thì không đưa ra kết quả như cam kết trong hợp đồng, em còn tất cả nhữg chứng cứ và tin nhắn. Sau khi em có tìm hiểu rất nhiều người viết review nói họ lừa đảo và e đã liên lạc đc 1 bạn nvien hỗ trợ nhưng chỉ muốn hoàn lại em 25%. Em nghĩ số tiền đó không xứng đáng với kết quả họ đã đưa ra. Em muốn tố cáo để có thể lấy lại hoàn toàn số tiền hoặc nhiều hơn số họ đưa ra thì liệu có được không ạ? Hay em phải làm như thế nào đề lấy lại đc nhiều hơn chút ạ. Em không biết luật Việt Nam như thế nào nên củng rất hoang mang. Em mong sẽ có các luật sư tvan giúp em để hiểu rõ hơn về vấn đề trước khi em quyết định bỏ thêm 1 số tiền lớn để bay về Việt Nam để tố cáo ạ. Em cảm ơn
Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời
Thẩm mỹ viện
Chào bạn,
Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:
1. Quyền của người tiêu dùng
Căn cứ vào Điều 4 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, bạn có các quyền sau:
5. Yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh bồi thường thiệt hại khi sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ không phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, không bảo đảm an toàn, đo lường, số lượng, khối lượng, chất lượng, công dụng, giá, nội dung khác theo quy định của pháp luật hoặc không đúng với đăng ký, thông báo, công bố, niêm yết, quảng cáo, giới thiệu, giao kết, cam kết của tổ chức, cá nhân kinh doanh.
7. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Trách nhiệm của cơ sở thẩm mỹ khi cung cấp dịch vụ không đúng cam kết
Theo Điều 36 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023:
1. Trong trường hợp cung cấp dịch vụ không đúng nội dung đã đăng ký, thông báo, công bố, niêm yết, quảng cáo, giới thiệu, giao kết, cam kết tại thời điểm dịch vụ đó được cung cấp, tổ chức, cá nhân kinh doanh có trách nhiệm thỏa thuận với người tiêu dùng để thực hiện một hoặc một số biện pháp khắc phục sau đây: a) Cung cấp lại dịch vụ; b) Tiếp tục cung cấp dịch vụ nhưng không thu tiền hoặc giảm giá đối với phần dịch vụ đã cung cấp; c) Chấm dứt việc cung cấp dịch vụ và hoàn tiền cho người tiêu dùng; d) Biện pháp khác theo thỏa thuận của các bên.
3. Người tiêu dùng có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp dịch vụ cung cấp không đúng nội dung đã đăng ký, thông báo, công bố, niêm yết, quảng cáo, giới thiệu, giao kết, cam kết gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
5. Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Về mức bồi thường
Bạn có quyền yêu cầu hoàn trả toàn bộ số tiền đã thanh toán nếu dịch vụ không đạt kết quả như cam kết, hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại phát sinh thêm (ví dụ: tổn thất sức khỏe, chi phí đi lại, tổn thất tinh thần…). Nếu phía thẩm mỹ viện chỉ hoàn lại 25% mà bạn không đồng ý, bạn có quyền không chấp nhận và yêu cầu mức bồi thường phù hợp hơn.
4. Cách thức thực hiện
- Bạn nên tập hợp đầy đủ các chứng cứ: hợp đồng, hóa đơn, tin nhắn, hình ảnh, video, các bài review, thông tin liên lạc với nhân viên, ...
- Gửi đơn khiếu nại trực tiếp đến cơ sở thẩm mỹ (nếu còn liên hệ được) hoặc gửi đơn đến cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương nơi cơ sở đặt trụ sở.
- Nếu không giải quyết được, bạn có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền tại Việt Nam để yêu cầu hoàn trả tiền và bồi thường thiệt hại.
5. Tóm lại các nội dung cần lưu ý:
- Nếu cơ sở đã đóng cửa, việc thu hồi tiền có thể gặp khó khăn, nhưng bạn vẫn nên thực hiện các bước pháp lý để bảo vệ quyền lợi.
- Với những thông tin bạn cung cấp thì chưa đủ căn cứ để khẳng định thẩm mỹ viện có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, nếu thẩm mỹ viện nhận tiền để thực hiện dịch vụ thẩm mỹ nhưng không thực hiện đúng nội dung đã cam kết, không đạt kết quả theo thỏa thuận và hiện có dấu hiệu né tránh trách nhiệm thì trước hết đây là tranh chấp hợp đồng dịch vụ và đồng thời là tranh chấp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định của pháp luật.
- Theo Điều 513 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán tiền dịch vụ.
Bên cạnh đó, theo Điều 517 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện công việc đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và các nội dung khác mà các bên đã thỏa thuận.
- Trường hợp bên cung ứng dịch vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết thì theo Điều 360 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm dân sự đối với việc vi phạm nghĩa vụ; đồng thời, theo Điều 13 Bộ luật Dân sự năm 2015, người có quyền dân sự bị xâm phạm có quyền yêu cầu bồi thường toàn bộ thiệt hại nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bạn còn được bảo vệ theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023. Cụ thể, khoản 5 Điều 4 quy định người tiêu dùng có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh bồi thường thiệt hại khi dịch vụ không đúng với nội dung đã giao kết, quảng cáo, giới thiệu hoặc cam kết. Đồng thời, khoản 7 Điều 4 cũng quy định người tiêu dùng có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Đặc biệt, điểm e khoản 1 Điều 10 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 nghiêm cấm tổ chức, cá nhân kinh doanh không hoàn trả tiền hoặc không bồi thường cho người tiêu dùng khi dịch vụ cung cấp không đúng với nội dung đã đăng ký, công bố, quảng cáo, giới thiệu, giao kết hoặc cam kết.
Như vậy, việc phía thẩm mỹ viện chỉ đề nghị hoàn lại 25% chi phí không đồng nghĩa bạn bắt buộc phải chấp nhận. Nếu bạn chứng minh được thẩm mỹ viện đã cung cấp dịch vụ không đúng với nội dung đã cam kết hoặc quảng cáo, bạn có quyền yêu cầu họ hoàn trả toàn bộ hoặc một phần chi phí và bồi thường thiệt hại (nếu có căn cứ chứng minh thiệt hại thực tế phát sinh). Việc có được hoàn lại toàn bộ 148 triệu đồng hay không sẽ phụ thuộc vào nội dung hợp đồng, các cam kết cụ thể, chứng cứ về chất lượng dịch vụ cũng như mức độ vi phạm của thẩm mỹ viện.
Về việc thẩm mỹ viện hiện đã đóng cửa và chặn liên lạc, đây là tình tiết cần được xác minh thêm. Nếu doanh nghiệp vẫn còn tồn tại nhưng cố tình trốn tránh nghĩa vụ thì bạn có thể yêu cầu giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật. Trường hợp qua xác minh có căn cứ cho thấy ngay từ đầu họ đã sử dụng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tiền của nhiều khách hàng thì khi đó mới có cơ sở để xem xét dấu hiệu của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Để tư vấn chính xác nhất, cần làm rõ thêm một số thông tin sau:
1) Hợp đồng hoặc tài liệu bạn ký với thẩm mỹ viện có ghi nhận cụ thể kết quả cam kết (ví dụ giảm bao nhiêu cm, đạt hiệu quả như thế nào hoặc cam kết hoàn tiền nếu không đạt kết quả) hay không?
2) Bạn đã hoàn thành toàn bộ liệu trình theo hướng dẫn của thẩm mỹ viện hay chưa? Sau khi kết thúc liệu trình có biên bản nghiệm thu hoặc đánh giá kết quả không?
3) Bạn còn lưu giữ những tài liệu nào như hợp đồng, hóa đơn, chứng từ chuyển tiền, tin nhắn tư vấn, hình ảnh trước và sau khi thực hiện dịch vụ hoặc các nội dung quảng cáo, cam kết của thẩm mỹ viện?
4) Hiện nay thẩm mỹ viện chỉ đóng cửa cơ sở kinh doanh hay doanh nghiệp đã giải thể, chấm dứt hoạt động? Bạn có xác định được tên pháp nhân hoặc người đại diện theo pháp luật của đơn vị này không?
5) Ngoài bạn, bạn có biết còn những khách hàng khác gặp tình trạng tương tự và đã có ai gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền hay chưa?Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
-
ĐÁNH NGƯỜI GÂY THƯƠNG TÍCH
Xin chào luật sư Cho e hỏi chồng cũ của e đánh người gây thương tích trong lúc uống rượu, dùng bát để đánh, có 2 người đánh, 2 người bị thương, thấy bên bị hại báo thương tích 19%, nhưng theo quan sát e thấy 1 người bị khâu ở mi mắt, 1 người bị gãy sống mũi thấy bảo đã mổ nội soi, bên bị hại đã khởi kiện, tòa đã gọi 2 lần nhưng chồng cũ e chưa về, hôm qua đã đi nói chuyện để bên bị hại rút đơn, bên bị hại đề xuất bồi thường 2 người là 250 triệu đồng, e xin hỏi luật sư có nên bồi thường số tiền trên không hay chờ phán quyết của tòa, vì số tiền 250 triệu đồng quá lớn, xin luật sư tư vấn giúp tôi phải xử lý như thế nào trong trường hợp này
Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời
ĐÁNH NGƯỜI GÂY THƯƠNG TÍCH
Chào bạn,
Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:
1. Trách nhiệm hình sự và dân sự
Theo thông tin bạn cung cấp, chồng cũ của bạn cùng một người khác dùng bát đánh 02 người trong lúc uống rượu, phía bị hại cho biết có kết quả giám định thương tích là 19%.
Căn cứ vào Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 22 Điều 1 Luật số 12/2017/QH14), hành vi cố ý gây thương tích với tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp này, tỷ lệ thương tật là 19% nên chồng cũ của bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích.
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%… thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”
Tuy nhiên, không chỉ căn cứ vào tỷ lệ thương tật 19% để xác định chính xác khung hình phạt. Cơ quan tiến hành tố tụng còn phải làm rõ các tình tiết như:
+ Tỷ lệ thương tật 19% là của một người bị hại hay là tổng tỷ lệ của cả hai người;
+ Người nào gây ra thương tích cho từng bị hại;
+ Chiếc bát được sử dụng có được xác định là hung khí nguy hiểm hay không;
+ Vai trò của từng người trong vụ việc (người khởi xướng, người thực hành, đồng phạm...).
Đây là những căn cứ quan trọng để xác định tội danh, khung hình phạt và trách nhiệm của từng người.
2. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại:
Bạn cho biết gia đình đã đến thương lượng để bên bị hại rút đơn.
Tuy nhiên, không phải mọi vụ án cố ý gây thương tích đều được đình chỉ nếu bị hại rút đơn.
Theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng hình sự có hiệu lực từ ngày 01/12/2021: “1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ Luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.”.
Trong vụ việc này, do hiện chưa có đầy đủ thông tin để xác định hành vi của chồng cũ bạn thuộc khoản nào của Điều 134 Bộ luật Hình sự (ví dụ có sử dụng hung khí nguy hiểm hay không, tỷ lệ thương tật của từng bị hại...), không thể khẳng định rằng chỉ cần bị hại rút đơn thì vụ án sẽ được đình chỉ.
Do đó, gia đình không nên hiểu rằng việc bồi thường và rút đơn chắc chắn sẽ làm chấm dứt trách nhiệm hình sự.
3. Có nên bồi thường theo yêu cầu của bị hại?
Căn cứ vào Điều 590 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015:
“1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. …phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”
Hiện nay, mức lương cơ sở từ ngày 01/07/2026 là 2.530.000 đồng/tháng (Điều 3 Nghị định 161/2026/NĐ-CP). Như vậy, mức bồi thường tối đa cho tổn thất tinh thần là 50 x 2.530.000 = 126.500.000 đồng/người. Theo đó:
- Số tiền 250 triệu đồng cho 2 người (tức 125 triệu
đồng/người) là mức tối đa mà pháp luật cho phép bồi thường tổn thất tinh
thần, chưa kể các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, phục hồi sức khỏe,
thu nhập bị mất, chi phí người chăm sóc…
- Nếu các khoản chi phí thực tế (hóa đơn viện phí,
chi phí điều trị, thu nhập bị mất…) cộng với khoản bồi thường tổn thất
tinh thần không vượt quá 125 triệu đồng/người thì mức yêu cầu này có thể xem là hợp lý. Nếu vượt quá, bạn có
quyền yêu cầu Tòa án xem xét lại.
- Nếu hai bên tự thỏa thuận được mức bồi thường và bị
hại rút đơn, Tòa án có thể xem xét miễn trách nhiệm hình sự hoặc giảm nhẹ
hình phạt cho chồng cũ của bạn theo Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung, cụ thể là tình tiết “người phạm
tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”.
4. Đề xuất:
- Bạn nên yêu cầu bên bị hại cung cấp đầy đủ hóa đơn, chứng từ chi phí điều trị, thu nhập bị mất, chi phí người chăm sóc… để đối chiếu với quy định pháp luật.
- Nếu mức bồi thường bị hại yêu cầu vượt quá quy định, bạn có quyền thương lượng lại hoặc đề nghị Tòa án xem xét, quyết định mức bồi thường phù hợp.
- Nếu hai bên thỏa thuận được mức bồi thường hợp lý, nên lập văn bản thỏa thuận và đề nghị bị hại rút đơn để được hưởng tình tiết giảm nhẹ.
- Nếu không thỏa thuận được, bạn có thể chờ phán quyết của Tòa án. Tòa sẽ căn cứ vào chứng cứ, hóa đơn, mức độ thương tật, thu nhập bị mất… để quyết định mức bồi thường phù hợp.
Do đó,
+ Với những thông tin bạn cung cấp, gia đình không nên vội chấp nhận ngay yêu cầu bồi thường 250 triệu đồng nếu chưa có căn cứ chứng minh thiệt hại thực tế. Trước hết nên yêu cầu bên bị hại cung cấp đầy đủ hồ sơ, chứng từ để xác định mức bồi thường phù hợp theo Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 và tiếp tục thương lượng trên cơ sở thiện chí.
+ Chồng cũ của bạn nên làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng và tích cực khắc phục hậu quả. Việc tự nguyện bồi thường là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng không đồng nghĩa với việc chắc chắn được miễn trách nhiệm hình sự hoặc vụ án sẽ chấm dứt, bởi điều này còn phụ thuộc vào tính chất vụ án và quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại.
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
- Số tiền 250 triệu đồng cho 2 người (tức 125 triệu
đồng/người) là mức tối đa mà pháp luật cho phép bồi thường tổn thất tinh
thần, chưa kể các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, phục hồi sức khỏe,
thu nhập bị mất, chi phí người chăm sóc…
-
Ngày nhận lương
Em đang làm parttime và nơi này không có hợp đồng, ngày nhận lương hàng tháng của em thường sẽ là ngày 8 mỗi tháng, mặc dù không có hợp đồng nhưng em vẫn làm đúng quy định đề ra là nếu xin nghỉ phải xin trước 1 tháng. Thời điểm em thông báo xin nghỉ là 22/6 và xin được nghỉ vào 25/7 nhưng vì vài lí do cảm xúc cá nhân chủ lại tự ý cho em nghỉ khi em làm hết tháng 6 và trên tin nhắn bảo rằng lương sẽ được nhận vào tháng tiếp theo. Theo suy nghĩ của em thì tức nghĩa em sẽ được nhận lương vào 8/7 nhưng khi em hỏi về vấn đề nhận lương chủ lại trả lời là 8/8 em mới được nhận và đặt câu hỏi rằng em đã đọc nội quy thông tin chưa, (đây là bảng nội quy mới [chỉ mới được tạo ra hoặc sửa lại em không rõ vào ngày 20/6] vì lúc vào làm em không hề được thông tin về bản nội quy này, và khi gửi bảng nội quy mới chỉ kèm nội dung kêu nhân viên đọc lại chứ không hề nói rõ ngày áp dụng). Thì ở bản nội quy mới ghi là “Trường hợp nghỉ có xin phép, lương sẽ thanh toán vào tháng tiếp theo sau ngày trả lương, 30 ngày”. Thì cho em hỏi theo nội dung bảng nội quy thì ngày nhận lương đúng của em sẽ là 8/7 hay 8/8 vậy ạ ? Vì em thấy chủ đã cung cấp thông tin bảng lương tháng 6 cho em nên em nghĩ ngày 8/7 em sẽ được nhận nhưng họ lại nói là 8/8 mới được nhận, trong khi đó trước khi em nghỉ có 2 bạn nhân viên đã nghỉ ( nghỉ trước khi có bản quy định mới) thì đều được nhận lương đúng vào tháng tiếp theo nhưng em lại bị dời qua tháng kế tiếp là tháng 8. Liệu em có đang hiểu sai nội dung bảng lương không ạ hay do chủ muốn ngâm lương của em ạ :( ? Khi em muốn chủ giải thích dùm em lí do tại sao thì chỉ nhận được câu trả lời qua loa chứ không thèm giải thích rõ, chủ còn nói là tại sao không thắc mắc lúc mới ra quy định mà bây giờ mới thắc mắc và những vụ việc cũ chủ có giải thích tụi em cũng không nghe mặc dù tụi em không hề như vậy, và thắc mắc cuối cùng của em là việc áp dụng quy định mới cho nhân viên cũ cũng như không nói rõ ngày áp dụng là vẫn đúng hay sai ạ ? Mong nhận được câu trả lời từ mọi người, em cảm ơn ạ
Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời
Ngày nhận lương
Chào bạn,
Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:
Căn cứ vào Điều 97 Bộ Luật lao động năm 2019 quy định về kỳ hạn trả lương như sau:
1. Người lao động hưởng lương theo giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 15 ngày phải được trả gộp một lần.
2. Người lao động hưởng lương theo tháng được trả một tháng một lần hoặc nửa tháng một lần. Thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và phải được ấn định vào một thời điểm có tính chu kỳ.
Ngoài ra, về nguyên tắc trả lương theo khoản 1 Điều 94 và khoản 4 Điều 97 Bộ Luật lao động năm 2019 thì: Người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.
Về việc áp dụng nội quy lao động mới có hiệu lực từ ngày 20/6 (theo thông tin bạn cung cấp) mà không thông báo rõ ngày áp dụng, thì theo quy định tại Điều 69 Nghị định 145/2020/NĐ-CP về nội quy lao động:
+ Người sử dụng lao động phải ban hành nội quy lao động, nếu sử dụng từ 10 người lao động trở lên thì nội quy lao động phải bằng văn bản.
+ Trước khi ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung nội quy lao động, người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở (nếu có).
+ Nội quy lao động sau khi ban hành phải được gửi đến từng tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở (nếu có) và thông báo đến toàn bộ người lao động, đồng thời niêm yết nội dung chính ở những nơi cần thiết tại nơi làm việc.
Như vậy, việc áp dụng nội quy lao động mới mà không thông báo rõ ngày áp dụng cho người lao động là không đúng quy định về thủ tục ban hành và thông báo nội quy lao động.
Về nội dung quy định trong nội quy mới: “Trường hợp nghỉ có xin phép, lương sẽ thanh toán vào tháng tiếp theo sau ngày trả lương, 30 ngày” thì có thể hiểu là:
+ Nếu ngày trả lương định kỳ là ngày 8 hàng tháng, thì lương của tháng làm việc cuối cùng sẽ được trả vào ngày 8 của tháng tiếp theo sau 30 ngày kể từ ngày trả lương đó, tức là ngày 8 tháng kế tiếp nữa (tức là 2 tháng sau ngày làm việc cuối cùng).
+ Điều này có nghĩa là nếu bạn nghỉ việc trong tháng 6, lương tháng 6 sẽ được trả vào ngày 8/8.
Tuy nhiên, việc này không phù hợp với nguyên tắc trả lương theo thỏa thuận và kỳ hạn trả lương đã nêu ở trên, đồng thời không phù hợp với thực tế là các nhân viên nghỉ trước khi có nội quy mới vẫn được nhận lương đúng tháng tiếp theo (nghĩa là ngày 8/7).
Do đó,
+ Việc chủ sử dụng lao động áp dụng quy định mới này cho bạn mà không thông báo rõ ràng, đồng thời kéo dài thời gian trả lương so với thỏa thuận và thực tế trước đó có dấu hiệu không đúng quy định và có thể là việc trì hoãn, ngâm lương.
+ Nếu bạn đã được thông báo, niêm yết công khai về nội quy mới trước khi nghỉ việc, và nội quy này có hiệu lực đúng quy trình, thì ngày nhận lương của bạn sẽ là 8/8.
+ Nếu bạn không được thông báo rõ ràng, nội quy không được niêm yết công khai hoặc không có hiệu lực tại thời điểm bạn nghỉ việc, thì bạn có quyền yêu cầu chủ trả lương vào ngày 8/7 theo quy định của pháp luật.
Tóm lại:
Vấn đề
Phân tích và quy định áp dụng
Kỳ hạn trả lương theo luật
Người lao động hưởng lương theo tháng được trả một tháng một lần hoặc nửa tháng một lần, thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và phải được ấn định có tính chu kỳ (Điều 97 BLLĐ năm 2019)
Nội quy lao động mới áp dụng
Nội quy lao động phải được thông báo rõ ràng, có thủ tục tham khảo ý kiến và thông báo đến người lao động (Điều 69 Nghị định 145/2020)
Nội dung quy định trả lương trong nội quy mới
Trả lương sau 30 ngày kể từ ngày trả lương định kỳ, tức là trả lương muộn hơn 1 tháng so với thỏa thuận và thực tế trước đó
Thực tế áp dụng
Nhân viên nghỉ trước khi có nội quy mới vẫn được trả lương đúng tháng tiếp theo, bạn bị trả muộn hơn 1 tháng
Kết luận
Việc áp dụng nội quy mới không thông báo rõ ràng và kéo dài thời gian trả lương có dấu hiệu không đúng quy định, có thể là trì hoãn, ngâm lương
Do đó, bạn có quyền yêu cầu chủ sử dụng lao động giải thích rõ ràng về việc áp dụng nội quy mới và thời điểm trả lương, đồng thời có thể khiếu nại hoặc nhờ cơ quan lao động can thiệp nếu thấy quyền lợi bị xâm phạm.
Ngoài ra, bạn cần lưu ý rằng dù không có hợp đồng lao động bằng văn bản, bạn vẫn là người lao động theo quy định tại Điều 2 BLLĐ năm 2019 và được bảo vệ quyền lợi theo pháp luật lao động.
Để làm rõ vấn đề tư vấn, bạn có thể cung cấp thêm các thông tin sau:
1) Khi bạn bắt đầu làm việc, hai bên có thỏa thuận (bằng lời nói, tin nhắn hoặc hình thức khác) về việc lương sẽ được trả vào ngày 08 hằng tháng hay không?
2) Bảng nội quy mới được gửi cho bạn vào thời điểm nào và chủ có thông báo rõ nội quy có hiệu lực từ ngày nào không?
3) Chủ sử dụng lao động có thông báo hoặc nêu lý do vì sao không cho bạn làm đến ngày 25/7 theo đơn xin nghỉ mà cho nghỉ ngay sau khi hết tháng 6 không?
4) Tiền lương tháng 6 của bạn đã được chủ chốt công, xác nhận số tiền phải trả hoặc gửi bảng lương cho bạn chưa?
5) Ngoài quy định trong nội quy mới, chủ có thông báo hoặc thỏa thuận riêng với bạn về việc lương tháng 6 sẽ được thanh toán vào ngày 08/8 thay vì ngày 08/7 không?
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
-
Chủ nhà không trả lại tiền cọc
Em thuê nhà ban đầu không có hợp đồng. Em đã ở 11 tháng, cọc 1 tháng, không nợ tiền nhà hay tiền điện nước. Lý do em chuyển đi là chủ nhà yêu cầu tăng giá giá điện nước, mức giá mới không phù hợp với em và việc tranh chấp tài chính khiến em không thoải mái để tiếp tục ở. Khi em báo chuyển đi chủ nhà mới nói yêu cầu phải ở đủ 1 năm và báo trước ít nhất 30 ngày mới trả cọc. Em đề nghị báo trước 30 ngày xin lại cọc hoặc có thể gửi trả lại em tiền cọc sau nhưng chủ nhà không đồng ý trả cọc. Hiện tại em phải làm sao và việc chủ nhà giữ tiền cọc của em vậy là đúng hay sai.
Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời
Chủ nhà không trả lại tiền cọc
Chào bạn,
Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:
Căn cứ Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về đặt cọc như sau:
1. Đặt cọc là việc một bên (bên đặt cọc) giao cho bên kia (bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc tài sản có giá trị trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả lại tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Đối chiếu với thông tin bạn cung cấp:
1. Bạn đã đặt cọc số tiền tương đương 01 tháng tiền thuê nhà.
2. Bạn đã thuê nhà và sinh sống được khoảng 11 tháng.
3. Bạn cho biết đã thanh toán đầy đủ tiền thuê nhà, tiền điện, nước và không còn nợ các khoản chi phí liên quan.
4. Lý do bạn chuyển đi là do chủ nhà tăng giá điện, nước khiến bạn không còn phù hợp để tiếp tục thuê. Đồng thời, khi bạn thông báo việc chuyển đi, chủ nhà mới cho rằng bạn phải ở đủ 01 năm và báo trước ít nhất 30 ngày thì mới được hoàn trả tiền cọc. Bạn cũng đã đề nghị báo trước 30 ngày hoặc chấp nhận nhận lại tiền cọc sau thời gian báo trước, tuy nhiên chủ nhà không đồng ý.
Theo quy định nêu trên, về nguyên tắc, khi hợp đồng đã được giao kết và các bên đã thực hiện nghĩa vụ thì tiền đặt cọc phải được hoàn trả hoặc được xử lý theo đúng thỏa thuận giữa các bên.
Do đó, việc chủ nhà có quyền giữ lại tiền cọc hay không sẽ phụ thuộc vào nội dung thỏa thuận giữa hai bên về điều kiện hoàn trả tiền cọc khi chấm dứt việc thuê nhà.
- Trường hợp giữa hai bên không có thỏa thuận (bằng văn bản hoặc bằng miệng) về việc người thuê phải thuê đủ 01 năm hoặc phải báo trước ít nhất 30 ngày mới được nhận lại tiền cọc thì việc chủ nhà từ chối hoàn trả tiền cọc chỉ vì bạn chuyển đi trước thời điểm đủ 01 năm là chưa có căn cứ.
- Ngược lại, nếu ngay từ thời điểm thuê nhà hai bên đã có thỏa thuận rõ về việc phải thuê đủ 01 năm hoặc phải báo trước 30 ngày, đồng thời có thỏa thuận về việc xử lý tiền cọc khi người thuê vi phạm các điều kiện này thì việc giữ lại tiền cọc sẽ được xem xét trên cơ sở nội dung thỏa thuận đó.
Bên cạnh đó, bạn cho biết lý do chuyển đi là do chủ nhà tăng giá điện, nước. Nếu việc tăng giá này không đúng với thỏa thuận ban đầu hoặc chủ nhà tự ý thay đổi đơn giá mà không có sự thống nhất của bạn thì đây cũng là tình tiết cần được xem xét khi đánh giá việc chấm dứt hợp đồng thuê và trách nhiệm của các bên.
Nếu chủ nhà vẫn không đồng ý hoàn trả tiền cọc và hai bên không thể tự thỏa thuận, bạn có thể:
1. Thương lượng, yêu cầu chủ nhà nêu rõ căn cứ của việc không hoàn trả tiền cọc.
2. Trường hợp không đạt được thỏa thuận, bạn có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết tranh chấp và buộc chủ nhà hoàn trả tiền cọc nếu có căn cứ.
Khi đó, bạn nên lưu giữ các chứng cứ như: tin nhắn trao đổi giữa hai bên, chứng từ chuyển khoản tiền cọc, tiền thuê nhà, các chứng từ thanh toán tiền điện, nước, tin nhắn về việc chủ nhà tăng giá điện, nước và các tài liệu khác liên quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Để có cơ sở đánh giá chính xác hơn, bạn vui lòng cung cấp thêm một số thông tin sau:
1. Khi bắt đầu thuê nhà, hai bên có thỏa thuận bằng miệng về thời hạn thuê là 01 năm hoặc điều kiện phải báo trước 30 ngày mới được hoàn trả tiền cọc hay không?
2. Chủ nhà thông báo tăng giá điện, nước như thế nào (tăng bao nhiêu và có thông báo trước hay không)? Bạn có lưu giữ tin nhắn hoặc tài liệu chứng minh việc này không?
3. Khi giao tiền cọc, bạn có giấy biên nhận, chứng từ chuyển khoản hoặc tin nhắn xác nhận việc đã đặt cọc hay không?
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
-
Bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Cách đây 2 năm tôi có ý định đi xklđ bên hồng kong và chuyển cho người ta số tiền 120tr , nhưng rồi người nhận tiền của tôi hết này đến lần khác, hết lý do này đến lý do khác, tôi k đi xklđ được và tôi đòi lại tiền, rất nhiều lần mỗi lần trả tôi đc 1trieu,2 triệu,5trieu và tổng thể đến nay còn 60trieu nữa thì tôi k liên lạc đc với người này nữa.tôi có tất cả bằng chứng chuyển tiền qua lại, biết địa chỉ liên lạc, bây giờ tôi phải làm j để lấy về số tiền đó.xin hãy chỉ dẫn giúp tôi,xin cảm ơn!
Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời
Bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Chào bạn,
Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:
1. Thu thập chứng cứ
Bạn đã có bằng chứng chuyển tiền, các tin nhắn, liên lạc, địa chỉ của người nhận tiền. Đây là những chứng cứ quan trọng để chứng minh việc chuyển tiền và hành vi không thực hiện đúng cam kết, có dấu hiệu lừa đảo.
2. Làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Bạn có quyền làm đơn tố cáo gửi đến cơ quan Công an nơi người nhận tiền cư trú hoặc nơi bạn sinh sống để yêu cầu điều tra, xử lý hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Căn cứ theo Điều174 BLHS 2015 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”
Hành vi của người nhận tiền không thực hiện đúng cam kết, chiếm đoạt số tiền của bạn có dấu hiệu phạm tội này.
3. Yêu cầu bồi thường thiệt hại
Khi tố cáo hành vi lừa đảo, bạn có quyền yêu cầu người có hành vi vi phạm bồi thường thiệt hại về vật chất (số tiền đã chuyển) và có thể cả thiệt hại tinh thần nếu có căn cứ chứng minh.
4. Theo dõi và phối hợp với cơ quan điều tra
Nộp đơn tố cáo lên cơ quan cảnh sát điều tra, sau khi nộp đơn tố cáo bạn cần phối hợp cung cấp thêm chứng cứ, làm việc với cơ quan điều tra để vụ việc được xử lý kịp thời.
Trong trường hợp cơ quan điều tra xác định chưa đủ căn cứ xử lý hình sự, bạn vẫn có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu người này hoàn trả số tiền còn thiếu là 60 triệu đồng và các khoản lãi (nếu có căn cứ chứng minh theo quy định của pháp luật).
Để có cơ sở đánh giá chính xác hướng xử lý, bạn vui lòng cung cấp thêm một số thông tin sau:
1. Người nhận tiền là cá nhân hay công ty/doanh nghiệp xuất khẩu lao động? Nếu là công ty thì việc chuyển tiền được thực hiện vào tài khoản công ty hay tài khoản cá nhân?
2. Khi chuyển tiền, hai bên có ký hợp đồng, giấy biên nhận, phiếu thu hoặc văn bản thỏa thuận nào về việc đi xuất khẩu lao động hay không?
3. Bạn còn giữ các tin nhắn hoặc tài liệu thể hiện người này thừa nhận còn nợ bạn 60 triệu đồng hoặc hứa sẽ tiếp tục trả tiền không?
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
-
Khởi kiện đòi nợ
Tôi cần họ trò Tư vấn khởi kiện đòi nợ
Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời
Khởi kiện đòi nợ
Chào bạn,
Để có thể tư vấn cụ thể trong trường hợp của bạn, vui lòng cho biết thêm các thông tin sau:1. Khoản nợ phát sinh từ giao dịch gì?
2. Số tiền còn nợ là bao nhiêu?
3. Khoản nợ đã đến hạn thanh toán chưa? Quá hạn từ khi nào
4. Hai bên có hợp đồng, giấy vay hoặc giấy xác nhận nợ hoặc thỏa thuận gì không?
5. Có chứng cứ như chuyển khoản, tin nhắn, hình ảnh hoặc ghi âm không?
6. Bạn có đầy đủ thông tin và địa chỉ của người nợ không?
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
-
Luật lao động về việc công ty cho thôi việc
Ngày 6 tháng 7 năm 2026, công ty cho team product giải thể và chỉ thông báo xuống lleader team và leader team trình bày lại bằng lời. Ngày 7 tháng 7 năm 2026, Kế toán có họp với em là về việc cho thôi việc, công ty sẽ sắp xếp công việc tới giữa tháng hoặc cuối tháng (là ngày 15 hoặc 30 tháng 7) và không có đền bù hay hỗ trợ tài chính nào, các phần còn thiếu công ty sẽ trả, phần việc sắp tới cũng không còn gì để làm và hợp đồng lao động đến hết tháng 9 là hết (hợp đồng 12 tháng) như vậy em có thể được bồi thường không ạ? Làm sao để nhận được mức bồi thường tốt nhất? Và làm sao để em có thể tự bảo vệ mình trước chiêu trò của công ty nhằm mục đích không phải bồi thường. Công ty có nói quy định là đi trễ hơn 30p sẽ trừ nữa ngày lương nhưng những tháng qua em đi trễ công ty bỏ qua và gọi là hỗ trợ nhân viên. Và nếu em ở lại làm hết tháng để nhận tiền lương tháng 7 thì có coi là đúng luật đôi bên không ạ. Mong luật sư hổ trợ em trong trường hợp này nên làm gì để không bị thiệt thòi ạ. Em cảm ơn
Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời
Luật lao động về việc công ty cho thôi việc
Chào bạn,
Dựa theo thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin đưa ra tư vấn như sau:
I. Cơ sở pháp lý
1. Về Hợp đồng lao động
- Căn cứ theo Khoản 1 Điều 45 Bộ Luật lao động 2019:
“Điều 45. Thông báo chấm dứt Hợp đồng lao động
1. Người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động về việc chấm dứt Hợp đồng lao động khi Hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định của Bộ luật này...”
Vậy, theo như những gì bạn cung cấp, phía công ty chỉ thông báo giải thể team product thông qua team leader và team leader trình bày lại bằng lời nói là hoàn toàn không phù hợp với quy định của pháp luật. Phía công ty phải thông báo bằng văn bản cho bạn, nêu rõ lý do chấm dứt hợp đồng và lí do đó phải đúng với quy định tại Điều 36 Bộ luật lao động 2019.
- Căn cứ theo Điều 36 Bộ Luật lao động 2019 thì người sử dụng chỉ được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng khi:
+ Người lao động không hoàn thành công việc theo Hợp đồng lao động;
+ Người lao động phạm lỗi nhiều lần đã bị nhắc nhở, khiển trách và/hoặc lập biên bản (có căn cứ chứng minh);
+ Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị từ 6-12 tháng liên tục hoặc quá nửa thời hạn Hợp đồng mà chưa hồi phục;
+ Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu;
+ Trường hợp bất khả kháng do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà phía công ty đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc.
Việc công ty giải thể team product (không phải do lỗi của người lao động, không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc có yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền) được xem là đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động trái với quy định của pháp luật, công ty buộc phải bồi thường cho bạn. Việc kế toán nói với bạn rằng không có đền bù hay hỗ trợ tài chính nào là trái với quy định của pháp luật.
2. Mức bồi thường
· Trường hợp bạn vẫn tiếp tục muốn làm việc tại công ty thì căn cứ theo Khoản 1 Điều 41 Bộ luật lao động 2019:
“Điều 41. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động trái pháp luật
Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.
Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong Hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung Hợp đồng lao động.”
Vậy, nếu bạn vẫn muốn và đồng ý tiếp tục làm việc tại công ty thì phía công ty phải nhận bạn trở lại làm việc theo như Hợp đồng lao động đã giao kết. Nếu không còn vị trí, công việc đã giao kết trong Hợp đồng lao động (do giải thể team) thì hai bên thỏa thuận, sửa đổi Hợp đồng lao động.
· Trường hợp bạn không muốn tiếp tục làm việc tại công ty hoặc công ty không muốn nhận lại bạn và bạn đồng ý thì căn cứ theo Khoản 2, 3 Điều 41 Bộ luật lao động 2019:
“Điều 41. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động trái pháp luật
…2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt Hợp đồng lao động.
3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo Hợp đồng lao động để chấm dứt Hợp đồng lao động.”
Tuy nhiên theo quy định tại Điều 46 và Điều 47 Bộ Luật lao động 2019 thì trợ cấp thôi việc/trợ cấp mất việc chỉ được trả cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, tại đây chúng tôi chưa được cung cấp thông tin rằng bạn đã làm việc cho công ty trong thời gian bao lâu nên chưa thể đưa ra khẳng định về trợ cấp thôi việc.
Trong trường hợp này, phía công ty phải trả cho bạn những khoản sau:
- Tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày bạn không được làm việc và trả thêm 02 tháng tiền lương;
- Tiền phép năm chưa nghỉ + thưởng (Nếu có)
- Trợ cấp thôi việc/mất việc (Nếu bạn đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên);
- Ít nhất 02 tháng tiền lương theo Hợp đồng lao động.
3. Về việc đi trễ
Căn cứ theo Khoản 2 Điều 127 Bộ luật lao động 2019:
“Điều 127. Các hành vi bị nghiêm cấm khi xử lý kỷ luật lao động
...2. Phạt tiền, cắt lương thay việc xử lý kỷ luật lao động.”
Vậy việc công ty nói có quy định đi trễ hơn 30 phút sẽ trừ nửa ngày lương là hành vi xử lý kỷ luật lao động bị cấm theo quy định của pháp luật. Công ty không được phép phạt tiền đối với bạn trong trường hợp này. Tuy nhiên trên thực tế, công ty không hề trừ lương bạn nên công ty cũng không vi phạm pháp luật.
4. Nếu ở lại làm hết tháng 7 thì có đúng luật không?
Trên thực tế, việc cho bạn thôi việc mới chỉ được thông báo bằng lời nói, chưa hề có bất cứ văn bản chính thức nào, vậy nên thì Hợp đồng lao động của bạn vẫn còn hiệu lực đến hết tháng 09/2026, việc bạn đi làm hết tháng 7 hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật và thỏa thuận của hai bên, công ty vẫn phải trả lương cho bạn theo thời gian đi làm thực tế
II. Việc bạn cần làm bây giờ
1. Thu thập chứng cứ:
- Ghi biên bản cuộc họp ngày 7/7 (nội dung, người tham gia, ngày giờ).
- Lưu lại tin nhắn, email, ghi âm, video về thông báo giải thể team và thôi việc.
- Bản sao Hợp đồng lao động, bảng lương các tháng trước, quy định nội bộ (về đi trễ).
- Chứng minh công ty từng "hỗ trợ" đi trễ (tin nhắn, email xác nhận).
2. Gửi yêu cầu bằng văn bản, trong đó yêu cầu phía công ty:
- Đưa ra thông báo chấm dứt Hợp đồng lao động chính thức bằng văn bản, nêu rõ lý do cụ thể.
- Yêu cầu thanh toán đầy đủ lương + bồi thường theo luật.
- Đề nghị thỏa thuận chấm dứt với mức bồi thường cụ thể
Lưu ý: Không kí vào biên bản thôi việc hoặc thỏa thuận có nội dung "tự nguyện nghỉ" hoặc từ bỏ quyền lợi.
3. Nếu không thể đạt được thỏa thuận
- Gửi đơn khiếu nại yêu cầu công ty giải thích lý do sa thải và bồi thường quyền lợi theo đúng quy định.
- Nộp đơn khiếu nại lên Sở Nội Vụ nơi công ty đặt trụ sở.
- Khởi kiện tại Tòa án nhân dân (thời hiệu 1 năm kể từ ngày bị vi phạm).
Trên đây là tư vấn của chúng tôi dựa trên thông tin mà bạn cung cấp, để có cơ sở tư vấn chính xác hơn, bạn vui lòng cung cấp thêm một số thông tin sau:
- Lý do vì sao Công ty lại giải thể team product? Có liên quan đến việc thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc lý do kinh tế của công ty không?
- Bạn đã làm việc cho Công ty trong thời hạn bao lâu? Kể từ ngày, tháng, năm nào?
- Team product của bạn có bao nhiêu người? Việc giải thể này khiến tất cả mọi người trong team đều phải nghỉ việc, hay có người được giữ lại/chuyển bộ phận khác?
- Trong buổi họp ngày 07/7/2026, ngoài Kế toán ra thì có còn ai khác không? Buổi họp có được lập thành biên bản họp không?
- Trong buổi họp ngày 7/7, Kế toán có cho bạn xem, hoặc có nhắc đến bất kỳ văn bản nào có tên là 'Phương án sử dụng lao động' hay Quyết định giải thể có của Giám đốc hay không?
- Trong quá trình làm việc, bạn có từng bị xử lý kỷ luật không? Nếu có thì xử lý về vấn đề gì?
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
-
Vi phạm quyền lao động
Em hiện là một idol livestream làm việc cho một công ty tại TP. Hồ Chí Minh. Em không ký hợp đồng lao động bằng văn bản với công ty mà chỉ được tham gia vào đại lý (agency) của công ty thông qua TikTok. Trong suốt thời gian làm việc, em luôn hoàn thành đầy đủ trách nhiệm, không đi trễ, không vi phạm KPI hay bất kỳ quy định nào của công ty. Hiện tại, em muốn nghỉ việc để theo đuổi cơ hội phát triển tại một công ty khác. Tuy nhiên, công ty không đồng ý cho em nghỉ và thông báo sẽ “giam đại lý” của em trong thời hạn 1 năm, khiến em không thể tiếp tục làm việc trong ngành. Công ty cũng không đưa ra lý do cụ thể hoặc căn cứ pháp lý rõ ràng cho việc này. Lý do em xin nghỉ là vì công ty không có sự đầu tư phù hợp về ý tưởng livestream, hình ảnh, trang phục và định hướng phát triển để phù hợp với hình tượng em đang theo đuổi. Khi em trao đổi về những vấn đề này, công ty cho biết sẽ hỗ trợ nhưng với điều kiện em phải chấp nhận giảm lương. Em cho rằng đây là yêu cầu không hợp lý nên không đồng ý. Em đã nhiều lần thiện chí đề nghị công ty giải quyết, cho em chấm dứt hợp tác và cấp giấy xác nhận nghỉ việc, nhưng công ty đều từ chối, đồng thời yêu cầu mọi việc phải được giải quyết theo “hợp đồng TikTok”, mặc dù giữa em và công ty không có hợp đồng lao động bằng văn bản. Điều em lo ngại nhất là tài khoản TikTok là công cụ lao động và cũng là nguồn thu nhập chính của em. Toàn bộ quá trình xây dựng hình ảnh, phát triển nội dung và kiếm thu nhập đều gắn liền với tài khoản này. Nếu công ty cố tình giữ đại lý hoặc sử dụng quyền quản lý đại lý để ngăn cản em sử dụng tài khoản nhằm kiếm thu nhập trong thời gian 1 năm thì điều đó gây thiệt hại rất lớn đến quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn việc làm và nguồn sống của em. Em muốn được tư vấn các vấn đề sau: 1. Trong trường hợp không có hợp đồng lao động bằng văn bản, công ty có quyền không cho em nghỉ việc và giữ đại lý TikTok của em trong thời hạn 1 năm hay không? 2. Nếu việc “giam đại lý” khiến em không thể tiếp tục sử dụng tài khoản TikTok để làm việc và tạo thu nhập, thì hành vi này có vi phạm quy định của pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của em hay không? 3. Nếu tài khoản TikTok là tài sản, công cụ tạo ra thu nhập của em, việc công ty cố tình giữ hoặc ngăn cản em khai thác tài khoản đó có thể được xem là hành vi xâm phạm quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản của cá nhân hay không? 4. Trong trường hợp này, em cần thực hiện những thủ tục gì và liên hệ cơ quan nào để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình?
Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời
Vi phạm quyền lao động
Chào bạn,
Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:
Thứ nhất, về việc không ký hợp đồng lao động bằng văn bản và quyền nghỉ việc
Cần xác định mối quan hệ giữa bạn và công ty là quan hệ lao động hay quan hệ hợp tác, bởi việc không ký hợp đồng lao động bằng văn bản không đồng nghĩa với việc giữa hai bên không tồn tại quan hệ lao động.
Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.
Theo khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019, nếu giữa các bên có thỏa thuận về việc làm có trả lương, tiền công và có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì dù hợp đồng được gọi bằng tên khác hoặc không được lập thành hợp đồng lao động bằng văn bản, vẫn có thể được xác định là hợp đồng lao động.
Điều 14. Hình thức hợp đồng lao động
Bên cạnh đó, theo Điều 14 Bộ luật Lao động năm 2019, hợp đồng lao động về nguyên tắc phải được giao kết bằng văn bản (trừ một số trường hợp luật cho phép giao kết bằng lời nói hoặc thông qua phương tiện điện tử).
Như bạn trình bày, trong quá trình làm việc bạn phải thực hiện KPI, tuân thủ quy định của công ty, được công ty quản lý và trả thu nhập. Nếu các yếu tố này được chứng minh thì có cơ sở để cơ quan có thẩm quyền xem xét xác định giữa bạn và công ty tồn tại quan hệ lao động.
Trường hợp được xác định là quan hệ lao động thì theo Điều 35 Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi đáp ứng điều kiện về thời hạn báo trước theo quy định. Người sử dụng lao động không có quyền buộc người lao động tiếp tục làm việc hoặc tự ý hạn chế quyền chuyển sang làm việc cho đơn vị khác nếu pháp luật hoặc thỏa thuận hợp pháp giữa các bên không có quy định.
Ngược lại, nếu cơ quan có thẩm quyền xác định đây là quan hệ hợp tác dân sự hoặc hợp đồng dịch vụ, thì quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ được giải quyết theo nội dung thỏa thuận đã giao kết và quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Khi đó, cần xem xét cụ thể các điều khoản trong hợp đồng hoặc thỏa thuận agency với công ty và chính sách của TikTok.
Thứ hai, về việc công ty giam đại lý khiến bạn không thể sử dụng tài khoản TikTok để làm việc và tạo thu nhập
Theo Điều 10 Bộ luật Lao động năm 2019 cũng ghi nhận người lao động có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp và nơi làm việc.
Do đó, nếu việc công ty giữ agency hoặc từ chối chuyển agency chỉ nhằm ngăn cản bạn tiếp tục hoạt động livestream, khiến bạn không thể sử dụng tài khoản TikTok để tạo thu nhập mà không có căn cứ pháp lý hoặc căn cứ hợp đồng hợp lệ, thì hành vi này có dấu hiệu xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bạn.
Tuy nhiên, hiện nay TikTok có cơ chế quản lý Agency và việc chuyển Agency có thể chịu sự điều chỉnh bởi chính sách của TikTok hoặc thỏa thuận giữa Agency và người sáng tạo.
Nếu công ty không chứng minh được căn cứ pháp lý hoặc căn cứ hợp đồng để giữ Agency trong thời hạn 01 năm thì việc hạn chế quyền làm việc và tạo thu nhập của bạn là không có cơ sở.
Thứ ba, về việc giữ hoặc ngăn cản bạn khai thác tài khoản TikTok có phải là hành vi xâm phạm quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản hay không
Pháp luật luật Việt Nam chưa có quy định xác định chính xác tài khoản mạng xã hội là một loại tài sản hay không theo BLDS năm 2015.
Tuy nhiên, nếu tài khoản TikTok do bạn trực tiếp tạo lập, đứng tên bạn, bạn là người xây dựng hình ảnh, nội dung, lượng người theo dõi và tài khoản này là nguồn tạo ra thu nhập chính thì quyền quản lý và khai thác tài khoản là quyền và lợi ích hợp pháp cần được bảo vệ.
Trong trường hợp công ty tự ý giữ quyền quản trị hoặc sử dụng quyền quản lý Agency để ngăn cản bạn khai thác tài khoản, gây thiệt hại đến hoạt động nghề nghiệp và thu nhập của bạn mà không có căn cứ hợp pháp, thì tùy từng trường hợp, bạn có thể yêu cầu: Chấm dứt hành vi cản trở; Khôi phục quyền quản lý hoặc quyền khai thác tài khoản (nếu thuộc quyền của bạn); Bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được thiệt hại thực tế phát sinh theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Việc này không đồng nghĩa với việc mặc nhiên được xác định là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo Luật Sở hữu trí tuệ. Chỉ khi có hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan hoặc các đối tượng được bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ thì mới áp dụng các quy định của luật này.
Thứ tư, về thủ tục và cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:
Để bảo vệ quyền lợi của mình, trước hết bạn nên thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ như: Tin nhắn, email hoặc thông báo giao việc; Quy định nội bộ, KPI, lịch livestream; Chứng từ trả lương, sao kê nhận tiền; Các thông báo của công ty về việc không cho nghỉ việc hoặc giữ Agency; Thỏa thuận Agency, hợp đồng hoặc điều khoản TikTok (nếu có); Chứng cứ thể hiện tài khoản TikTok do bạn quản lý, xây dựng và khai thác.
Sau đó, bạn có thể thực hiện theo trình tự sau:
1. Gửi văn bản yêu cầu công ty giải quyết việc chấm dứt hợp tác hoặc chấm dứt quan hệ lao động, đồng thời nêu rõ căn cứ pháp lý của việc phản đối quyết định giữ Agency.
2. Nếu giữa hai bên được xác định là quan hệ lao động và công ty không giải quyết, bạn có thể yêu cầu Hòa giải viên lao động giải quyết tranh chấp (đối với các trường hợp pháp luật quy định phải hòa giải trước), hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
3. Trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật lao động, bạn cũng có thể phản ánh đến cơ quan thực hiện chức năng thanh tra lao động theo quy định hiện hành để được xem xét, xử lý theo thẩm quyền.
Để có cơ sở tư vấn chính xác hơn, bạn vui lòng cung cấp thêm một số thông tin sau:
1. Khi tham gia làm việc với công ty, bạn có ký bất kỳ hợp đồng, thỏa thuận hợp tác, điều khoản Agency hoặc điều khoản điện tử nào với công ty hoặc TikTok không? Nếu có, nội dung về việc chấm dứt hợp tác và chuyển/giữ Agency được quy định như thế nào?
2. Trong quá trình làm việc, công ty có quản lý thời gian làm việc, giao KPI, chấm công, xử lý kỷ luật và trả lương định kỳ cho bạn hay không?
3. Tài khoản TikTok hiện do ai đứng tên đăng ký, ai giữ quyền đăng nhập, quyền xác minh và quyền quản trị tài khoản?
4. Công ty thông báo giam Agency trong 01 năm bằng văn bản, tin nhắn hay chỉ thông báo bằng lời nói?
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
