Nguyễn Văn Toàn
Tổng cộng: 270
-
Tôi muốn hoàn cọc
Tôi đặt cọc đất tại Phú Quốc Qua tìm hiểu vì bằng không thể mua bán công chứng. Tôi muốn hoàn cọc mà chủ đất nói khi nào bán được mới trả tôi
Luật sư Nguyễn Văn Toàn đã trả lời
Tôi muốn hoàn cọc
Chào Anh/Chị Đào Ngọc,
Qua nội dung Anh/Chị trình bày, tôi hiểu rằng Anh/Chị đã đặt cọc để mua đất tại Phú Quốc. Sau khi tìm hiểu, Anh/Chị cho rằng thửa đất hiện chưa đủ điều kiện để thực hiện việc mua bán, công chứng nên muốn lấy lại tiền cọc. Tuy nhiên, chủ đất cho rằng chỉ khi nào bán được đất mới trả lại tiền cọc. Tôi xin tư vấn như sau:
1. Anh/Chị có được yêu cầu hoàn lại tiền cọc không?
Điều này phụ thuộc trước hết vào nội dung giấy đặt cọc và nguyên nhân khiến giao dịch mua bán không thể thực hiện được.
Theo Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, tiền đặt cọc được sử dụng để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Nếu bên nhận đặt cọc từ chối giao kết hoặc thực hiện hợp đồng thì về nguyên tắc phải trả lại tiền đặt cọc và có thể phải trả thêm một khoản tương đương giá trị tiền đặt cọc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Tuy nhiên, nếu hai bên đã thỏa thuận rõ trường hợp nào được hoàn cọc, trường hợp nào mất cọc hoặc thời điểm hoàn cọc thì cần xem xét chính xác nội dung thỏa thuận đó.
Do đó, việc chủ đất nói “khi nào bán được mới trả” không đương nhiên có nghĩa Anh/Chị phải chờ đến khi họ bán được đất cho người khác. Chủ đất chỉ có thể đưa ra yêu cầu này nếu giữa hai bên thực sự có thỏa thuận như vậy hoặc có căn cứ pháp lý phù hợp.
2. Nếu đất thực sự không đủ điều kiện để mua bán thì sao?
Đây là vấn đề cần kiểm tra kỹ.
Việc Anh/Chị nghe nói “không thể mua bán công chứng” chưa đủ để kết luận hợp đồng mua bán chắc chắn không thể thực hiện. Cần xác định cụ thể vì sao thửa đất không thể chuyển nhượng.
Chẳng hạn, cần kiểm tra:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
Người đứng tên trên Giấy chứng nhận;
Tình trạng pháp lý của thửa đất;
Có đang tranh chấp, kê biên hoặc bị áp dụng biện pháp ngăn chặn hay không;
Có thuộc trường hợp bị hạn chế hoặc không được chuyển nhượng hay không;
Có vấn đề về quy hoạch, mục đích sử dụng đất hoặc điều kiện tách thửa hay không;
Nội dung cụ thể của giấy đặt cọc và điều kiện mà hai bên đã thỏa thuận.
Nếu nguyên nhân giao dịch không thể thực hiện xuất phát từ tình trạng pháp lý của đất hoặc lỗi của bên nhận cọc, đây có thể là căn cứ quan trọng để Anh/Chị yêu cầu chấm dứt thỏa thuận và hoàn trả tiền cọc, đồng thời xem xét yêu cầu phạt cọc nếu có căn cứ.
Ngược lại, nếu giao dịch không thực hiện được do nguyên nhân thuộc về Anh/Chị hoặc do hai bên đã thỏa thuận một cơ chế xử lý khác thì kết quả có thể khác.
3. Anh/Chị nên làm gì lúc này?
Trước tiên, Anh/Chị không nên chỉ thỏa thuận bằng lời nói với chủ đất về việc “khi nào bán được thì trả”.
Anh/Chị nên kiểm tra lại giấy đặt cọc và yêu cầu chủ đất giải thích bằng văn bản về:
Lý do hiện tại không thể công chứng/chuyển nhượng;
Căn cứ pháp lý của việc không thể giao dịch;
Số tiền chủ đất đang giữ;
Thời hạn và điều kiện hoàn trả tiền cọc.
Nếu Anh/Chị có căn cứ xác định giao dịch không thể thực hiện do lỗi hoặc tình trạng pháp lý của bên bán, Anh/Chị có thể gửi văn bản yêu cầu hoàn trả tiền cọc, ấn định thời hạn cụ thể để chủ đất thực hiện.
Nếu chủ đất vẫn không trả, Anh/Chị có thể xem xét khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc tại Tòa án có thẩm quyền, yêu cầu hoàn trả tiền cọc và phạt cọc/bồi thường thiệt hại nếu có đủ căn cứ.
👉 Do đó, Anh/Chị chưa nên chấp nhận việc phải chờ chủ đất bán được cho người khác mới được nhận lại tiền nếu trong giấy đặt cọc không có thỏa thuận như vậy.
Tuy nhiên, để xác định Anh/Chị có quyền lấy lại toàn bộ tiền cọc và có được yêu cầu phạt cọc hay không, cần xem trực tiếp giấy đặt cọc và giấy tờ pháp lý của thửa đất.
📌 Anh/Chị có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được hỗ trợ:
CÔNG TY LUẬT TNHH NT INTERNATIONAL LAW FIRM (NTLAW)Hotline: 090 252 4567Email: luatsu.toannguyen@gmail.comWebsite: congtyluatnt.vnChúng tôi có thể hỗ trợ Anh/Chị kiểm tra giấy đặt cọc, xác định tình trạng pháp lý của thửa đất, đánh giá căn cứ yêu cầu hoàn cọc/phạt cọc và tư vấn phương án làm việc hoặc khởi kiện nếu cần thiết.
Trân trọng,Luật sư Toàn NguyễnCÔNG TY LUẬT TNHH NT INTERNATIONAL LAW FIRM (NTLAW)⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung trả lời mang tính chất tham khảo, được xây dựng trên cơ sở thông tin do người hỏi cung cấp và quy định pháp luật tại thời điểm tư vấn. Quyền yêu cầu hoàn trả tiền cọc, phạt cọc và trách nhiệm của các bên phụ thuộc vào nội dung thỏa thuận đặt cọc, tình trạng pháp lý của thửa đất, nguyên nhân giao dịch không thực hiện được và các tài liệu, chứng cứ cụ thể của vụ việc.
-
Hỏi về vấn đề đòi vàng cưới
Trong quá trình chung sống trong hôn nhân, luôn bị mẹ chồng chửi và gây khó dễ, thậm chí bị đuổi ra khỏi nhà (có bằng chứng chứng minh), đe dọa có quyền đánh đập con dâu và bị giữ lại vàng cưới cho riêng con dâu và cho chung hai vợ chồng. Khi ly hôn thì chồng để trong đơn để nghị là không có tài sản chung để nhanh chóng ly hôn thì có được đòi lại số vàng cưới đã cho sau ly hôn không. Mong luật sư tư vấn giúp.
Luật sư Nguyễn Văn Toàn đã trả lời
Hỏi về vấn đề đòi vàng cưới
Chào Chị Minh Thư,
Qua nội dung Chị trình bày, tôi hiểu rằng trong thời gian chung sống, Chị thường xuyên bị mẹ chồng chửi mắng, gây khó dễ, thậm chí đuổi ra khỏi nhà và có những lời đe dọa đánh đập. Ngoài ra, mẹ chồng đang giữ số vàng cưới mà gia đình cho riêng Chị và số vàng cho chung hai vợ chồng. Hiện nay Chị và chồng đã/đang ly hôn, trong đơn chồng ghi không có tài sản chung để nhanh chóng giải quyết ly hôn. Chị muốn biết sau khi ly hôn có thể yêu cầu lại số vàng này hay không. Tôi xin tư vấn như sau:
1. Chị có thể yêu cầu giải quyết số vàng cưới hay không?
Có thể, nhưng cần xác định số vàng nào được tặng cho riêng Chị và số vàng nào được tặng cho chung hai vợ chồng.
Theo Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản được tặng cho riêng một bên vợ hoặc chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của người đó. Ngược lại, tài sản được tặng cho chung vợ chồng là tài sản chung của vợ chồng.
Do đó:
Nếu gia đình hai bên cho riêng Chị số vàng cưới và có căn cứ chứng minh đây là quà tặng riêng cho Chị thì về nguyên tắc đây là tài sản riêng của Chị;
Nếu vàng được tặng cho chung hai vợ chồng thì đây là tài sản chung và khi ly hôn sẽ được giải quyết theo quy định về chia tài sản chung;
Nếu không xác định rõ vàng được cho riêng hay cho chung thì cần xem xét lời khai của những người tặng, người chứng kiến, phong tục và hoàn cảnh tặng vàng, các tin nhắn, hình ảnh, video hoặc các chứng cứ khác.
Việc mẹ chồng đang giữ vàng không làm phát sinh quyền sở hữu của mẹ chồng đối với số vàng đó nếu có căn cứ xác định vàng được tặng cho Chị hoặc vợ chồng Chị.
2. Việc chồng ghi “không có tài sản chung” trong đơn ly hôn có làm Chị mất quyền yêu cầu số vàng không?
Không đương nhiên.
Nếu trong hồ sơ ly hôn, Chị không đồng ý với việc xác định vợ chồng không có tài sản chung, Chị cần thể hiện rõ ý kiến của mình với Tòa án và yêu cầu giải quyết tài sản theo quy định.
Theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình, khi ly hôn, nếu vợ chồng không thỏa thuận được về tài sản thì Tòa án giải quyết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của cả hai.
Do đó, việc chồng ghi trong đơn rằng “không có tài sản chung” chỉ là ý kiến của người chồng, không phải là căn cứ để tự động xác định rằng vợ chồng thực sự không có tài sản chung.
Tuy nhiên, Chị cần lưu ý: nếu Chị đã đồng ý với việc không yêu cầu giải quyết tài sản trong quá trình ly hôn và Tòa án đã giải quyết ly hôn mà không xem xét tài sản, việc yêu cầu giải quyết tài sản sau đó sẽ cần xem xét cụ thể nội dung bản án/quyết định ly hôn và tình trạng yêu cầu của Chị.
3. Nếu mẹ chồng giữ vàng thì Chị có thể yêu cầu mẹ chồng trả lại không?
Nếu có căn cứ chứng minh số vàng thuộc quyền sở hữu của Chị hoặc của vợ chồng Chị thì Chị có cơ sở yêu cầu người đang giữ tài sản trả lại tài sản.
Điểm quan trọng nhất lúc này là Chị cần chứng minh:
Có số vàng cưới cụ thể nào;
Số vàng đó được ai tặng;
Tặng cho riêng Chị hay tặng cho chung hai vợ chồng;
Ai là người trực tiếp nhận vàng tại thời điểm cưới;
Sau đám cưới, vàng được giao cho ai quản lý;
Hiện mẹ chồng đang giữ bao nhiêu vàng;
Có thỏa thuận nào về việc mẹ chồng giữ vàng hộ hay không.
Nếu có hình ảnh, video cưới, tin nhắn, ghi âm, người làm chứng hoặc các tài liệu thể hiện việc gia đình tặng vàng cho Chị thì Chị nên lưu giữ đầy đủ.
4. Chị nên làm gì nếu vụ án ly hôn chưa được giải quyết xong?
Nếu vụ án ly hôn chưa có bản án/quyết định có hiệu lực, Chị nên thông báo ngay cho Tòa án rằng Chị có tranh chấp về số vàng và yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết tài sản nếu đó là tài sản chung của vợ chồng.
Nếu số vàng được xác định là tài sản riêng của Chị nhưng hiện đang do mẹ chồng chiếm giữ thì Chị cũng cần trình bày rõ tình trạng tài sản và yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu của mình.
👉 Chị không nên chỉ chờ đến sau khi ly hôn mới xử lý nếu hiện tại vụ án vẫn đang được giải quyết, bởi việc xác định rõ yêu cầu về tài sản ngay trong quá trình tố tụng sẽ giúp hạn chế phát sinh một tranh chấp mới sau này.
Trường hợp Chị đã ly hôn và bản án/quyết định đã có hiệu lực, cần xem chính xác bản án/quyết định ghi nhận thế nào về phần tài sản để xác định bước tiếp theo.
5. Chị cần đặc biệt lưu ý về chứng cứ
Trong trường hợp này, câu hỏi quan trọng nhất không chỉ là “có được đòi vàng hay không” mà là có thể chứng minh số vàng đó được tặng cho ai và hiện đang thuộc quyền sở hữu của ai hay không.
Chị nên tập hợp:
Hình ảnh/video ngày cưới có thể hiện việc trao vàng;
Tin nhắn giữa Chị, chồng và gia đình hai bên về số vàng;
Người trực tiếp chứng kiến việc tặng vàng;
Danh sách hoặc ghi chép số vàng cưới nếu có;
Các nội dung thể hiện mẹ chồng đang giữ vàng;
Bản án/quyết định hoặc hồ sơ vụ án ly hôn;
Đơn ly hôn của chồng có nội dung xác nhận “không có tài sản chung”.
👉 Với trường hợp của Chị, nếu có căn cứ chứng minh vàng được tặng riêng cho Chị thì Chị có quyền yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu đối với số vàng đó. Nếu vàng được tặng cho chung hai vợ chồng thì có thể yêu cầu giải quyết phần tài sản chung khi ly hôn. Việc chồng ghi “không có tài sản chung” trong đơn không tự động làm mất quyền yêu cầu của Chị, nếu Chị không đồng ý với nội dung này.
📌 Chị có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được hỗ trợ:
CÔNG TY LUẬT TNHH NT INTERNATIONAL LAW FIRM (NTLAW)Hotline: 090 252 4567Email: luatsu.toannguyen@gmail.comWebsite: congtyluatnt.vnChúng tôi có thể hỗ trợ Chị kiểm tra hồ sơ ly hôn, đánh giá quyền sở hữu đối với số vàng cưới, rà soát chứng cứ và tư vấn phương án yêu cầu giải quyết tài sản trong vụ án ly hôn hoặc yêu cầu trả lại tài sản nếu phù hợp.
Trân trọng,Luật sư Toàn NguyễnCÔNG TY LUẬT TNHH NT INTERNATIONAL LAW FIRM (NTLAW)⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung trả lời mang tính chất tham khảo, được xây dựng trên cơ sở thông tin do người hỏi cung cấp và quy định pháp luật tại thời điểm tư vấn. Việc xác định số vàng là tài sản riêng, tài sản chung hay tài sản của người khác cần căn cứ vào nguồn gốc, mục đích tặng cho, thỏa thuận giữa các bên và các tài liệu, chứng cứ cụ thể của vụ việc.
-
Lừa đảo tiền trên mạng
Tôi tham gia vào một nhóm tiếp thị liên kết và bấm vào quay trúng thưởng và được giải nhất và được họ hướng dẫn nội dung phải nộp 6.000.000 VNĐ để kích hoạt tài khoản mới cho để nhận thưởng nhưng do tôi bấm nhầm mã họ lại bắt tôi nộp thêm 12.000.000 VNĐ nữa. sau đó tôi lại bấm sai số tài khoản họ lại hướng dẫn tôi nộp thêm 40.000.000 VNĐ nữa để khắc phục sau khi khắc phục xong lại bắt chuyển 90.000.000 VNĐ nữa mới nhận đc, sau khi chuyển khoản 90tr xong họ nói số tiền chị lớn phải nộp tiền thuế rồi mới được rút.Nhưng do tôi không có tiền nên tôi không nộp nữa. Sau đó tôi lên facebook C.ty Luật TNHH MTV Nam Sơn để hộ trở và thu hồi tiền gốc giúp tôi. Hóa ra tôi cũng bị lừa nộp hết khoản này đến khoản khác. Họ nói sẽ cộng dồn tiền nộp và tiền gốc. mỗi lần một số tiền gốc cứ tăng lên.
Luật sư Nguyễn Văn Toàn đã trả lời
Lừa đảo tiền trên mạng
Chào Chị Lê Thị Liên,
Qua nội dung Chị trình bày, tôi hiểu rằng Chị tham gia một nhóm tiếp thị liên kết trên mạng, sau đó được thông báo trúng thưởng và liên tục được yêu cầu chuyển tiền với nhiều lý do khác nhau như kích hoạt tài khoản, sửa lỗi mã, khắc phục lỗi tài khoản, nhận thưởng và cuối cùng là đóng thuế. Sau khi Chị không còn khả năng chuyển thêm tiền, Chị tiếp tục liên hệ một công ty luật trên Facebook để nhờ thu hồi tiền và lại được yêu cầu nộp thêm tiền với lý do sẽ cộng dồn vào khoản tiền gốc. Tôi xin tư vấn như sau:
1. Chị có dấu hiệu bị lừa đảo hay không?
Qua những thông tin Chị cung cấp, vụ việc có dấu hiệu rất rõ của thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng.
Việc đối tượng đưa ra thông tin về việc Chị “trúng thưởng”, sau đó liên tục yêu cầu chuyển tiền để kích hoạt, sửa lỗi, khắc phục tài khoản, nhận thưởng rồi nộp thuế là thủ đoạn thường được sử dụng để khiến nạn nhân tiếp tục chuyển tiền.
Đặc biệt, sau khi Chị đã chuyển các khoản 6 triệu đồng, 12 triệu đồng, 40 triệu đồng và 90 triệu đồng, nếu phía bên kia vẫn tiếp tục đưa ra những lý do mới để yêu cầu chuyển thêm tiền thì Chị không nên tiếp tục chuyển tiền, kể cả họ cam kết rằng đây là khoản cuối cùng hoặc sẽ hoàn trả toàn bộ tiền sau khi hoàn tất.
Tùy vào phương thức, thủ đoạn và chứng cứ thu thập được, cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét trách nhiệm hình sự của người thực hiện về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự.
2. Chị có nên tiếp tục nộp tiền cho bên “hỗ trợ thu hồi tiền” không?
Theo thông tin Chị cung cấp, Chị không nên tiếp tục chuyển tiền cho bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào chỉ với lý do muốn “kích hoạt”, “giải ngân”, “đóng thuế”, “xác minh”, “mở khóa” hoặc “cộng dồn tiền gốc” để được nhận lại tiền.
Đặc biệt, việc Chị vừa bị lừa bởi một nhóm người, sau đó lại tìm đến một tài khoản Facebook tự nhận là công ty luật để hỗ trợ thu hồi tiền và tiếp tục bị yêu cầu nộp tiền là tình tiết cần hết sức cảnh giác.
Chị nên xác minh độc lập tên doanh nghiệp, tư cách pháp lý, địa chỉ, luật sư phụ trách và hợp đồng dịch vụ trước khi giao thêm tiền hoặc giấy tờ.
Nếu bên nhận tiền thực sự là tổ chức hành nghề luật sư, việc cung cấp dịch vụ pháp lý cũng phải được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận dịch vụ rõ ràng. Không nên chỉ tin vào một tài khoản Facebook hoặc lời hứa “nộp thêm tiền thì sẽ thu hồi được toàn bộ tiền đã mất”.
3. Chị nên làm gì ngay lúc này?
👉 Trước hết, dừng toàn bộ việc chuyển tiền cho những người đang yêu cầu Chị nộp thêm tiền.
👉 Đồng thời, Chị cần bảo quản toàn bộ chứng cứ, đặc biệt:
Lịch sử giao dịch và sao kê ngân hàng;
Tên chủ tài khoản, số tài khoản, ngân hàng nhận tiền;
Toàn bộ tin nhắn, cuộc gọi và nội dung trao đổi;
Đường link website, nhóm Facebook, Zalo, Telegram hoặc các nền tảng mà Chị đã tham gia;
Tài khoản mạng xã hội của những người hướng dẫn Chị chuyển tiền;
Nội dung thông báo trúng thưởng và các yêu cầu chuyển tiền;
Toàn bộ nội dung trao đổi với bên tự nhận là công ty luật hỗ trợ thu hồi tiền;
Hợp đồng, giấy biên nhận hoặc chứng từ thanh toán nếu Chị đã ký hoặc chuyển tiền cho bên này.
Chị nên chụp màn hình và lưu giữ chứng cứ trước khi báo cáo hoặc yêu cầu các tài khoản xóa nội dung, bởi sau khi tài khoản hoặc bài viết bị xóa, việc thu thập chứng cứ có thể khó khăn hơn.
4. Chị có thể trình báo Công an để yêu cầu xử lý và thu hồi tiền không?
Có.
Chị nên nhanh chóng làm đơn tố giác tội phạm và gửi đến cơ quan Công an có thẩm quyền, kèm theo toàn bộ chứng cứ về việc chuyển tiền và quá trình trao đổi với các đối tượng.
Theo Bộ luật Tố tụng hình sự, tố giác, tin báo về tội phạm là một trong những căn cứ để cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, xác minh và giải quyết nguồn tin về tội phạm. (Hệ Thống Văn Bản)
Trong đơn, Chị nên trình bày toàn bộ diễn biến theo thứ tự thời gian, ghi rõ từng lần chuyển tiền, số tiền, tài khoản nhận tiền, lý do đối tượng đưa ra và những gì xảy ra sau mỗi lần chuyển khoản.
Nếu tiền đã được chuyển qua tài khoản ngân hàng, Chị cũng nên liên hệ ngay với ngân hàng của mình để thông báo giao dịch có dấu hiệu lừa đảo và đề nghị hỗ trợ xử lý theo quy trình của ngân hàng. Tuy nhiên, việc ngân hàng có thể thu hồi hoặc phong tỏa được tiền hay không còn phụ thuộc vào tình trạng dòng tiền và kết quả xác minh.
👉 Đối với số tiền Chị đã chuyển, không thể đảm bảo chắc chắn rằng sẽ thu hồi được toàn bộ, nhưng việc trình báo càng sớm và cung cấp đầy đủ thông tin tài khoản nhận tiền càng có ý nghĩa trong quá trình xác minh, truy tìm dòng tiền và xử lý người thực hiện hành vi.
5. Đối với khoản tiền đã chuyển cho bên tự nhận là công ty luật
Chị cũng nên tách riêng khoản tiền này để kiểm tra.
Nếu Chị đã chuyển tiền cho một tổ chức/cá nhân tự nhận là công ty luật để cung cấp dịch vụ pháp lý thì cần lưu lại toàn bộ thông tin giao dịch và xác minh chính xác đơn vị đó có tồn tại, có phải tổ chức hành nghề luật sư hợp pháp hay không, ai là người đại diện và nội dung dịch vụ đã thỏa thuận.
Nếu có dấu hiệu giả danh luật sư, giả danh công ty luật hoặc tiếp tục dùng thủ đoạn gian dối để yêu cầu Chị chuyển tiền thì Chị cũng cần cung cấp thông tin này cho cơ quan Công an để được xem xét.
👉 Tóm lại, Chị không nên chuyển thêm bất kỳ khoản tiền nào với lời hứa rằng đó là “khoản cuối cùng” để nhận lại tiền. Chị nên giữ nguyên toàn bộ chứng cứ, liên hệ ngân hàng ngay và trình báo cơ quan Công an càng sớm càng tốt.
📌 Chị có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được hỗ trợ:
CÔNG TY LUẬT TNHH NT INTERNATIONAL LAW FIRM (NTLAW)Hotline: 090 252 4567Email: luatsu.toannguyen@gmail.comWebsite: congtyluatnt.vnChúng tôi có thể hỗ trợ Chị rà soát diễn biến vụ việc, hệ thống hóa chứng cứ, xác định các dấu hiệu pháp lý và hỗ trợ soạn thảo đơn tố giác tội phạm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chị.
Trân trọng,Luật sư Toàn NguyễnCÔNG TY LUẬT TNHH NT INTERNATIONAL LAW FIRM (NTLAW)⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung trả lời mang tính chất tham khảo, được xây dựng trên cơ sở thông tin do người hỏi cung cấp và quy định pháp luật tại thời điểm tư vấn. Việc xác định tội danh, trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức liên quan và khả năng thu hồi tài sản phụ thuộc vào kết quả xác minh, điều tra, chứng cứ và tình tiết cụ thể của vụ việc.
-
cháu hị tạm giam 3 tháng
cháu em nó đi chung với băng nhóm chém ngta . nó k chém chỉ đi theo mà nay bắt tạm giam nó 3 tháng. vậy có xử đi tù nửa kh ạ
Luật sư Nguyễn Văn Toàn đã trả lời
cháu hị tạm giam 3 tháng
Chào Chị Quãng Thị Thanh Ngân,
Qua nội dung Chị trình bày, tôi hiểu rằng cháu của Chị đi cùng một nhóm người tham gia chém người khác, nhưng theo Chị thì cháu không trực tiếp chém, hiện nay cháu đã bị bắt và tạm giam 03 tháng. Chị muốn biết việc tạm giam này có đồng nghĩa với việc cháu chắc chắn sẽ bị phạt tù hay không. Tôi xin tư vấn như sau:
1. Bị tạm giam 03 tháng có đồng nghĩa với việc chắc chắn bị phạt tù không?
Không.
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, không phải là hình phạt tù. Việc một người bị tạm giam 03 tháng không đồng nghĩa với việc Tòa án đã xác định người đó có tội hoặc chắc chắn sẽ bị phạt tù.
Theo Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự, thời hạn tạm giam để điều tra được xác định tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tội phạm; đối với tội phạm nghiêm trọng, thời hạn tạm giam để điều tra ban đầu có thể lên đến 03 tháng.
Sau giai đoạn điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng mới tiếp tục xem xét việc truy tố và đưa vụ án ra xét xử. Tòa án sẽ căn cứ vào toàn bộ chứng cứ để xác định cháu Chị có phạm tội hay không và nếu có thì chịu trách nhiệm đến mức nào.
2. Cháu không trực tiếp chém người thì có bị xử lý hình sự không?
Việc cháu không trực tiếp cầm dao chém người là một tình tiết rất quan trọng, nhưng chưa thể khẳng định chỉ vì không trực tiếp chém nên cháu sẽ không bị xử lý hình sự.
Theo quy định về đồng phạm, một vụ án có thể có nhiều người cùng tham gia với những vai trò khác nhau, chẳng hạn người thực hành, người tổ chức, người xúi giục hoặc người giúp sức.
Do đó, cơ quan điều tra sẽ phải làm rõ:
Cháu có biết trước nhóm người sẽ đi đánh/chém người hay không;
Cháu đi cùng nhóm với mục đích gì;
Cháu có bàn bạc, thống nhất trước với những người khác hay không;
Cháu có mang theo hung khí hoặc đưa hung khí cho người khác hay không;
Cháu có giúp sức, cổ vũ, chặn đường hoặc tạo điều kiện để những người khác thực hiện hành vi hay không;
Cháu có trực tiếp tham gia đánh nhau hay thực hiện hành vi gây thương tích nào khác hay không;
Sau khi xảy ra vụ việc, cháu có hành vi giúp những người khác che giấu hoặc trốn tránh hay không.
👉 Vì vậy, “không chém” là một tình tiết có lợi nhưng chưa đủ để kết luận cháu không phạm tội. Điều quan trọng là phải xác định chính xác vai trò và mức độ tham gia của cháu trong toàn bộ vụ việc.
3. Nếu cháu có tham gia nhưng vai trò rất hạn chế thì có được xem xét giảm nhẹ không?
Có.
Nếu cơ quan tiến hành tố tụng xác định cháu có đồng phạm nhưng vai trò của cháu thấp hơn những người trực tiếp thực hiện hành vi chém người thì khi quyết định trách nhiệm hình sự, Tòa án phải xem xét tính chất, mức độ tham gia và mức độ đóng góp của từng người đồng phạm.
Vì vậy, gia đình cần tập trung làm rõ những tình tiết có lợi cho cháu, đặc biệt là việc cháu không trực tiếp sử dụng hung khí gây thương tích, không phải người khởi xướng, không tổ chức và không có hành vi thực hành gây thương tích, nếu những tình tiết này đúng với thực tế.
Nếu cháu có các tình tiết giảm nhẹ khác như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, nhân thân tốt hoặc có những tình tiết khác theo quy định thì cũng cần được cung cấp cho luật sư và cơ quan tiến hành tố tụng để xem xét.
4. Gia đình nên làm gì lúc này?
Vì cháu đang bị tạm giam và vụ án đang trong giai đoạn điều tra, gia đình nên mời luật sư tham gia càng sớm càng tốt, thay vì chờ đến khi vụ án được đưa ra xét xử.
Luật sư cần nghiên cứu quyết định khởi tố, quyết định tạm giam, nội dung vụ án và các chứng cứ để xác định cháu đang bị điều tra về tội danh nào, vai trò bị cáo buộc là gì và có căn cứ nào chứng minh cháu không trực tiếp thực hiện hành vi chém người.
Gia đình cũng nên cung cấp cho luật sư các tài liệu liên quan đến nhân thân của cháu và những chứng cứ có thể chứng minh cháu không trực tiếp chém, không bàn bạc hoặc không biết trước việc nhóm người sẽ sử dụng hung khí, nếu thực tế đúng như vậy.
👉 Do đó, việc cháu bị tạm giam 03 tháng chưa có nghĩa là cháu chắc chắn sẽ phải đi tù. Khả năng cháu có bị phạt tù hay không phụ thuộc vào tội danh bị truy cứu, chứng cứ chứng minh vai trò của cháu, mức độ tham gia và kết quả xét xử. Trong trường hợp này, việc xác định đúng vai trò của cháu trong nhóm là vấn đề đặc biệt quan trọng.
📌 Chị có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được hỗ trợ:
CÔNG TY LUẬT TNHH NT INTERNATIONAL LAW FIRM (NTLAW)Hotline: 090 252 4567Email: luatsu.toannguyen@gmail.comWebsite: congtyluatnt.vnChúng tôi có thể hỗ trợ gia đình kiểm tra quyết định khởi tố, quyết định tạm giam và hồ sơ vụ án, đánh giá vai trò của cháu trong vụ việc, xây dựng phương án bào chữa và cử luật sư tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu ngay từ giai đoạn điều tra.
Trân trọng,Luật sư Toàn NguyễnCÔNG TY LUẬT TNHH NT INTERNATIONAL LAW FIRM (NTLAW)⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung trả lời mang tính chất tham khảo, được xây dựng trên cơ sở thông tin do người hỏi cung cấp và quy định pháp luật tại thời điểm tư vấn. Việc xác định cháu có phạm tội hay không, tội danh, vai trò đồng phạm và hình phạt cụ thể phải căn cứ vào toàn bộ hồ sơ, chứng cứ và kết quả giải quyết của cơ quan tiến hành tố tụng.
-
Ly hôn thuận tình
Tôi và chồng ly hôn thuận tình. Tuy nhiên chồng tôi lại không muốn đi công chứng cccd thì phải làm sao ?
Luật sư Nguyễn Văn Toàn đã trả lời
Ly hôn thuận tình
Chào Chị Huỳnh Hà Uyễn Nhi,
Qua nội dung Chị trình bày, tôi hiểu rằng Chị và chồng đã thống nhất ly hôn thuận tình, tuy nhiên hiện nay chồng Chị không muốn thực hiện việc công chứng/chứng thực bản sao căn cước để hoàn thiện hồ sơ. Tôi xin tư vấn như sau:
1. Chồng không muốn “công chứng CCCD” thì có ly hôn thuận tình được không?
Về nguyên tắc, để Tòa án giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, cả vợ và chồng đều phải cùng yêu cầu và ký hoặc điểm chỉ vào đơn yêu cầu. Hồ sơ cũng phải có các tài liệu, chứng cứ cần thiết để Tòa án xác định nhân thân và giải quyết vụ việc.
Đối với giấy tờ tùy thân, trong thực tế hồ sơ thuận tình ly hôn thường có bản sao Căn cước công dân/Thẻ Căn cước của cả hai vợ chồng. Một số Tòa án yêu cầu bản sao có chứng thực để hoàn thiện hồ sơ.
Tuy nhiên, cần phân biệt “chứng thực bản sao CCCD” với việc phải đưa thẻ CCCD đi “công chứng”. Đây không phải là việc công chứng nội dung của thẻ căn cước.
Nếu chồng Chị chỉ không muốn đi chứng thực bản sao CCCD thì Chị nên hỏi trực tiếp Tòa án đang tiếp nhận hồ sơ xem có thể sử dụng bản sao kèm bản chính để đối chiếu hoặc hình thức xác minh nhân thân khác theo yêu cầu của Tòa hay không.
2. Nếu chồng không hợp tác thì Chị có thể tự mình làm thủ tục không?
Nếu chồng Chị vẫn đồng ý ly hôn nhưng chỉ không muốn đi chứng thực bản sao CCCD, đây trước hết là vấn đề về hoàn thiện hồ sơ. Chị nên trao đổi với Tòa án để được hướng dẫn cách bổ sung giấy tờ thay thế hoặc xác minh thông tin.
Ngược lại, nếu chồng Chị không cung cấp giấy tờ, không ký đơn hoặc không còn thực sự đồng ý ly hôn thì trường hợp này có thể không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục thuận tình ly hôn.
Khi đó, Chị có thể cân nhắc chuyển sang yêu cầu ly hôn đơn phương nếu có căn cứ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Việc chồng không đồng ý ký đơn thuận tình không có nghĩa là Chị mất quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
👉 Do đó, trước mắt Chị nên xác định rõ chồng Chị chỉ không muốn chứng thực bản sao CCCD hay thực sự không muốn tiếp tục thủ tục thuận tình ly hôn. Hai trường hợp này có cách xử lý hoàn toàn khác nhau.
3. Chị nên làm gì trong trường hợp này?
Nếu hai vợ chồng vẫn thống nhất ly hôn, Chị nên liên hệ với Tòa án đang giải quyết hồ sơ và trình bày rõ việc chồng vẫn đồng ý ly hôn nhưng không muốn đi chứng thực CCCD.
Chị có thể cung cấp các thông tin nhân thân mà mình đang có và đề nghị Tòa án hướng dẫn hình thức giấy tờ thay thế hoặc phương thức xác minh phù hợp.
Nếu Tòa án xác định hồ sơ không thể hoàn thiện do chồng không hợp tác và chồng cũng không còn đồng ý với việc ly hôn thuận tình, Chị có thể cân nhắc chuyển sang thủ tục ly hôn đơn phương để bảo vệ quyền lợi của mình.
📌 Chị có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được hỗ trợ:
CÔNG TY LUẬT TNHH NT INTERNATIONAL LAW FIRM (NTLAW)Hotline: 090 252 4567Email: luatsu.toannguyen@gmail.comWebsite: congtyluatnt.vnChúng tôi có thể hỗ trợ Chị kiểm tra hồ sơ ly hôn thuận tình, xác định giấy tờ còn thiếu, hướng dẫn cách xử lý trường hợp chồng không hợp tác và tư vấn phương án chuyển sang ly hôn đơn phương nếu cần thiết.
Trân trọng,Luật sư Toàn NguyễnCÔNG TY LUẬT TNHH NT INTERNATIONAL LAW FIRM (NTLAW)⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung trả lời mang tính chất tham khảo, được xây dựng trên cơ sở thông tin do người hỏi cung cấp và quy định pháp luật tại thời điểm tư vấn. Thành phần hồ sơ và phương thức xác minh giấy tờ tùy thân có thể phụ thuộc vào yêu cầu của Tòa án đang giải quyết hồ sơ và tình trạng cụ thể của vụ việc.
-
Cấp sổ đỏ lần đầu cho đất đấu giá từ thôn trước năm 2004
Luật sư cho tôi hỏi. Nhà tôi tham gia đấu giá đất từ tháng 4/2004 do thôn đứng ra tổ chức bán đấu giá đất nông nghiệp. Có hoá đơn, biên lai thu tiền. Tới thời điểm này vị trí đất có 16 thửa - 9 thửa đã được cấp bìa đỏ năm 2024 vừa rồi. Do đã có nhà ở trên đất. Còn nhà tôi , không có nhà trên đất nên bị từ chối cấp sổ. Vị trí khu đất đấu giá, đã được quy hoạch thành đất ở. Giờ nhà tôi làm đơn yêu cầu cấp sổ lần đầu cho thửa đất. Và cơ quan nhà nước là ubndx đổi tại lý do tại ngày xưa cấp trái thẩm quyền. Và yêu cầu nhà tôi phải đóng tiền chuyển đổi đất theo giá đất nhà nước quy định hiện tại là 100%. Như vậy có đúng quy định ko ạ? Xin chân thành cảm ơn luật sư
Luật sư Nguyễn Văn Toàn đã trả lời
Cấp sổ đỏ lần đầu cho đất đấu giá từ thôn trước năm 2004
Chào Anh Mạnh,
Qua nội dung Anh trình bày, tôi hiểu rằng gia đình Anh tham gia đấu giá đất do thôn tổ chức vào tháng 4/2004, có hóa đơn, biên lai chứng minh đã nộp tiền; khu đất có tổng cộng 16 thửa, trong đó 09 thửa đã được cấp Giấy chứng nhận năm 2024 do đã có nhà ở trên đất. Riêng thửa đất của gia đình Anh chưa được cấp Giấy chứng nhận vì chưa xây dựng nhà. Hiện nay, UBND cấp xã cho rằng việc giao đất trước đây là không đúng thẩm quyền và yêu cầu gia đình Anh phải nộp tiền sử dụng đất theo giá đất hiện tại với mức 100%. Tôi xin tư vấn sơ bộ như sau:
1. Việc đất chưa có nhà ở có phải là lý do đương nhiên để từ chối cấp sổ đỏ không?
Không thể chỉ căn cứ vào việc trên đất chưa có nhà ở để kết luận gia đình Anh không được cấp Giấy chứng nhận.
Việc cấp Giấy chứng nhận phải căn cứ vào nguồn gốc sử dụng đất, thời điểm sử dụng, giấy tờ về quyền sử dụng đất, tình trạng sử dụng đất, quy hoạch và việc thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp của Anh, điểm cần làm rõ trước tiên là việc thôn tổ chức bán đấu giá đất vào tháng 4/2004 được thực hiện trên cơ sở quyết định, chủ trương hoặc hồ sơ nào của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; số tiền Anh đã nộp được thu cho cơ quan, tổ chức nào và khu đất được xác định là loại đất gì tại thời điểm giao.
Việc 09 thửa khác trong cùng khu đất đã được cấp Giấy chứng nhận là một tình tiết thực tế quan trọng, nhưng không tự động đồng nghĩa thửa đất của Anh cũng đương nhiên được cấp sổ. Cơ quan có thẩm quyền vẫn phải xem xét hồ sơ và điều kiện cụ thể của thửa đất.
2. Nếu việc giao đất trước đây không đúng thẩm quyền thì gia đình Anh có còn được xem xét cấp Giấy chứng nhận không?
Có thể vẫn được xem xét.
Pháp luật đất đai có quy định riêng đối với trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền nhưng người sử dụng đất đã sử dụng ổn định và có giấy tờ, chứng cứ về việc đã nộp tiền để được sử dụng đất.
Do đó, việc UBND cấp xã xác định “ngày xưa giao đất trái thẩm quyền” chưa đủ để kết luận rằng gia đình Anh không có quyền được cấp Giấy chứng nhận.
Ngược lại, đây là vấn đề cần xác định chính xác ai đã giao đất, giao vào thời điểm nào, giao với mục đích gì, người sử dụng đất đã nộp tiền như thế nào và từ thời điểm đó đến nay sử dụng đất ra sao.
Trong trường hợp của Anh, hóa đơn, biên lai thu tiền và hồ sơ đấu giá tháng 4/2004 là những tài liệu rất quan trọng cần được kiểm tra.
3. Việc yêu cầu nộp 100% tiền sử dụng đất theo giá hiện tại có đúng không?
Chưa thể khẳng định là đúng chỉ dựa trên thông tin Anh cung cấp.
Đối với đất có nguồn gốc được giao không đúng thẩm quyền, nghĩa vụ tài chính khi được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất không phải trong mọi trường hợp đều mặc nhiên bằng 100% giá đất ở hiện tại.
Mức tiền sử dụng đất phải nộp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có:
Thời điểm đất được giao;
Nguồn gốc và hình thức giao đất;
Loại đất tại thời điểm được giao và hiện trạng sử dụng;
Diện tích trong hoặc vượt hạn mức công nhận đất ở;
Giấy tờ chứng minh việc đã nộp tiền để được sử dụng đất;
Thời điểm người sử dụng đất bắt đầu sử dụng đất ổn định;
Quy hoạch và mục đích sử dụng đất hiện nay;
Quy định cụ thể về tiền sử dụng đất áp dụng đối với trường hợp của Anh.
Nghị định 103/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất hiện là một trong những văn bản quan trọng cần được đối chiếu khi xác định nghĩa vụ tài chính trong trường hợp cấp Giấy chứng nhận.
Vì vậy, nếu cơ quan có thẩm quyền yêu cầu gia đình Anh phải nộp 100% tiền sử dụng đất theo giá đất hiện tại, Anh nên yêu cầu cơ quan giải quyết cung cấp căn cứ pháp lý cụ thể, cách xác định loại đất, diện tích tính tiền và công thức tính số tiền phải nộp.
Không nên chỉ dựa vào thông báo bằng miệng để thực hiện một khoản nghĩa vụ tài chính lớn.
4. Việc 09 thửa đất còn lại đã được cấp sổ có ý nghĩa gì?
Đây là một tình tiết Anh nên đặc biệt lưu ý.
Nếu 16 thửa đất có cùng nguồn gốc, cùng thời điểm giao/đấu giá, cùng hình thức thu tiền và điều kiện pháp lý tương tự, nhưng 09 thửa đã được cấp Giấy chứng nhận trong năm 2024 thì Anh có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải thích rõ:
Căn cứ pháp lý cấp Giấy chứng nhận cho 09 thửa đất đó;
Hồ sơ nguồn gốc của 09 thửa;
Vì sao thửa đất của gia đình Anh bị từ chối;
Việc có nhà ở trên 09 thửa đó có phải là điều kiện quyết định để được cấp Giấy chứng nhận hay không;
Cách xác định nghĩa vụ tài chính đối với từng trường hợp.
Tuy nhiên, việc các thửa khác đã được cấp sổ không đương nhiên chứng minh cơ quan Nhà nước phải cấp sổ cho thửa đất của Anh, bởi mỗi thửa có thể có sự khác nhau về hiện trạng, thời điểm sử dụng hoặc hồ sơ pháp lý.
👉 Với trường hợp của Anh, tôi cho rằng chưa nên chấp nhận ngay kết luận phải nộp 100% tiền sử dụng đất nếu cơ quan có thẩm quyền chưa cung cấp căn cứ và cách tính cụ thể.
Anh nên yêu cầu cơ quan giải quyết trả lời bằng văn bản, đồng thời cung cấp toàn bộ hồ sơ đấu giá, biên lai nộp tiền, giấy tờ giao đất và tài liệu liên quan đến 09 thửa đã được cấp Giấy chứng nhận để đối chiếu.
Nếu cơ quan Nhà nước đã có văn bản chính thức từ chối cấp Giấy chứng nhận hoặc thông báo nghĩa vụ tài chính, Anh có thể gửi văn bản đó cho luật sư để kiểm tra căn cứ pháp lý và xem xét phương án khiếu nại hoặc thực hiện thủ tục phù hợp.
📌 Anh có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được hỗ trợ:
CÔNG TY LUẬT TNHH NT INTERNATIONAL LAW FIRM (NTLAW)Hotline: 090 252 4567Email: luatsu.toannguyen@gmail.comWebsite: congtyluatnt.vnChúng tôi có thể hỗ trợ Anh kiểm tra hồ sơ đấu giá, biên lai nộp tiền và nguồn gốc thửa đất, đối chiếu với hồ sơ của các thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận, xác định nghĩa vụ tài chính và tư vấn phương án làm việc hoặc khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền.
Trân trọng,Luật sư Toàn NguyễnCÔNG TY LUẬT TNHH NT INTERNATIONAL LAW FIRM (NTLAW)⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung trả lời mang tính chất tham khảo, được xây dựng trên cơ sở thông tin do người hỏi cung cấp và quy định pháp luật tại thời điểm tư vấn. Việc xác định điều kiện cấp Giấy chứng nhận và nghĩa vụ tài chính cụ thể phải căn cứ vào hồ sơ nguồn gốc đất, thời điểm giao đất, giấy tờ nộp tiền, hiện trạng sử dụng đất, quy hoạch và quy định pháp luật áp dụng đối với từng trường hợp.
-
Chụp màn hình tin nhắn/ ghi âm cuộc gọi/ ghi âm cuộc trò chuyện có được coi là bằng chứng không?
Chào luật sư ạ. Chuyện là em đang ở một nhà trọ có nguy cơ bùng cọc cao. Em có thể hỏi chủ trọ về một và nội dung trước khi chuyển đi và chụp màn hình/ ghi âm lại phòng khi họ lật lọng được không ạ? Những điều khoản này cần được ghi trong hợp đồng không ạ? Nếu họ lật lọng thì em nên báo cáo với cơ quan chức năng nào? Em xin cảm ơn.
Luật sư Nguyễn Văn Toàn đã trả lời
Chụp màn hình tin nhắn/ ghi âm cuộc gọi/ ghi âm cuộc trò chuyện có được coi là bằng chứng không?
Chào Chị Nguyễn Thị Diệu Huyền,
Qua nội dung Chị trình bày, tôi hiểu rằng Chị đang thuê nhà trọ và lo ngại chủ trọ có thể không hoàn trả tiền đặt cọc khi Chị chuyển đi. Vì vậy, Chị muốn trao đổi trước với chủ trọ về việc hoàn cọc và lưu lại tin nhắn, ghi âm cuộc gọi hoặc cuộc trò chuyện để làm căn cứ nếu sau này phát sinh tranh chấp. Tôi xin tư vấn như sau:
1. Chụp màn hình tin nhắn, ghi âm cuộc gọi có thể được sử dụng làm chứng cứ không?
Có thể.
Theo Điều 94 và Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được và dữ liệu điện tử là những nguồn có thể được sử dụng làm chứng cứ trong vụ việc dân sự.
Đối với tài liệu nghe được, nhìn được như file ghi âm, ghi hình, khi giao nộp cho Tòa án cần kèm theo văn bản trình bày về xuất xứ của tài liệu, chẳng hạn Chị là người trực tiếp thực hiện việc ghi âm, ghi hình hoặc có tài liệu xác nhận về nguồn gốc của tài liệu đó.
Đối với tin nhắn trên Zalo, Messenger, SMS hoặc các nền tảng khác, Chị nên lưu giữ toàn bộ nội dung trao đổi, không chỉ chụp riêng một hoặc hai câu có lợi cho mình. Nếu có thể, Chị nên lưu cả thông tin tài khoản, số điện thoại, thời gian gửi tin nhắn và toàn bộ đoạn hội thoại liên quan.
👉 Vì vậy, nếu trước khi chuyển đi Chị nhắn tin hoặc trao đổi trực tiếp với chủ trọ về việc trả phòng, tình trạng phòng, tiền đặt cọc và thời điểm hoàn cọc thì Chị hoàn toàn có thể lưu lại những trao đổi này để làm tài liệu chứng minh khi cần thiết.
2. Những thỏa thuận quan trọng có nên ghi vào hợp đồng không?
Nên.
Việc trao đổi qua tin nhắn hoặc ghi âm có thể giúp chứng minh thỏa thuận giữa hai bên, nhưng đối với những vấn đề quan trọng như số tiền đặt cọc, điều kiện được hoàn cọc, thời điểm hoàn cọc, các trường hợp bị khấu trừ tiền cọc và trách nhiệm của mỗi bên khi chấm dứt hợp đồng, tốt nhất nên được ghi rõ trong hợp đồng thuê nhà hoặc phụ lục hợp đồng.
Theo quy định về hợp đồng thuê tài sản, quyền và nghĩa vụ của bên cho thuê và bên thuê trước hết được xác định trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên và quy định pháp luật có liên quan.
Đối với tiền đặt cọc, Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định về hậu quả pháp lý của việc một bên vi phạm thỏa thuận đặt cọc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Do đó, Chị nên kiểm tra lại hợp đồng hiện tại xem có quy định cụ thể về:
Số tiền đã đặt cọc;
Thời hạn thuê và thời điểm chấm dứt hợp đồng;
Điều kiện được nhận lại tiền cọc;
Các khoản mà chủ trọ được phép khấu trừ vào tiền cọc;
Thời hạn chủ trọ phải hoàn trả tiền cọc sau khi Chị trả phòng;
Trách nhiệm của hai bên khi một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng.
3. Nếu chủ trọ “lật lọng” không trả tiền cọc thì Chị nên làm gì?
Trước khi chuyển đi, Chị nên chủ động trao đổi bằng tin nhắn với chủ trọ và xác nhận rõ:
“Ngày ... tôi sẽ trả phòng, bàn giao phòng và thanh toán đầy đủ tiền thuê/điện/nước. Hai bên xác nhận số tiền đặt cọc là ... đồng và chủ trọ sẽ hoàn trả tiền cọc vào ngày ...”
Nếu chủ trọ đồng ý, Chị nên lưu lại toàn bộ cuộc trao đổi.
Khi trả phòng, Chị cũng nên chụp ảnh hoặc quay video toàn bộ tình trạng phòng, thiết bị, tài sản được bàn giao, đồng thời lưu lại chỉ số điện, nước và lập biên bản bàn giao nếu có thể.
Những tài liệu này sẽ giúp hạn chế trường hợp sau khi Chị chuyển đi, chủ trọ cho rằng phòng bị hư hỏng hoặc còn nghĩa vụ tài chính để lấy lý do khấu trừ tiền cọc.
Nếu đến hạn mà chủ trọ không trả tiền cọc theo thỏa thuận, Chị nên trước tiên gửi yêu cầu hoàn trả tiền cọc bằng văn bản hoặc tin nhắn, ấn định thời hạn hợp lý để chủ trọ thực hiện.
Nếu vẫn không giải quyết được, tùy giá trị tranh chấp và tình tiết cụ thể, Chị có thể yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê nhà và yêu cầu hoàn trả khoản tiền đặt cọc.
Đây về nguyên tắc là tranh chấp dân sự/hợp đồng. Vì vậy, nếu chỉ là tranh chấp về việc chủ trọ không hoàn tiền cọc thì không nên mặc nhiên xem đây là vụ việc hình sự hoặc chỉ đơn thuần “báo Công an” để đòi tiền.
👉 Tóm lại, Chị nên lưu lại tin nhắn và các cuộc trao đổi với chủ trọ, nhưng tốt nhất là những thỏa thuận quan trọng phải được thể hiện rõ trong hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng. Đồng thời, trước khi trả phòng, Chị nên lưu lại hình ảnh, video hiện trạng phòng và lập biên bản bàn giao để bảo vệ quyền lợi của mình.
📌 Chị có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được hỗ trợ:
CÔNG TY LUẬT TNHH NT INTERNATIONAL LAW FIRM (NTLAW)Hotline: 090 252 4567Email: luatsu.toannguyen@gmail.comWebsite: congtyluatnt.vnChúng tôi có thể hỗ trợ Chị kiểm tra hợp đồng thuê nhà, đánh giá các điều khoản về tiền đặt cọc, soạn văn bản yêu cầu hoàn trả tiền cọc và tư vấn hướng giải quyết nếu chủ trọ không thực hiện đúng thỏa thuận.
Trân trọng,Luật sư Toàn NguyễnCÔNG TY LUẬT TNHH NT INTERNATIONAL LAW FIRM (NTLAW)⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung trả lời mang tính chất tham khảo, được xây dựng trên cơ sở thông tin do người hỏi cung cấp và quy định pháp luật tại thời điểm tư vấn. Giá trị chứng minh của tin nhắn, ghi âm, ghi hình và các tài liệu khác phụ thuộc vào nguồn gốc, tính xác thực, nội dung cụ thể và việc đánh giá chứng cứ của cơ quan có thẩm quyền.
-
Bạo lực mạng
Dạ Luật Sư cho con hỏi ạ. Hiện tại con đang bị 1 nhóm người bạo lực mạng, công khai danh tính của con làm ảnh hưởng tới cuộc sống hiện tại rất nhiều ạ. Con có sai trong mối quan hệ tìm hiểu, và mấy bạn đó tụ tập lại rồi chèo lái, thêm chuyện rồi đăng lên hội nhóm, trang cá nhân công kích con. Cho con hỏi thì trường hợp như vậy thì có bị xử lí không ạ?
Luật sư Nguyễn Văn Toàn đã trả lời
Bạo lực mạng
Chào Em Đặng Quang Minh,
Qua nội dung Em trình bày, tôi hiểu rằng Em đang bị một nhóm người đăng tải thông tin, công khai danh tính và đăng bài công kích trên mạng xã hội, trong đó có những nội dung mà Em cho rằng đã bị thêm bớt, xuyên tạc và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống hiện tại của Em. Tôi xin tư vấn như sau:
Việc công khai thông tin và công kích người khác trên mạng có thể bị xử lý hay không?
Có.
Việc một người có sai phạm trong một mối quan hệ không đồng nghĩa với việc người khác có quyền tùy ý công khai thông tin cá nhân, xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc bịa đặt, xuyên tạc thông tin về người đó trên mạng xã hội.
Pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân. Nếu người khác đăng tải thông tin sai sự thật, vu khống hoặc sử dụng những lời lẽ xúc phạm nhằm hạ thấp danh dự, nhân phẩm của Em thì tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả, người thực hiện có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, phải gỡ bỏ/cải chính thông tin hoặc thậm chí bị xem xét trách nhiệm hình sự.
Đặc biệt, nếu hành vi có tính chất nghiêm trọng, người thực hiện có thể bị xem xét về tội Làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự hoặc tội Vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự, nếu đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm.
Bên cạnh trách nhiệm hành chính hoặc hình sự, Em còn có quyền yêu cầu người đăng tải thông tin chấm dứt hành vi xâm phạm, gỡ bỏ thông tin, cải chính, xin lỗi công khai và bồi thường thiệt hại nếu hành vi đó gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Em.
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa “phản ánh sự thật” và “bạo lực mạng”
Không phải mọi thông tin bất lợi được đăng tải về Em đều đương nhiên là hành vi vi phạm pháp luật.
Nếu một người chỉ trình bày sự việc có thật, không xúc phạm danh dự, nhân phẩm và không bịa đặt, xuyên tạc thì việc xử lý sẽ khác.
Ngược lại, nếu họ cố tình thêm thắt, bịa đặt nội dung, sử dụng lời lẽ xúc phạm, kêu gọi nhiều người cùng công kích, công khai thông tin cá nhân hoặc liên tục đăng tải nội dung nhằm hạ nhục Em, thì đây là những tình tiết cần được xem xét khi xác định trách nhiệm pháp lý.
Do đó, việc Em thừa nhận mình “có sai trong mối quan hệ” không đồng nghĩa với việc những người khác được quyền tùy ý xúc phạm hoặc bịa đặt thông tin về Em.
Em nên làm gì ngay lúc này?
👉 Trước hết, Em không nên xóa các bằng chứng và cũng không nên tiếp tục tranh cãi hoặc chửi lại trên mạng xã hội.
Em nên lưu giữ:
Ảnh chụp màn hình các bài đăng, bình luận và tin nhắn;
Link bài viết, tài khoản và trang/hội nhóm đã đăng tải thông tin;
Video, hình ảnh hoặc bản ghi màn hình thể hiện nội dung bị đăng;
Thời gian đăng tải và thông tin người đăng;
Những nội dung chứng minh thông tin họ đăng là sai sự thật hoặc đã bị xuyên tạc;
Các tài liệu chứng minh hậu quả thực tế đối với công việc, học tập, quan hệ gia đình hoặc cuộc sống của Em nếu có.
Nếu nội dung vẫn đang được đăng tải, Em cũng có thể sử dụng chức năng báo cáo của nền tảng để yêu cầu xử lý nội dung vi phạm, đồng thời lưu lại bằng chứng trước khi nội dung bị xóa.
Sau khi thu thập chứng cứ, tùy tính chất vụ việc, Em có thể gửi đơn trình báo/tố giác đến cơ quan Công an có thẩm quyền để được xác minh, xử lý.
👉 Nếu muốn yêu cầu bảo vệ danh dự, nhân phẩm và bồi thường thiệt hại, Em cũng có thể xem xét thực hiện các biện pháp dân sự phù hợp.
Điều quan trọng nhất hiện nay là phải lưu giữ chứng cứ trước khi yêu cầu người đăng xóa bài, bởi nếu chỉ nói bằng lời rằng “họ đang bạo lực mạng” nhưng không còn bài viết, hình ảnh, đường link hoặc dữ liệu chứng minh thì việc xử lý sau này sẽ khó khăn hơn.
📌 Em có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được hỗ trợ:
CÔNG TY LUẬT TNHH NT INTERNATIONAL LAW FIRM (NTLAW)Hotline: 090 252 4567Email: luatsu.toannguyen@gmail.comWebsite: congtyluatnt.vnEm có thể gửi cho luật sư ảnh chụp các bài đăng, đường link và những nội dung mà nhóm người này đang đăng tải để chúng tôi xem xét cụ thể nội dung nào có dấu hiệu xúc phạm, vu khống hoặc xâm phạm quyền nhân thân của Em, từ đó tư vấn hướng xử lý phù hợp.
Trân trọng,Luật sư Toàn NguyễnCÔNG TY LUẬT TNHH NT INTERNATIONAL LAW FIRM (NTLAW)⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung trả lời mang tính chất tham khảo, được xây dựng trên cơ sở thông tin do người hỏi cung cấp và quy định pháp luật tại thời điểm tư vấn. Việc xác định hành vi có vi phạm pháp luật hoặc có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm hay không cần căn cứ vào nội dung cụ thể được đăng tải, mục đích của người đăng, chứng cứ và hậu quả thực tế của vụ việc.
-
Cần tư vấn luật hình sự
Em cần liên hệ để em dễ trình bày
Luật sư Nguyễn Văn Toàn đã trả lời
Cần tư vấn luật hình sự
Chào Chị Kiều Duyên,
Qua nội dung Chị trình bày, tôi hiểu rằng Chị đang có vấn đề cần được tư vấn về pháp luật hình sự và mong muốn liên hệ trực tiếp để có thể trình bày cụ thể sự việc.
Do hiện tại Chị chưa cung cấp thông tin chi tiết về vụ việc nên chúng tôi chưa thể đưa ra ý kiến pháp lý chính xác. Chị có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Hotline hoặc Email để được luật sư tiếp nhận và trao đổi cụ thể về trường hợp của Chị.
📌 Chị có thể liên hệ:
CÔNG TY LUẬT TNHH NT INTERNATIONAL LAW FIRM (NTLAW)Hotline: 090 252 4567Email: luatsu.toannguyen@gmail.comWebsite: congtyluatnt.vnKhi liên hệ, Chị có thể trình bày các thông tin như: sự việc xảy ra khi nào, những người liên quan, Chị đang ở tư cách nào trong vụ việc (người bị hại, người bị tố giác, bị can, bị cáo...) và hiện cơ quan Công an hoặc Tòa án đã có những văn bản, quyết định gì. Nếu có hồ sơ, giấy triệu tập, quyết định hoặc tài liệu liên quan, Chị có thể cung cấp để luật sư có cơ sở xem xét cụ thể.
Chúng tôi sẽ tiếp nhận thông tin, đánh giá sơ bộ vụ việc và tư vấn hướng xử lý phù hợp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chị.
Trân trọng,Luật sư Toàn NguyễnCÔNG TY LUẬT TNHH NT INTERNATIONAL LAW FIRM (NTLAW)⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung trả lời mang tính chất tham khảo. Để có ý kiến tư vấn chính xác, phù hợp với từng vụ việc cụ thể, vui lòng cung cấp đầy đủ thông tin và tài liệu liên quan để luật sư trực tiếp xem xét.
-
Xin giải đáp
Năm 2024,cháu gái tôi lúc đó 14t chơi game trên mạng có quen biết,sau đó quan hệ với bạn trai 16t, đã mang thai.lúc gia đình biết được thì đành tổ chức đám cưới nhỏ cho cháu.năm 2025,cháu sinh ra 1 bé trai.vì chưa đủ tuổi, chưa đăng kí kết hôn nên kh làm giấy khai sinh cho bé được.đến nay năm 2026,gia đình xung đột,cháu gái tôi ẳm bé về bên ngoại ở .ba bé và ông bà nội đang tìm cách đòi đứa bé lại.xin hỏi trường hợp ba của bé,tôi có thể kiện được không ạ
Luật sư Nguyễn Văn Toàn đã trả lời
Xin giải đáp
Chào Anh/Chị Hiếu Danh,
Qua nội dung Anh/Chị trình bày, tôi hiểu rằng cháu gái của Anh/Chị sinh con khi chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn, hiện cháu đang trực tiếp chăm sóc con tại gia đình bên ngoại, còn cha của bé và gia đình bên nội đang có ý định yêu cầu giao bé lại. Tôi xin tư vấn như sau:
1. Chưa đăng ký kết hôn vẫn có thể làm giấy khai sinh cho bé
Trước hết, việc cha mẹ của bé chưa đăng ký kết hôn không làm mất quyền được đăng ký khai sinh của trẻ.
Gia đình nên sớm thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh cho bé. Trường hợp chưa xác định được cha theo quy định thì có thể đăng ký khai sinh theo diện chưa xác định được cha; thông tin về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh sẽ để trống.
Nếu cha của bé muốn được ghi nhận là cha trên Giấy khai sinh thì có thể thực hiện thủ tục đăng ký nhận cha, con theo quy định pháp luật về hộ tịch khi đáp ứng đầy đủ điều kiện.
2. Cha của bé và ông bà nội có quyền tự ý đến đưa bé về không?
Không.
Việc cha mẹ của bé không đăng ký kết hôn không làm mất quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Tuy nhiên, trước hết phải xác định quan hệ cha – con theo quy định pháp luật.
Nếu đã xác định người nam là cha của bé mà cha mẹ không thỏa thuận được ai là người trực tiếp nuôi con thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết việc giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của trẻ.
Đặc biệt, theo Luật Hôn nhân và gia đình, đối với con dưới 36 tháng tuổi, về nguyên tắc con được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Theo thông tin Anh/Chị cung cấp, bé sinh năm 2025 nên hiện vẫn còn rất nhỏ. Nếu cháu gái đang trực tiếp chăm sóc bé và có điều kiện bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng thì đây là yếu tố rất quan trọng để bảo vệ quyền trực tiếp nuôi con của người mẹ.
Ông bà nội không đương nhiên có quyền yêu cầu giao cháu cho mình nuôi chỉ vì là ông bà của trẻ, và cũng không được tự ý đưa trẻ đi trái với ý chí của người đang trực tiếp chăm sóc hợp pháp.
3. Gia đình có thể “kiện” cha của bé hay không?
Nếu ý Anh/Chị hỏi về việc khởi kiện để giải quyết quyền nuôi con, thì khi giữa cha và mẹ phát sinh tranh chấp về người trực tiếp nuôi con, có thể yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Khi đó, Tòa án sẽ xem xét quyền lợi của trẻ, điều kiện chăm sóc của mỗi bên và các tình tiết cụ thể để quyết định.
Ngoài ra, nếu cha của bé được pháp luật xác định quan hệ cha – con nhưng không trực tiếp nuôi con thì còn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định.
4. Về việc cháu gái quan hệ tình dục khi mới 14 tuổi
Đây là vấn đề cần được xem xét riêng và thận trọng.
Theo thông tin Anh/Chị cung cấp, thời điểm xảy ra quan hệ tình dục, cháu gái khoảng 14 tuổi và người bạn trai khoảng 16 tuổi. Pháp luật hình sự có các quy định bảo vệ người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đối với hành vi quan hệ tình dục và các hành vi tình dục khác.
Tuy nhiên, để xác định người bạn trai có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không không thể chỉ căn cứ vào thông tin “một người 14 tuổi, một người 16 tuổi” mà cần xác định chính xác ngày tháng năm sinh của hai người, thời điểm xảy ra quan hệ, tính chất của hành vi, sự tự nguyện hay có ép buộc và các tình tiết cụ thể khác.
Do đó, gia đình không nên sử dụng vấn đề hình sự như một cách gây sức ép trong tranh chấp nuôi con mà nên cung cấp đầy đủ thông tin cho luật sư để được đánh giá riêng nếu có nhu cầu.
👉 Trước mắt, gia đình nên ưu tiên thực hiện ngay việc đăng ký khai sinh cho bé, đồng thời lưu giữ các tài liệu chứng minh cháu gái là người đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con. Nếu phía cha hoặc gia đình bên nội có hành vi tự ý đưa bé đi hoặc phát sinh tranh chấp về quyền nuôi con thì gia đình nên liên hệ cơ quan có thẩm quyền và luật sư để được hỗ trợ kịp thời.
📌 Anh/Chị có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được hỗ trợ:
CÔNG TY LUẬT TNHH NT INTERNATIONAL LAW FIRM (NTLAW)Hotline: 090 252 4567Email: luatsu.toannguyen@gmail.comWebsite: congtyluatnt.vnChúng tôi có thể hỗ trợ gia đình thực hiện thủ tục khai sinh, nhận cha con, tư vấn và giải quyết tranh chấp quyền trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng; đồng thời đánh giá riêng vấn đề pháp lý phát sinh từ việc cháu gái có quan hệ tình dục khi chưa đủ 16 tuổi trên cơ sở thông tin và tài liệu cụ thể.
Trân trọng,Luật sư Toàn NguyễnCÔNG TY LUẬT TNHH NT INTERNATIONAL LAW FIRM (NTLAW)⚠️ Miễn trừ trách nhiệm: Nội dung trả lời mang tính chất tham khảo, được xây dựng trên cơ sở thông tin do người hỏi cung cấp và quy định pháp luật tại thời điểm tư vấn. Việc xác định quan hệ cha – con, quyền trực tiếp nuôi con và trách nhiệm pháp lý của các bên cần căn cứ vào độ tuổi chính xác, giấy tờ hộ tịch, hoàn cảnh chăm sóc trẻ và các tài liệu, chứng cứ cụ thể.
