Hồ Ngọc Hiền Thảo
Tổng cộng: 1135
-
Tôi muốn hoàn cọc
Tôi đặt cọc đất tại Phú Quốc Qua tìm hiểu vì bằng không thể mua bán công chứng. Tôi muốn hoàn cọc mà chủ đất nói khi nào bán được mới trả tôi
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Tôi muốn hoàn cọc
Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho VPLS Triển Luật, đối với câu hỏi của bạn, VPLS Triển Luật xin phản hồi như sau:
Qua thông tin bạn cung cấp, chưa đủ cơ sở để xác định các bên chỉ ký Hợp đồng đặt cọc hay đã ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đây là yếu tố quan trọng để xác định căn cứ pháp lý và hướng giải quyết tranh chấp.
Trường hợp các bên mới ký Hợp đồng đặt cọc mà chưa ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trước hết bạn cần rà soát nội dung Hợp đồng đặt cọc để xác định có thỏa thuận về việc hoàn trả tiền cọc, hủy bỏ hợp đồng hoặc xử lý khoản tiền đặt cọc khi không thể ký kết Hợp đồng chuyển nhượng hay không. Nếu hợp đồng có quy định thì sẽ ưu tiên áp dụng theo thỏa thuận của các bên.
Trường hợp Hợp đồng đặt cọc không có quy định và có căn cứ xác định ngay tại thời điểm giao kết, thửa đất đã không đủ điều kiện pháp lý để chuyển nhượng, dẫn đến mục đích của Hợp đồng đặt cọc không thể thực hiện được, bạn có thể xem xét yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng đặt cọc vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được theo Điều 408 Bộ luật Dân sự năm 2015. Khi đó, hậu quả pháp lý được giải quyết theo Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường. Trường hợp bên nhận đặt cọc biết hoặc phải biết thửa đất không đủ điều kiện chuyển nhượng nhưng vẫn nhận tiền đặt cọc mà không thông báo cho bạn thì còn có thể phải bồi thường thiệt hại theo khoản 2 Điều 408 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp các bên đã ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trước hết bạn cần xem xét các điều khoản của hợp đồng về việc hủy bỏ, đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc xử lý khi một bên không đủ điều kiện thực hiện hợp đồng. Nếu hợp đồng không có thỏa thuận thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo Điều 428 Bộ luật Dân sự năm 2015, một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ, theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Đồng thời, theo Điều 423 Bộ luật Dân sự năm 2015, một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ làm cho mục đích giao kết hợp đồng không đạt được. Do đó, nếu bên chuyển nhượng không đủ điều kiện thực hiện việc chuyển nhượng theo cam kết, bạn có thể xem xét thực hiện quyền hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu hoàn trả số tiền đã thanh toán, bồi thường thiệt hại (nếu có căn cứ).
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn nên gửi văn bản yêu cầu bên bán hoàn trả tiền đặt cọc hoặc thực hiện đúng nghĩa vụ theo hợp đồng trong thời hạn cụ thể, đồng thời nêu rõ căn cứ pháp lý và căn cứ theo thỏa thuận của các bên. Trường hợp hết thời hạn yêu cầu mà bên bán vẫn không thực hiện hoặc không có thiện chí giải quyết, bạn có thể khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu, hủy bỏ hoặc chấm dứt hợp đồng (tùy từng trường hợp), đồng thời yêu cầu hoàn trả số tiền đã giao, bồi thường thiệt hại và các quyền lợi hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng Luật sư Triển Luật về vấn đề mà bạn yêu cầu. Nếu còn vướng mắc hoặc cần hỗ trợ các vấn đề pháp lý khác, bạn vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TPHCM, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể.
-
Về đất đai
Từ trước đến nay mương rãnh thoát nước dã có sẵn giờ nhà hàng sóm san lấp ruộng không trừ lối thoát nước nay tự ý thay đổi dòng chảy đi qua cổng nhà tôi có được không
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Về đất đai
Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về Văn phòng Luật sư Triển Luật của chúng tôi, sau đây là câu trả lời của chúng tôi về câu hỏi của bạn:
Điều 252 Bộ Luật dân sự 2015 có quy định:
“Điều 252. Quyền về cấp, thoát nước qua bất động sản liền kề
Trường hợp do vị trí tự nhiên của bất động sản mà việc cấp, thoát nước buộc phải qua một bất động sản khác thì chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua phải dành một lối cấp, thoát nước thích hợp, không được cản trở hoặc ngăn chặn dòng nước chảy.
Người sử dụng lối cấp, thoát nước phải hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua khi lắp đặt đường dẫn nước; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Trường hợp nước tự nhiên chảy từ vị trí cao xuống vị trí thấp mà gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua thì người sử dụng lối cấp, thoát nước không phải bồi thường thiệt hại.”
Theo đó trong trường hợp này hàng xóm của bạn không được phép tùy ý san lấp mương thoát nước cũ và xả nước sang khu vực cổng nhà bạn nếu việc này gây ngập úng, cản trở sinh hoạt hoặc thiệt hại tài sản. Trong trường hợp này đầu tiên bạn nên chủ động thu thập chứng cứ như quay video, chụp ảnh rõ nét hiện trạng ngập úng ở cổng nhà và khu vực mương cũ bị lấp. Tập hợp bản đồ địa chính, sổ đỏ hoặc hình ảnh cũ (nếu có) để chứng minh dòng chảy tự nhiên ban đầu. Tiếp theo bạn nên trao đổi thiện chí với hàng xóm, yêu cầu họ khôi phục mương thoát nước cũ hoặc tự làm đường ống dẫn nước khác không gây ảnh hưởng đến nhà bạn. Trường hợp hàng xóm không hợp tác, bạn hãy làm Đơn kiến nghị gửi UBND cấp xã/phường nơi có bất động sản. UBND sẽ xuống kiểm tra hiện trạng, xác định chức năng của rãnh nước cũ và buộc người vi phạm khôi phục lại dòng chảy.
Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng Luật sư Triển Luật về vấn đề bạn yêu cầu. Nếu bạn còn vướng mắc hoặc cần hỗ trợ các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường 13, Quận Bình Thạnh, TPHCM, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể.
-
Xin tư vấn giúp tôi trường hợp nhà tôi bị thu hồi đất?
Đất tôi có diện tích 435m2 (250m2 đất ở, diện tích còn lại là đất nông nghiệp). Diện tích đất bị thi hồi là 354m2 (169m2 đất ở, 185m2 đất nông nghiệp), diện tích đất còn lại sau khi bị thu hồi là 81m2 đất ở. Phòng quản lý đô thị có văn bản xác nhận 81m2 đất nhà tôi sau khi thu hồi có hình thể đặc biệt và không đủ điều kiện xây dựng nhà để ở. Tháng 11/2018 tôi nhận được thông báo thu hồi đất. Tháng 6/2019 kiểm kê đất nhà tôi. Năm 2003 bố tôi có làm giấy tay cho rôi 100m2, a trai tôi 100m2 ( có xác nhận của trưởng khu phố, nhưng chưa làm thủ tục tách thửa, cho tặng). Tại thời điểm kiểm đếm tháng 6/2019 ghi nhận tách 3 bộ hồ sơ: 1. Tài sản đất và nhà của bố tôi, 2. Tài sàn nhà và đất của anh tôi, 3. Tài sản nhà vá đất của tôi (tôi và anh trai tôi đã lập gđ và tách khẩu năm 2011 (có giấy xác nhận nhà cửa tách khẩu vào nẵm 2011). Ngày 30/12/2024 UBND huyện long thành, tỉnh đồng nai ban hành 2 QĐ: QĐ về bồi thường về tài sản cho bố tôi, ĐQ thu hồi đất (nhưng không xét tái định cư). Tháng 1/2025 tôi có làm đơn khiếu nại lần đầu gửi UBND huyện Long Thành (nội dung đề nghị xét tái định cư cho ba tôi, xét tái định cư theo thế hệ cho tôi và anh trai tôi), tháng 6/2025 ubnd huyện họp đối thọai với nhà tôi, 23/12/2025 ubnd huyện Long Thành ban hành QĐ giải quyết khiếu nại lần đầu (trong nội dung trả lời đơn khiếu nại không đồng ý xét tái định cư cho ba tôi và 2 người con), đến tháng 6/2026 khi tôi liên hệ Ubnd huyện Long thành giải quyết khiếu nại lần đầu, lúc này là UBND phường Long Thành mới là biên bản bàn giao quyết định khiếu nại cho ba tôi. Vào ngày 26/4/2026 ubnd phường Long Thành ban hành QĐ xét 1 xuất tái định cư cho bố tôi nhưng không xét cho tôi và anh trai tôi vì cho rằng tôi và anh trai tôi không sinh sống trên cùng thửa đất bị thu hồi (theo biên bản xác minh của ubnd thị trấn long thành vào tháng 8/2025 xác nhận nội dung tôi và anh trai tôi về ở trên mãnh đất đó từ nẳm 2023, biên bản này không có các hộ dân xung quanh đất nơi tôi sống ký và gia đình tôi củng không được ký nhận). Xin hỏi Luật Sư mấy nội dung: 1. Ubnd huyện Lonh Thành ban hành QĐ thu hồi đất bố tôi nhưng không xét tái định cư cùng thời điểm đó mà tới hơn 16 tháng sau mới ký Qđ xét tái định cư cho bố tôi có đúng thro luật ĐĐ 2024 chưa? 2. Ubnd huyện long thành đã xử lý giải quyết khiếu nại đúng theo luật khiếu nại chưa? 3. Việc Ubnd thị trấn long thành xác minh tôi và anh trai tôi không sinh sống trên thửa đất bị thu hồi mà dời về đó sinh sống vào năm 2023 mà không đồng ý xét tái định cư cho anh em tôi có đúng quy định không? Việc anh em tôi chứng minh đã sinh sống từ trước đó tới nay trên thửa đất bị thu hồi với các giấy tờ: biên bản kiểm đếm có ghi nhận nhà tôi và anh tôi vào năm 2019, anh em tôi tách khẩu và lập gđ vào năm 2011, các con và cháu của tôi đều sinh đẻ tại địa phương và đều lớn lên, học tại các trường nơi có đất bị thu hồi, tôi đã lấy ý kiến của 10 hộ dân lân cận và ghi nhận anh em tôi đều sống trên thửa đất đó từ năm xây nhà (2000). Có hình ành từ ảnh vệ tinh nhà tôi có mở shop quần áo kinh doanh năm 1018 (khi vay vốn tôi có nhờ ubnd thị trấn, công an xác minh có kinh doanh tại hộ khẩu đã tách năm 2011). Như vậy cho hỏi anh em tôi đủ điều kiện xét tái định cư theo diện ở chung nhà bà đất với bố mẹ không?
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Xin tư vấn giúp tôi trường hợp nhà tôi bị thu hồi đất?
Theo nhận định ban đầu dựa trên thông tin bạn cung cấp, có cơ sở để tiếp tục đấu tranh, đặc biệt đối với yêu cầu xem xét tái định cư/hỗ trợ tái định cư cho các hộ của bạn và anh trai. Tuy nhiên, cần tách rõ quyền được tái định cư của bố bạn và quyền được xem xét hỗ trợ của các hộ con.
1- Về việc ngày 30/12/2024 đã có QĐ về thu hồi và bồi thường, nhưng đến tháng 6/2026 mới ban hành QĐ tái định cư, thì có đúng Luật đất đai 2024 hay không?
Không thể chỉ căn cứ vào việc quyết định tái định cư được ban hành sau 16 tháng để kết luận là trái luật. Cần xem tại thời điểm 30/12/2024, UBND huyện đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hay chưa và nội dung phương án xác định thế nào. Quyết định ngày 30/12/2024 có phải là “quyết định giải quyết toàn bộ quyền lợi” của bố bạn hay không?
Nếu quyết định bồi thường ngày 30/12/2024 không đề cập đến tái định cư, trong khi bố bạn thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở và đủ điều kiện được bố trí tái định cư (do diện tích thổ cư còn lại không đủ để xây dựng nhà ở), thì có cơ sở để khẳng định quyền lợi về tái định cư chưa được giải quyết đầy đủ tại thời điểm thu hồi đất (12/2024).
Sau đó, UBND huyện đã ban hành Quyết định ngày 26/4/2026 bố trí 01 suất tái định cư có thể được xem là quyết định bổ sung/giải quyết phần quyền lợi tái định cư còn thiếu.
2- Liên quan đến khiếu nại của gia đình bạn
Bạn nộp khiếu nại vào tháng 01/2025, nội dung yêu cầu:
- bố bạn được xét tái định cư;
- bạn và anh trai được xem xét
tái định cư theo thế hệ/hộ gia đình.
Về mặt thủ tục:
(a) Nếu đơn khiếu nại của bạn được thụ lý từ tháng 01/2025 mà đến ngày 23/12/2025 mới ban hành quyết định xử lý khiếu nại là vượt đáng kể thời hạn giải quyết khiếu nại theo Điều 28 Luật Khiếu nại;
(b) Việc QĐ giải quyết khiếu nại ban hành ngày 23/12/2025 nhưng đến tháng 6/2026 mới giao cho gia đình có dấu hiệu không tuân thủ thời hạn được quy định tại Điều 32 Luật Khiếu nại.
Về mặt nội dung:
Quan trọng hơn, cần xem xét việc xác minh và đánh giá chứng cứ có khách quan, đầy đủ hay không. Nếu UBND huyện bỏ qua các chứng cứ năm 2011, 2019 và chỉ dựa vào xác minh năm 2025 thì đây có thể là một điểm để khiếu nại/khởi kiện.
Ngoài ra, ngày 23/12/2025, UBND huyện ban hành quyết định giải quyết khiếu nại và không chấp nhận cả hai yêu cầu nêu trên; sau đó, ngày 26/4/2026, chính UBND huyện này lại ban hành quyết định xét 01 suất tái định cư cho bố bạn. Như vậy, có một điểm cần làm rõ: Nếu Quyết định giải quyết khiếu nại ngày 23/12/2025 khẳng định bố bạn không đủ điều kiện tái định cư, thì tại sao chỉ khoảng 4 tháng sau, UBND lại ban hành Quyết định ngày 26/4/2026 bố trí 01 suất tái định cư cho chính bố bạn? Do đó, chúng tôi cần thêm thông tin để có cơ sở đánh giá, cụ thể là các hồ sơ sau:
· Quyết định thu hồi đất ngày 30/12/2024;
· Quyết định bồi thường ngày 30/12/2024;
· Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu ngày 23/12/2025;
· Quyết định bố trí tái định cư ngày 26/4/2026.
Trong trường hợp bạn không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, bạn có quyền khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính.
3- Về việc anh em bạn có đủ điều kiện xét tái định cư theo diện ở chung nhà bà đất với bố mẹ không?
Theo thông tin bạn cung cấp, anh em bạn có cơ sở pháp lý để yêu cầu UBND xem xét bố trí/hỗ trợ thêm suất tái định cư với tư cách các hộ gia đình riêng, nhiều thế hệ/các cặp vợ chồng cùng sinh sống trên một thửa đất bị thu hồi (theo Khoản 4 Điều 111 Luật Đất đai 2024). Tuy nhiên, việc có được chấp thuận hay không phụ thuộc chủ yếu vào việc chứng minh anh em đã hình thành hộ gia đình riêng, thực tế sinh sống ổn định trên thửa đất và đáp ứng các điều kiện của pháp luật tại thời điểm thu hồi đất (2019).
UBND đang căn cứ vào biên bản xác minh tháng 8/2025 cho rằng: Anh em bạn chỉ về sinh sống trên thửa đất từ năm 2023. Nếu xác minh này được cơ quan có thẩm quyền sử dụng làm căn cứ chính để bác yêu cầu tái định cư thì anh em bạn phải tập trung chứng minh việc sinh sống thực tế trước thời điểm 2023 đó.
Thông tin thêm với bạn, việc tách khẩu năm 2011 tự nó chưa đủ để chứng minh đã thực tế cư trú trên chính thửa đất bị thu hồi. Ngược lại, nếu kết hợp với:
- hồ sơ kiểm kê năm 2019;
- giấy tờ xây dựng nhà;
- hồ sơ điện, nước;
- đăng ký kinh doanh;
- hồ sơ vay vốn;
- xác nhận của địa phương;
- giấy tờ học tập của con;
- hình ảnh, tài liệu chứng minh
nhà đã tồn tại;
- xác nhận của người dân xung
quanh;
thì có thể tạo thành hệ thống chứng cứ tương đối mạnh.
Trên đây là ý kiến tư vấn pháp lý của Văn phòng luật sư Triển Luật dựa trên những thông tin bạn cung cấp. Trong trường hợp còn vướng mắc, cần hỗ trợ trong việc kiểm tra quy định pháp luật hoặc chuẩn bị hồ sơ, soạn thảo đơn từ, bạn có thể liên hệ trụ sở VPLS tại số 213A Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TP.HCM hoặc gọi điện thoại cho Luật sư Thảo theo số 0776820693 nhé.
- bố bạn được xét tái định cư;
-
Bạo lực mạng
Dạ Luật Sư cho con hỏi ạ. Hiện tại con đang bị 1 nhóm người bạo lực mạng, công khai danh tính của con làm ảnh hưởng tới cuộc sống hiện tại rất nhiều ạ. Con có sai trong mối quan hệ tìm hiểu, và mấy bạn đó tụ tập lại rồi chèo lái, thêm chuyện rồi đăng lên hội nhóm, trang cá nhân công kích con. Cho con hỏi thì trường hợp như vậy thì có bị xử lí không ạ?
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Bạo lực mạng
Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho VPLS Triển Luật, đối với câu hỏi của bạn, VPLS Triển
Luật xin phản hồi như sau:
1. Xử phạt vi phạm hành chính
Căn cứ vào khoản 3 Điều 94 và khoản 1 Điều 95 Nghị định 174/2026/NĐ-CP của Chính phủ thì hành vi lưu trữ, truyền đưa thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, vu khống, xuyên tạc, xúc phạm uy tín của tổ chức và danh dự, nhân phẩm của cá nhân trên mạng xã hội sẽ bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với tổ chức thiết lập mạng xã hội, và từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với cá nhân sử dụng mạng xã hội để thực hiện các hành vi này.
Ngoài ra, còn có thể bị buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật.
2. Xử lý hình sự
Nếu hành vi công khai danh tính, bịa đặt, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bạn trên mạng xã hội gây hậu quả nghiêm trọng, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội sau:
Tội làm nhục người khác: Căn cứ vào Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025, nếu xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, đặc biệt là sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội, thì có thể bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm hoặc cao hơn nếu gây hậu quả nghiêm trọng.
Tội vu khống: Căn cứ vào Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025, nếu bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, đặc biệt là sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội, thì có thể bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm hoặc cao hơn nếu gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Quyền bảo vệ hình ảnh, danh dự, nhân phẩm
Căn cứ vào Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015, cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý. Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.
4. Quy tắc ứng xử trên môi trường số
Căn cứ vào Điều 4 Quyết định 423/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, mọi cá nhân đều phải tuân thủ quy định pháp luật, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, ứng xử văn minh, lịch sự trên môi trường số.
Như vậy, hành vi công khai danh tính, bịa đặt, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bạn trên mạng xã hội là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ vi phạm và hậu quả gây ra. Bạn có quyền yêu cầu cơ quan chức năng xử lý, yêu cầu gỡ bỏ thông tin, xin lỗi công khai, bồi thường thiệt hại (nếu có). Bạn nên thu thập bằng chứng (hình ảnh, bài đăng, tin nhắn,…) và liên hệ với cơ quan công an nơi cư trú để được hướng dẫn, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Nếu cần hỗ trợ chi tiết về thủ tục tố giác tội phạm hoặc khởi kiện, bạn có thể cung cấp thêm thông tin để được hướng dẫn cụ thể hơn.
Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng Luật sư Triển Luật về vấn đề mà bạn yêu cầu. Nếu còn vướng mắc hoặc cần hỗ trợ các vấn đề pháp lý khác, bạn vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TPHCM, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể.
-
CHIA ĐẤT TÀI SẢN HỘ GIA ĐÌNH
"Chào Luật sư, Tôi cần tư vấn và thuê Luật sư đại diện tham gia xét xử PHÚC THẨM vụ án Tranh chấp Đất đai Hộ gia đình tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long. Tôi xin tóm tắt đầy đủ vụ việc như sau: 1. Nguồn gốc đất & Hồ sơ pháp lý: • Đất được Tập đoàn sản xuất giao cấp t cho Hộ gia đình gồm 06 nhân khẩu (Mẹ tôi làm Chủ hộ). • Giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho Hộ gia đình, gồm các thửa: o Thửa 204 (có căn nhà): diện tích [807,5m²]. o Thửa 211: diện tích [995 m²]. o Thửa 49: diện tích [4,231,1m²]. 2. Mâu thuẫn & Diễn biến vụ án: - Ba mẹ đã ly hôn • Năm 2024, Ba tôi (Nguyên đơn) tự ý thuê đơn vị đo đạc lập hồ sơ trích đo xin tách Sổ đỏ từng thửa. Ba tôi đã nộp đơn khởi kiện ra Tòa án đòi chia tách Sổ. - Ba tôi: Đất có nguồn gốc phụng thờ Liệt sĩ, nên đòi sở hữu riêng phần đất có căn nhà là thửa 204 ( năm 2024 ông đo đạc chia 1 phần cho anh trai vì anh đã xây nhà dt 252,2m2, còn ông đòi dt 555,3m2 phần có căn nhà), và thửa 211 - Mẹ tôi và 4 người con (Bị đơn/Người liên quan): muốn giử đất chung của hộ. Mẹ con tôi vẫn đồng ý cho ba ở và thờ cúng ls chỉ ko dc tách chia cho cá nhân ông, vẫn giữ tài sản chung của Hộ( vì mục đích ông đòi để bán hoặc tặng cho nkhac ) 3. Phán quyết của Tòa Sơ thẩm (vừa tuyên): • Tòa tuyên chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn: Giao trọn thửa 204 (có nhà) và thửa 211 cho Ba tôi với lý do ưu đãi Liệt sĩ/thờ cúng, buộc Ba tôi thối lại cho Mẹ tôi 97 triệu đồng để lấy căn nhà và đất này. • Mẹ con tôi thì bị Tòa chia/dồn sang thửa 49 4. Nhu cầu hiện tại: • Gia đình đang làm thủ tục nộp Đơn kháng cáo Phúc thẩm • Mẹ con tôi muốn đặt lịch tư vấn trực tiếp để Luật sư nghiên cứu hồ sơ và đại diện tham gia xét xử Phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long Rất mong Luật sư xem qua và tư vấn. Tôi xin cảm ơn!"
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
CHIA ĐẤT TÀI SẢN HỘ GIA ĐÌNH
Chào bạn, về vấn đề bạn đề cập nêu trên, chúng tôi có một số ý kiến tư vấn như sau:
1. Qua nội dung chị trình bày, chúng tôi nhận thấy vụ việc liên quan đến tranh chấp quyền sử dụng đất được cấp cho hộ gia đình và hiện đang trong quá trình giải quyết tại Tòa án. Đây là dạng tranh chấp có tính chất tương đối phức tạp vì quyền sử dụng đất được cấp cho hộ gia đình không mặc nhiên thuộc riêng người đứng tên hoặc người đại diện hộ, mà cần xác định những thành viên nào có chung quyền sử dụng đất tại thời điểm được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất.
2. Theo thông tin chị cung cấp, nguồn gốc đất được Tập đoàn sản xuất giao cho hộ gia đình gồm 06 nhân khẩu và sau đó Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho hộ gia đình. Trong trường hợp có căn cứ xác định các thành viên trong hộ gia đình tại thời điểm đó cùng có quyền sử dụng đất, thì quyền và lợi ích của từng người phải được xem xét khi giải quyết tranh chấp. Do đó, việc người cha đứng ra yêu cầu chia đất không đồng nghĩa với việc người cha đương nhiên có quyền sở hữu hoặc sử dụng riêng đối với toàn bộ diện tích đất đang tranh chấp.
3. Đối với nội dung chị phản ánh về việc Tòa án cấp sơ thẩm giao phần còn lại của thửa 204 có căn nhà và toàn bộ thửa 211 cho người cha, đồng thời buộc thanh toán cho mẹ chị số tiền 97 triệu đồng, còn mẹ chị và các thành viên khác chủ yếu được phân chia quyền lợi tại thửa 49, đây là nội dung cần được xem xét trên cơ sở toàn bộ hồ sơ vụ án.
4. Từ những thông tin ban đầu chị cung cấp, chúng tôi nhận thấy có cơ sở để nghiên cứu hồ sơ nhằm đánh giá tính phù hợp của bản án sơ thẩm cũng như khả năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mẹ chị và các thành viên khác trong hộ gia đình tại giai đoạn phúc thẩm. Tuy nhiên, để đưa ra nhận định chính xác về việc bản án sơ thẩm có sai sót hay không, cũng như đánh giá khả năng kháng cáo được chấp nhận đến đâu, luật sư cần trực tiếp nghiên cứu các tài liệu liên quan.
5. Vì vậy, để có cơ sở tư vấn chuyên sâu và xây dựng phương án bảo vệ quyền lợi phù hợp nhất, chúng tôi đề nghị thực hiện bước nghiên cứu hồ sơ ban đầu. Theo đó, chúng tôi kính gửi đến chị báo giá như sau:
- Phí
nghiên cứu hồ sơ: 3.000.000 đồng.
- Hình
thức cung cấp hồ sơ:
- Trực
tiếp tại Văn phòng Luật sư Triển Luật, địa chỉ 213A Nguyễn Xí (Tầng 2),
phường Bình Lợi Trung, Thành phố Hồ Chí Minh; hoặc
- Gửi
hồ sơ qua Zalo cho Luật sư Thảo.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ, chúng tôi sẽ có thư tư vấn chi tiết đánh giá toàn diện vụ việc, khả năng kháng cáo và báo phí luật sư đối với các công việc tiếp theo (nếu chị có nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý).
Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng Luật sư Triển Luật về vấn đề bạn yêu cầu. Nếu bạn còn vướng mắc hoặc cần báo giá dịch vụ pháp lý, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, Tp. Hồ Chí Minh, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể.
- Phí
nghiên cứu hồ sơ: 3.000.000 đồng.
-
Cần tư vấn trọn gói dịch vụ khai nhận di sản thừa kế và cấp sổ hồng
Căn nhà cha mẹ đã mất để lại, có nộp thuế nhà đất đầy đủ hàng năm, nhà chưa có làm sổ hồng, các con đồng thừa kế đều ở nước ngoài. Trong số anh chị em: 1 người có thay đổi tên và năm sanh ( lúc vượt biên thập niên 80) , 1 người bị từ bỏ quốc tịch VN, trước khi vào quốc tịch nước ngoài Luật sư đứng ra làm đại diện ủy quyền toàn phần cho đến kết quả là được cấp sổ hồng (cho 1 người con thừa kế đứng tên). Hỏi: Chi phí trọn gói là bao nhiêu? luôn cả chi phí phát sinh hay là tính riêng? Nếu tính riêng thì bao nhiêu? Thời gian ước tính khoảng bao lâu? Xin cảm ơn. Trân trọng, Lisa Hương Hà Emas
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Cần tư vấn trọn gói dịch vụ khai nhận di sản thừa kế và cấp sổ hồng
Chào bạn, về vấn đề bạn đề cập nêu trên, chúng tôi có một số ý kiến tư vấn như sau:
1. Việc đã đóng thuế nhà đất hàng năm là tài liệu có giá trị chứng minh quá trình sử dụng nhưng không đồng nghĩa với việc đương nhiên đủ điều kiện được cấp sổ hồng. Điều kiện cấp Giấy chứng nhận còn phụ thuộc nguồn gốc và quá trình sử dụng đất, hiện trạng nhà, hồ sơ pháp lý, tình trạng tranh chấp, v.v.
2. Do hồ sơ có một số tình tiết liên quan đến nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, thừa kế, người thừa kế đang ở nước ngoài, thay đổi thông tin nhân thân và quốc tịch nên để xác định chính xác phương án thực hiện, thời gian cũng như phí dịch vụ, Luật sư cần xem xét các hồ sơ, tài liệu liên quan.
Vì thế, bạn vui lòng liên hệ và cung cấp các hồ sơ, giấy tờ hiện có của căn nhà, đất, giấy tờ của cha mẹ, giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế và giấy tờ nhân thân của các đồng thừa kế (nếu có), v.v.. Sau khi kiểm tra hồ sơ, Luật sư sẽ tư vấn phương án phù hợp nhất, đồng thời phản hồi cho bạn thông tin cụ thể về thời gian dự kiến, phạm vi công việc, phí dịch vụ và các khoản chi phí phát sinh (nếu có). Phí nghiên cứu cung cấp thư tư vấn cho vụ việc này là 3.000.000 đồng (chưa bao gồm VAT), phí dịch vụ theo các yêu cầu sẽ được báo trong thư tư vấn.
Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng Luật sư Triển Luật về vấn đề bạn yêu cầu. Nếu bạn còn vướng mắc hoặc cần báo giá dịch vụ pháp lý, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, Tp. Hồ Chí Minh, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể.
-
Về việc cấp dưỡng sau li hôn
Dạ em chào luật sư,em và chồng kết hôn vào năm 2015,li hôn năm 2019 đã ra toà,có giấy quyết định của toà án,em là người trực tiếp nuôi con(con em sinh năm 2016),do không thống nhất được mức cấp dưỡng hàng tháng,nên toà có quyết định theo quy định của nhà nước với mức chu cấp là 695.000đồng/tháng(do chồng trục tiếp cấp dưỡng)để e lo cho con,nhưng tính từ thời điểm có quyết định đến nay,em không nhận được khoảng cấp dưỡng nào cho con em.Vậy em muốn yêu cầu cấp duỡng có được k ạ?và cần thủ tục nào ạ?và em muốn biết em yêu cầu như vậy có đòi lại được mức trợ cấp trước giờ k ạ?em cám ơn luật sư!
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Về việc cấp dưỡng sau li hôn
Cảm ơn em đã gửi câu hỏi cho VPLS Triển Luật, đối với câu hỏi của em, VPLS Triển Luật giải đáp như sau:
1. Về quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
ü Theo Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Đồng thời, Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con.
ü Trong trường hợp này, quyết định của Tòa án đã xác định người chồng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con với mức 695.000 đồng/tháng. Vì vậy, nghĩa vụ này có giá trị bắt buộc thi hành kể từ thời điểm quyết định có hiệu lực pháp luật.
ü Trường hợp người chồng không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ, khách hàng không phải khởi kiện lại để yêu cầu xác định nghĩa vụ cấp dưỡng, mà có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án đối với quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
2. Về việc yêu cầu thanh toán các khoản cấp dưỡng chưa thực hiện
ü Theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung, người được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự tổ chức thi hành bản án, quyết định khi người phải thi hành án không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ. Đối với trường hợp này, khách hàng có thể yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự tổ chức thi hành số tiền cấp dưỡng mà người chồng chưa thực hiện.
ü Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ thực hiện định kỳ theo tháng. Do đó, khi xác định số tiền có thể yêu cầu thi hành cần căn cứ vào thời điểm từng khoản cấp dưỡng đến hạn và quy định về thời hiệu yêu cầu thi hành án.
ü Theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; đối với nghĩa vụ thi hành án định kỳ thì thời hiệu được tính cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
ü Do đó, đối với các khoản cấp dưỡng từ năm 2019 đến nay, không nên mặc nhiên xác định toàn bộ các khoản đều còn thời hiệu thi hành án. Cần kiểm tra cụ thể nội dung quyết định của Tòa án, thời điểm quyết định có hiệu lực và thời điểm bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng để xác định chính xác các khoản còn có thể yêu cầu thi hành.
3. Về thủ tục yêu cầu thi hành án
ü Khách hàng có thể chuẩn bị hồ sơ gồm:
ü Đơn yêu cầu thi hành án;
ü Bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án;
ü Bản sao CCCD của người yêu cầu;
ü Giấy khai sinh của con;
ü Các tài liệu, thông tin về người phải thi hành án nếu có, như địa chỉ cư trú, nơi làm việc, thu nhập, tài khoản ngân hàng, tài sản...
ü Trong đơn yêu cầu thi hành án, khách hàng cần nêu rõ nội dung quyết định của Tòa án về nghĩa vụ cấp dưỡng, mức cấp dưỡng 695.000 đồng/tháng, thời gian người chồng không thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự tổ chức thi hành.
ü Trường hợp người chồng có điều kiện thi hành nhưng không tự nguyện thực hiện, cơ quan Thi hành án dân sự có thể áp dụng các biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án theo quy định pháp luật, trong đó có thể thực hiện việc khấu trừ thu nhập của người phải thi hành án để bảo đảm nghĩa vụ cấp dưỡng.
4. Về việc yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng
ü Nếu hiện nay mức cấp dưỡng 695.000 đồng/tháng không còn phù hợp với nhu cầu thiết yếu của con hoặc điều kiện kinh tế của người chồng đã thay đổi thì khách hàng có thể yêu cầu Tòa án thay đổi mức cấp dưỡng theo Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
ü Việc thay đổi mức cấp dưỡng chỉ áp dụng đối với thời gian kể từ khi có quyết định thay đổi, không làm thay đổi khoản cấp dưỡng 695.000 đồng/tháng đã phát sinh trước đó theo quyết định của Tòa án.
Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng Luật sư Triển Luật về vấn đề mà em yêu cầu. Nếu còn vướng mắc hoặc cần hỗ trợ các vấn đề pháp lý khác, em vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TPHCM, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể.
-
Cần tư vấn luật hình sự
Em cần liên hệ để em dễ trình bày
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Cần tư vấn luật hình sự
Liên hệ zalo Ls Thảo: 077.682.0693 nhé.
VPLS Triển Luật.
-
Ly hôn có yếu tố nước ngoài
Xin chào luật sư. Cho phép tôi được chia sẻ vấn đề mong nhận được tư vấn luật về ly hôn. Tôi và chồng ly hôn tại tòa án (sau 5 lần ra tòa) và kết quả đạt đc đồng thuận li hôn qua hòa giải, tòa án Tokyo, Nhật bản. Tôi muốn hỏi về thủ tục pháp lý ở Việt nam cần làm gì để bản quyết định li hôn ở Nhật đạt hiệu lực ở Việt Nam ạ? Tôi hộ khẩu Thanh Hóa, hiện đang sinh sống ở Hà Nội. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Ly hôn có yếu tố nước ngoài
Chào anh, về vấn đề được đặt ra như trên, chúng tôi có một số ý kiến tư vấn như sau:
Trường hợp chị chỉ muốn cập nhật tình trạng hôn nhân tại Việt Nam để phục vụ các thủ tục hành chính, xác nhận tình trạng hôn nhân hoặc đăng ký kết hôn sau này thì không cần yêu cầu Tòa án Việt Nam giải quyết lại việc ly hôn. Chị chỉ cần thực hiện thủ tục ghi chú ly hôn tại cơ quan hộ tịch có thẩm quyền. Theo Điều 37 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, bản án, quyết định ly hôn hoặc giấy tờ khác công nhận việc ly hôn do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp có thể được ghi vào Sổ hộ tịch tại Việt Nam nếu đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam. Thủ tục này được gọi là ghi chú ly hôn.
Thông thường, hồ sơ ghi chú ly hôn bao gồm:
- Tờ khai theo mẫu quy định;
- Bản sao bản án, quyết định ly hôn hoặc văn bản
công nhận ly hôn do cơ quan có thẩm quyền của Nhật Bản cấp;
- Văn bản xác nhận bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật (nếu nội dung này chưa được thể hiện rõ trong văn bản ly hôn);
- Bản dịch tiếng Việt được chứng thực hợp lệ đối với
các giấy tờ bằng tiếng Nhật;
- Giấy tờ tùy thân và các giấy tờ khác theo yêu cầu
của cơ quan hộ tịch.
Đối với các giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của Nhật Bản cấp, chị cần lưu ý thực hiện thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của Nghị định 111/2011/NĐ-CP về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp được miễn theo điều ước quốc tế hoặc nguyên tắc có đi có lại.
Trong trường hợp chị muốn yêu cầu thi hành tại Việt Nam các nội dung được ghi nhận trong bản án ly hôn của Tòa án Nhật Bản, chẳng hạn như nghĩa vụ cấp dưỡng, chia tài sản hoặc các nghĩa vụ tài chính khác, thì chị phải thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài.
Theo Điều 423 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài chỉ được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam khi thuộc trường hợp được quy định trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại.
Theo các Điều 424, 425, 438 và 439 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, để được công nhận tại Việt Nam, bản án ly hôn của Tòa án Nhật Bản phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Đã có hiệu lực pháp luật theo pháp luật Nhật Bản;
- Không thuộc trường hợp bị từ chối công nhận theo
quy định của pháp luật Việt Nam;
- Không vi phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
Việt Nam;
- Người phải thi hành án đang cư trú, làm việc hoặc
có tài sản tại Việt Nam (nếu có yêu cầu thi hành).
Về thời hiệu, Điều 432 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định thời hiệu yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là 03 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Theo Điều 434 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, hồ sơ yêu cầu công nhận và cho thi hành bao gồm:
- Đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành;
- Bản chính hoặc bản sao hợp lệ bản án, quyết định
của Tòa án nước ngoài;
- Văn bản xác nhận bản án đã có hiệu lực pháp luật;
- Tài liệu chứng minh việc triệu tập hợp lệ đối với
đương sự vắng mặt (nếu có);
- Bản dịch tiếng Việt được chứng thực hợp lệ;
- Tài liệu đã được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định.
Theo các quy định từ Điều 432 đến Điều 451 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sau khi tiếp nhận hồ sơ hợp lệ, Tòa án có thẩm quyền sẽ xem xét và ra quyết định công nhận hoặc không công nhận bản án của Tòa án nước ngoài. Thời hạn giải quyết thông thường là 04 tháng kể từ ngày thụ lý, trường hợp phức tạp có thể được gia hạn nhưng không quá 02 tháng.
Đối với trường hợp của chị, nếu mục đích chỉ là xác nhận tình trạng đã ly hôn tại Việt Nam thì hướng xử lý phù hợp nhất là thực hiện thủ tục ghi chú ly hôn. Do chị hiện cư trú tại Hà Nội nhưng có thông tin hộ tịch trước đây tại Thanh Hóa, cần rà soát thêm nơi đã đăng ký kết hôn và nơi đang cư trú để xác định chính xác cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ ghi chú ly hôn.
Ngược lại, nếu bản án của Tòa án Tokyo có nội dung về chia tài sản, cấp dưỡng hoặc các nghĩa vụ khác cần thực hiện tại Việt Nam thì chị cần thực hiện thêm thủ tục yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì vậy, chị nên chuẩn bị trước bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án Tokyo, giấy xác nhận hiệu lực pháp luật của văn bản này và các giấy tờ nhân thân có liên quan. Trên cơ sở hồ sơ cụ thể, có thể xác định chính xác thủ tục cần thực hiện cũng như yêu cầu về hợp pháp hóa lãnh sự, dịch thuật và cơ quan tiếp nhận hồ sơ tại Việt Nam.
Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng luật sư Triển Luật về vấn đề anh yêu cầu. Nếu anh còn vướng mắc hoặc cần hỗ trợ các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TPHCM, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể.
- Tờ khai theo mẫu quy định;
-
Xin giải đáp
Năm 2024,cháu gái tôi lúc đó 14t chơi game trên mạng có quen biết,sau đó quan hệ với bạn trai 16t, đã mang thai.lúc gia đình biết được thì đành tổ chức đám cưới nhỏ cho cháu.năm 2025,cháu sinh ra 1 bé trai.vì chưa đủ tuổi, chưa đăng kí kết hôn nên kh làm giấy khai sinh cho bé được.đến nay năm 2026,gia đình xung đột,cháu gái tôi ẳm bé về bên ngoại ở .ba bé và ông bà nội đang tìm cách đòi đứa bé lại.xin hỏi trường hợp ba của bé,tôi có thể kiện được không ạ
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Xin giải đáp
Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho VPLS Triển Luật, đối với câu hỏi của bạn, VPLS Triển
Luật xin phản hồi như sau:
1. Về quyền khởi kiện để đòi lại con
Căn cứ vào Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, các tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bao gồm:
- Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.
- Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc khi hủy kết hôn trái pháp luật.
Như vậy, nếu có tranh chấp về việc ai là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con hoặc tranh chấp về xác định cha cho con, thì cha của bé hoàn toàn có quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu giải quyết.
2. Về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp không đăng ký kết hôn
Căn cứ vào Điều 14, Điều 15 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.
Tức là, dù không đăng ký kết hôn, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con vẫn được pháp luật bảo vệ như trường hợp cha mẹ có đăng ký kết hôn.
3. Về việc ai được quyền nuôi con khi có tranh chấp
Căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên…
Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Ngoài ra, Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể các tiêu chí để Tòa án xem xét quyền lợi về mọi mặt của con khi quyết định giao con cho ai trực tiếp nuôi.
4. Về thủ tục khởi kiện
Nếu cha của bé muốn đòi lại quyền nuôi con hoặc xác định quyền làm cha, có thể nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân nơi người bị kiện (tức mẹ của bé hoặc người đang trực tiếp nuôi dưỡng bé) cư trú theo Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
5. Về quyền của ông bà nội
Theo Điều 104 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, ông bà nội, ông bà ngoại có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu… Trường hợp cháu chưa thành niên mà không có người nuôi dưỡng thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu.
Tuy nhiên, quyền nuôi dưỡng trực tiếp vẫn ưu tiên cha mẹ, trừ trường hợp cha mẹ không đủ điều kiện.
Tóm lại, cha của bé hoàn toàn có quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu xác định quyền làm cha, quyền nuôi con hoặc giải quyết tranh chấp về quyền nuôi con. Tòa án sẽ xem xét toàn diện các yếu tố về quyền lợi của con để quyết định giao con cho ai trực tiếp nuôi. Ông bà nội chỉ có quyền nuôi dưỡng cháu khi cha mẹ không đủ điều kiện nuôi dưỡng.
Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng Luật sư Triển Luật về vấn đề mà bạn yêu cầu. Nếu còn vướng mắc hoặc cần hỗ trợ các vấn đề pháp lý khác, bạn vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TPHCM, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể.
