Hồ Ngọc Hiền Thảo
Tổng cộng: 1201
-
Trách nhiệm pháp lý
Cháu tôi năm nay 15 tuổi, do ham mê chơi điện tử và muốn có tiền để chơi, cháu tôi đã trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015. Gia đình và bản thân cháu tôi đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại và cũng chưa gây ra thiệt hại lớn. Trong trường hợp này, cháu tôi có thể được Tòa án áp dụng hình phạt cảnh cáo hay không?
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Trách nhiệm pháp lý
Chào bạn, về vấn đề được đặt ra như trên, chúng tôi có một số ý kiến tư vấn như sau:
1. Theo khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với một số tội danh nhất định khi thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Đối với tội Trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi thuộc các khung hình phạt tương ứng với tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
2. Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt cao nhất đến 03 năm tù, thì đây là tội phạm ít nghiêm trọng theo Điều 9 Bộ luật Hình sự. Do đó, cháu chưa thuộc trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi này. Do đó, cháu bạn sẽ không chịu trách nhiệm hình sự do phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Cơ quan có thẩm quyền sẽ không khởi tố vụ án hình sự, hoặc nếu đã khởi tố thì đình chỉ, do người thực hiện hành vi chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 157 và Điều 230 BLTTHS 2015).
3. Chỉ xem xét dưới góc độ xử lý vi phạm hành chính (phạt cảnh cáo, buộc khắc phục hậu quả, hoặc giao cho gia đình, nhà trường giáo dục, quản lý) đối với người chưa thành niên theo quy định của pháp luật. Cảnh cáo trong trường hợp này là hình thức xử phạt hành chính của cơ quan có thẩm quyền, không phải hình phạt do Tòa án tuyên.
Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng Luật sư Triển Luật về vấn đề anh yêu cầu. Nếu anh còn vướng mắc hoặc cần hỗ trợ các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TPHCM, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể.
-
Kết hôn
Tôi và anh S là bạn học chung thời tiểu học. Năm 2020, anh S cùng gia đình sang Đan Mạch định cư. Đầu năm 2025, khi anh S về thăm quê, chúng tôi có gặp lại và nối lại liên lạc. Sau một thời gian trò chuyện, tôi có ngỏ ý muốn sang Đan Mạch định cư và nhờ anh S giúp đỡ bằng cách đăng ký kết hôn với tôi. Chúng tôi thỏa thuận với nhau là sau khi tôi sang Đan Mạch cư trú và được nhập quốc tịch thì hai người sẽ tiến hành thủ tục ly hôn. Thỏa thuận kết hôn giữa tôi và anh S như vậy có vi phạm điều cấm của pháp luật hay không? Nếu tôi và anh S vẫn quyết định thực hiện theo dự định này thì chúng tôi có thể gặp phải những hậu quả pháp lý hoặc bị xử lý như thế nào?
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Kết hôn
Chào bạn, về vấn đề được đặt ra như trên, chúng tôi có một số ý kiến tư vấn như sau:
Theo khoản 11 Điều 3 và điểm a khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, pháp luật Việt Nam nghiêm cấm hành vi kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo. Trong đó, kết hôn giả tạo được hiểu là việc lợi dụng quan hệ hôn nhân nhằm mục đích xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch hoặc đạt được một lợi ích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình.
Căn cứ thông tin bạn cung cấp, việc bạn và anh S thỏa thuận kết hôn để bạn được sang Đan Mạch cư trú, có cơ hội nhập quốc tịch và sau đó sẽ ly hôn cho thấy mục đích chính của việc kết hôn không phải là xây dựng cuộc sống hôn nhân, gia đình thực sự. Do đó, thỏa thuận này có dấu hiệu của hành vi kết hôn giả tạo và thuộc trường hợp bị pháp luật Việt Nam nghiêm cấm.
Về hậu quả pháp lý, nếu cơ quan có thẩm quyền xác định việc kết hôn là giả tạo thì đây có thể bị xem là kết hôn trái pháp luật. Theo các Điều 10, 11 và 12 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Tòa án có quyền hủy việc kết hôn trái pháp luật theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền. Ngoài ra, người thực hiện hành vi kết hôn giả tạo nhằm mục đích xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú hoặc nhập quốc tịch nước ngoài còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Bên cạnh rủi ro tại Việt Nam, bạn cũng cần lưu ý rằng việc kết hôn giả tạo nhằm mục đích nhập cư là hành vi bị nhiều quốc gia, kiểm soát rất chặt chẽ. Nếu cơ quan có thẩm quyền tại Đan Mạch xác định cuộc hôn nhân không có mục đích xây dựng gia đình thực sự, bạn có thể bị từ chối hoặc thu hồi quyền cư trú, từ chối nhập quốc tịch, thậm chí bị áp dụng các biện pháp xử lý theo pháp luật nước sở tại. Người đứng ra kết hôn với bạn cũng có thể phải chịu những hậu quả pháp lý tương ứng.
Vì vậy, chúng tôi không khuyến nghị bạn thực hiện thỏa thuận nêu trên. Nếu mục tiêu của bạn là sinh sống, làm việc hoặc định cư tại Đan Mạch, bạn nên tìm hiểu các diện cư trú hợp pháp như lao động, du học, đoàn tụ gia đình hoặc các chương trình nhập cư hợp pháp khác theo quy định của Đan Mạch.
Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng luật sư Triển Luật về vấn đề anh yêu cầu. Nếu anh còn vướng mắc hoặc cần hỗ trợ các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TPHCM, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể.
-
Tự ý xuất cảnh trong thời gian chấp hành án treo bị xử lý như thế nào?
Em e bị án treo tội gây rối trật tự công cộng 1 năm, nhưng gia đình không biết trong thời hạn án treo là không được đi khỏi nơi cư trú. Nên trong thời hạn án treo đã chạy cho em đi nước ngoài. Vậy khi về án bị phạt nặng không ạ. Em cảm ơn.
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Tự ý xuất cảnh trong thời gian chấp hành án treo bị xử lý như thế nào?
1. Hành vi xuất cảnh trong thời gian thử thách là vi phạm nghĩa vụ của người hưởng án treo
Theo Luật Thi hành án hình sự 2025, người được hưởng án treo phải chấp hành nghĩa vụ trong thời gian thử thách; khi cần vắng mặt tại nơi cư trú phải có lý do chính đáng, làm đơn xin phép và được Công an cấp xã (hoặc đơn vị quân đội) được giao quản lý, giám sát, giáo dục đồng ý, mỗi lần không quá 30 ngày và tổng thời gian vắng mặt không quá một phần ba thời gian thử thách (Điều 87). Đặc biệt, người được hưởng án treo bị tạm hoãn xuất cảnh trong thời gian thử thách theo Luật Thi hành án hình sự 2025 và khoản 2 Điều 36 Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam 2019, nghĩa là không có cơ chế xin phép để xuất cảnh trong thời gian này. Việc gia đình không biết quy định không làm hành vi xuất cảnh trở thành hợp pháp, đây là hành vi vi phạm nghĩa vụ chấp hành án treo.
2. Các hậu quả pháp lý có thể xảy ra
● Xử phạt vi phạm hành chính: người được hưởng án treo đi khỏi nơi cư trú không xin phép hoặc không được cơ quan có thẩm quyền giám sát (Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã) đồng ý, hoặc vắng mặt quá thời hạn cho phép, có thể bị xử phạt hành chính theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP, với mức phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với hành vi này.
● Buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo: theo khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, nếu trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Theo Luật Thi hành án hình sự 2025, trình tự là Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát lập biên bản, tổ chức kiểm điểm (Điều 86), báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để đề nghị Tòa án nhân dân khu vực nơi người đó cư trú xem xét, quyết định.
3. Phần cần làm rõ thêm vì ảnh hưởng trực tiếp đến mức xử lý
Mô tả hiện chưa đủ thông tin để đánh giá chắc chắn mức xử lý, vì còn phụ thuộc vào các yếu tố sau:
● Người này hiện đã trở về chưa, đã đi bao lâu và còn bao nhiêu thời gian thử thách; nếu ở lại nước ngoài không về hoặc trốn tránh sự giám sát thì mức độ vi phạm sẽ nghiêm trọng hơn nhiều.
● Cơ quan giám sát (UBND cấp xã, Công an cấp xã) đã lập biên bản, nhắc nhở hay triệu tập lần nào chưa; trước đó người này đã từng vi phạm nghĩa vụ khác hay chưa.
● Nội dung bản án: mức hình phạt tù 1 năm và thời gian thử thách được ấn định bao lâu.
4. Hướng xử lý nên thực hiện
● Nếu người này đang ở nước ngoài, nên về nước sớm và chủ động trình diện, báo cáo với Công an cấp xã và UBND cấp xã nơi giám sát, giáo dục; việc tự nguyện trở về, trình bày rõ nguyên nhân là tình tiết có lợi khi cơ quan có thẩm quyền xem xét mức độ cố ý và thái độ chấp hành.
● Từ nay phải chấp hành nghiêm các nghĩa vụ: có mặt khi được triệu tập, báo cáo khi có nhu cầu đi khỏi nơi cư trú và chỉ đi khi đã được đồng ý; tránh để phát sinh thêm vi phạm vì ngưỡng “02 lần” là điều kiện để Tòa án xem xét buộc chấp hành hình phạt tù.
Trên đây là ý kiến tư vấn pháp lý của Văn phòng luật sư Triển Luật dựa trên những thông tin bạn cung cấp. Trong trường hợp còn vướng mắc, cần hỗ trợ trong việc kiểm tra quy định pháp luật hoặc chuẩn bị hồ sơ, soạn thảo đơn từ, bạn có thể liên hệ trụ sở VPLS tại số 213A Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TP.HCM hoặc gọi điện thoại cho Luật sư Thảo theo số 0776820693 nhé.
-
Mua bán vi bằng nhà ở xã hội
Nhờ luật sư trả lời giúp tôi câu hỏi sau: Tôi mua nhà ở xã hội bằng hình thức vi bằng, sau 5 năm chủ cũ không sang tên nhà cho tôi, tôi khởi kiện ra toà, toà sẽ xử lý vụ việc của tôi thế nào? Cám ơn luật sư!
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Mua bán vi bằng nhà ở xã hội
1. Về giá trị pháp lý của vi bằng và hình thức hợp đồng
Vi bằng chỉ là văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi có thật (ví dụ việc giao nhận tiền, bàn giao nhà), có giá trị là nguồn chứng cứ; vi bằng không thay thế văn bản công chứng, chứng thực, và Thừa phát lại không được lập vi bằng để xác nhận nội dung, việc ký tên trong hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định thuộc phạm vi công chứng, chứng thực. Vì vậy, vi bằng không phải là hợp đồng mua bán, không làm phát sinh quyền sở hữu và không đủ để đăng ký sang tên.
Theo khoản 1 Điều 164 Luật Nhà ở 2023, hợp đồng mua bán nhà ở giữa cá nhân với cá nhân phải được công chứng hoặc chứng thực, và hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm hoàn thành việc công chứng, chứng thực. Trường hợp của bạn là mua lại nhà từ chủ cũ (cá nhân) nên không thuộc diện ngoại lệ tại khoản 2 Điều 164 (ngoại lệ chỉ áp dụng với giao dịch mà một bên là tổ chức, như việc mua nhà ở xã hội trực tiếp từ chủ đầu tư).
2. Về hạn chế riêng đối với nhà ở xã hội
Theo điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 89 Luật Nhà ở 2023, bên mua nhà ở xã hội không được bán lại nhà ở trong thời hạn tối thiểu 05 năm kể từ ngày thanh toán đủ tiền mua nhà ở; trong thời hạn này, nếu có nhu cầu bán thì chỉ được bán lại cho chủ đầu tư dự án hoặc cho đối tượng thuộc diện được mua nhà ở xã hội, với giá bán tối đa bằng giá bán nhà ở xã hội này trong hợp đồng mua bán với chủ đầu tư.
Theo khoản 10 Điều 88 Luật Nhà ở 2023, nếu việc bán nhà ở xã hội vi phạm quy định về đối tượng hoặc điều kiện mua thì hợp đồng mua bán bị vô hiệu, bên mua phải bàn giao lại nhà ở cho chủ đầu tư hoặc đơn vị quản lý nhà ở xã hội; nếu không bàn giao thì UBND cấp tỉnh nơi có nhà tổ chức cưỡng chế thu hồi; việc xử lý tiền mua nhà thực hiện theo pháp luật dân sự.
3. Hướng giải quyết
Tranh chấp về bất động sản thuộc thẩm quyền Tòa án nơi có bất động sản. Khi giải quyết, Tòa án sẽ coi vi bằng là chứng cứ về việc giao nhận tiền và trước hết xem xét hiệu lực của giao dịch mua bán giữa bạn và chủ cũ. Có hai hướng chính:
● Hướng phổ biến nhất: Tòa án tuyên giao dịch vô hiệu do không tuân thủ hình thức bắt buộc (Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 164 Luật Nhà ở 2023) và/hoặc do trái quy định về nhà ở xã hội (khoản 10 Điều 88, Điều 89 Luật Nhà ở 2023). Khi đó, Tòa không buộc chủ cũ sang tên cho bạn mà giải quyết hậu quả theo Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015: các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận (chủ cũ trả lại tiền, bạn trả lại nhà), bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại cho bên kia. Do cả hai bên đều biết giao dịch không qua công chứng nên lỗi thường được xem xét ở cả hai phía, mức bồi thường (ví dụ chênh lệch giá nhà) vì thế phụ thuộc vào đánh giá lỗi cụ thể của Tòa.
● Hướng hạn chế hơn: theo khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015, nếu giao dịch chỉ vi phạm về hình thức và một hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ, Tòa án có thể công nhận hiệu lực của giao dịch. Tuy nhiên, với nhà ở xã hội, nếu giao dịch đồng thời vi phạm các điều kiện bắt buộc về đối tượng, thời hạn 05 năm thì khả năng áp dụng hướng này rất thấp. Ngoài ra, theo Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu do vi phạm hình thức là 02 năm kể từ ngày xác lập giao dịch, còn giao dịch vô hiệu do trái điều cấm của luật thì không bị hạn chế thời hiệu.
4. Trường hợp sau 05 năm chủ cũ đã được cấp sổ nhưng không muốn bán
Khi chủ cũ đã đủ 05 năm kể từ ngày thanh toán đủ tiền và đã được cấp Giấy chứng nhận, hạn chế bán lại tại Điều 89 Luật Nhà ở 2023 không còn áp dụng đối với việc bán lại từ thời điểm đó, và chủ cũ là chủ sở hữu hợp pháp có quyền quyết định bán hay không bán. Vi bằng không phải là hợp đồng nên tự nó không làm phát sinh nghĩa vụ phải sang tên của chủ cũ. Chủ cũ chỉ bị buộc sang tên nếu bạn chứng minh được giữa hai bên có giao dịch mua bán có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, mấu chốt là hiệu lực của giao dịch tại thời điểm hai bên xác lập (thời điểm lập vi bằng), chứ không phải việc hiện nay chủ cũ đã đủ điều kiện bán. Có hai khả năng:
● Nếu giao dịch được xác lập trong thời hạn 05 năm và vi phạm quy định về đối tượng mua hoặc điều kiện bán lại nhà ở xã hội, đây là giao dịch trái điều cấm của luật (Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015), thời hiệu yêu cầu tuyên bố vô hiệu không bị hạn chế (khoản 3 Điều 132). Việc chủ cũ nay đã có sổ không làm giao dịch này hợp pháp trở lại. Khi đó Tòa án thường không buộc chủ cũ sang tên mà giải quyết hậu quả theo Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015: chủ cũ hoàn trả số tiền đã nhận, bạn trả lại nhà, bên có lỗi bồi thường thiệt hại cho bên kia.
● Nếu giao dịch chỉ có khiếm khuyết về hình thức (không công chứng) mà không vi phạm điều kiện về đối tượng, thời hạn bán lại nhà ở xã hội, thì theo khoản 1 và khoản 2 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015, hết 02 năm kể từ ngày xác lập giao dịch mà không có yêu cầu tuyên bố vô hiệu thì giao dịch có hiệu lực; ngoài ra, theo khoản 2 Điều 129, Tòa án có thể công nhận hiệu lực nếu một hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ. Khi đó bạn có cơ sở khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng mua bán và buộc chủ cũ thực hiện thủ tục công chứng, sang tên; bản án có hiệu lực là căn cứ để đăng ký biến động. Tuy nhiên, với nhà ở xã hội, Tòa án thường xem xét chặt điều kiện này nên khả năng thành công phụ thuộc nhiều vào hồ sơ cụ thể.
Trong cả hai trường hợp, nếu bạn khởi kiện, nên đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm chuyển dịch quyền về tài sản đang tranh chấp (Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015) để tránh việc chủ cũ bán hoặc chuyển nhượng căn nhà cho người khác trong lúc vụ việc đang được giải quyết.
Để đánh giá bạn thuộc khả năng nào, cần làm rõ: ngày lập vi bằng so với ngày chủ cũ thanh toán đủ tiền cho chủ đầu tư (có nằm trong 05 năm hay không); bạn có thuộc đối tượng được mua nhà ở xã hội hay không; giá bán trong vi bằng so với giá mua của chủ cũ; số tiền bạn đã thanh toán trên tổng giá (có đạt hai phần ba hay không); và ngày chủ cũ được cấp sổ.
Để tư vấn chính xác và sát với vụ việc hơn, VPLS cần bạn cung cấp thêm: bản vi bằng, chứng từ thanh toán tiền; thông tin hợp đồng mua bán nhà ở xã hội giữa chủ cũ và chủ đầu tư (ngày thanh toán đủ tiền, tình trạng cấp sổ) và thông tin về việc bạn có đủ điều kiện mua nhà ở xã hội hay không.
Trên đây là ý kiến tư vấn pháp lý của Văn phòng Luật sư Triển Luật dựa trên những thông tin bạn cung cấp. Trong trường hợp còn vướng mắc, cần hỗ trợ trong việc kiểm tra quy định pháp luật hoặc chuẩn bị hồ sơ, soạn thảo đơn từ, bạn có thể liên hệ trụ sở VPLS tại số 213A Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TP.HCM hoặc gọi điện thoại cho Luật sư Thảo theo số 0776820693 nhé.
-
Tư vấn ly hôn
Bản thân em đã từng bắt chồng ngoại tình, chồng cũng đã xin lỗi gia đình em và đã hứa rằng sẽ về lo cho vợ con. Nhưng mà mới gần đây nhất thì em phát hiện anh ta từng ghé nhà tiểu tam từ khuya, em có hỏi và cũng chối với em. Em dằn vặt hoài nếu ly hôn thì em sẽ bị nói chuyện có chút xíu mà dẫn đến ly hôn. Em xin lời khuyên có cách nào ly hôn êm đẹp không ạ
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Tư vấn ly hôn
Muốn ly hôn êm đẹp thì chỉ có 2 vc thuận tình ly hôn thôi.
Liên hệ Ls Thảo (077.682.0693) - Trưởng VPLS TRiển Luật nhé,
Tks
-
Li hôn
Em muốn li hôn đơn phương có thể tư vấn và làm hồ sơ giúp em đc không
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Li hôn
Liên hệ Ls Thảo (077.682.0693) - trưởng VPLS Triển Luật, 213A Nguyễn XÍ, P, Bình Lợi Trung, TPHCM nhé.
Tks.
-
Con chung
Dạ chào luật sư, em là K. Em và anh L kết hôn được 10 năm, có một con chung là cháu P (6 tuổi). Một năm trước, anh L phát hiện em có quan hệ ngoài luồng nên đã nộp đơn xin ly hôn. Sau khi Tòa giải quyết, cháu P được giao cho anh L trực tiếp nuôi, còn em đã tái hôn với anh Q và về sống ở nhà anh Q. Vì rất nhớ con và muốn được chăm sóc con, em nhiều lần đến nhà anh L để thăm cháu, nhưng anh L không cho em gặp và nghiêm cấm cháu P gặp mẹ, với lý do em là người phá vỡ hạnh phúc gia đình nên không xứng đáng làm mẹ. Việc anh L không cho em gặp và chăm sóc con như vậy là đúng hay sai theo quy định của pháp luật? Em có quyền gì đối với con khi không trực tiếp nuôi, và nếu anh L tiếp tục cản trở thì em nên làm thế nào?
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Con chung
Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về Văn phòng Luật sư Triển Luật của chúng tôi. Sau đây là câu trả lời của chúng tôi về câu hỏi của bạn:
Việc anh L ngăn cấm bạn gặp gỡ, thăm nom và chăm sóc cháu P chỉ vì bạn từng có quan hệ ngoài luồng và đã tái hôn là trái quy định pháp luật.
Khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định:
“Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”
“Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”
Như vậy, mặc dù Tòa án đã giao cháu P cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng nhưng bạn vẫn có quyền và nghĩa vụ đối với con theo quy định pháp luật. Việc bạn từng có quan hệ ngoài luồng hoặc đã kết hôn với anh Q không đương nhiên làm mất quyền thăm nom con của bạn, trừ trường hợp quyền này bị Tòa án hạn chế theo quy định tại Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Trường hợp anh L tiếp tục cố tình cản trở không cho bạn gặp cháu thì bạn có thể thương lượng, thỏa thuận lại với anh L về thời gian thăm con. Trường hợp anh L tiếp tục không đồng ý bạn có thể gửi đơn đề nghị UBND cấp xã nơi anh L cư trú xem xét, can thiệp và xử lý theo quy định. Nếu các phương án trên đã thực hiện mà anh L và gia đình vẫn nhất quyết cản trở việc thăm nom của bạn thì bạn có thể khởi kiện tại Tòa yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng Luật sư Triển Luật về vấn đề bạn yêu cầu. Nếu bạn còn vướng mắc hoặc cần hỗ trợ các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TPHCM, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể
-
Đất đai
Đất mua giấy tay, chưa được cấp sổ, đã sinh sống trên đất từ lâu và không có tranh chấp, vậy khi người mua đất chết thì người thừa kế có được xin cấp sổ hay không? thửa đất này có được chia di sản nếu đất chưa được cấp sổ không?
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Đất đai
Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về Văn phòng Luật sư Triển Luật của chúng tôi. Sau đây là câu trả lời của chúng tôi về câu hỏi của bạn:
Trong trường hợp này, đầu tiên gia đình bạn cần xác định thửa đất trên có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không theo quy định tại Điều 137 Luật đất đai 2024 đối với trường hợp Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất hoặc Điều 138 quy định Đối với trường hợp người đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất. Trường hợp thửa đất đủ điều kiện để thực hiện thủ tục xin cấp GCNQSDĐ thì có thể nhận thừa kế quy định pháp luật và nộp hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ.
Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng Luật sư Triển Luật về vấn đề bạn yêu cầu. Nếu bạn còn vướng mắc hoặc cần hỗ trợ các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TPHCM, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể
-
Lợi dụng lòng tin lừa đảo tiền
Họ lừa gạt tình cảm, nghi ngờ là nói dối mang thai để lửa đảo tiền. Khi đòi tiền thì hẹn ngày này ngày kia không trả. Có đầy đủ bill chuyển tiền và tin nhắn họ nhận là đã vay. Số tiền 95tr. Họ làm hiệu phó trường mần non trên thành phố lào cai. Bây giờ e đang bên nước ngoải muốn nhờ luât sư kiện đòi lại số tiền được ko ạh.
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Lợi dụng lòng tin lừa đảo tiền
Chào bạn, về vấn đề bạn đề cập nêu trên, chúng tôi có một số ý kiến tư vấn như sau:
1. Bạn cần thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình như sau:
- Sao kê, hóa đơn/bill chuyển tiền: Chứng minh việc bạn đã chuyển tiền cho người đó.
- Tin nhắn người đó thừa nhận đã vay tiền: Đây là chứng cứ quan trọng để chứng minh quan hệ vay tài sản và nghĩa vụ trả nợ.
- Tin nhắn hẹn ngày trả tiền nhiều lần nhưng không thực hiện: Có thể sử dụng để chứng minh quá trình yêu cầu thanh toán và việc người vay không thực hiện nghĩa vụ.
- Các tin nhắn trao đổi về chuyện tình cảm, mang thai (nếu có): Có thể có giá trị chứng minh thủ đoạn gian dối, tùy nội dung cụ thể và mối liên hệ với việc chuyển tiền.
è Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, người vay có nghĩa vụ hoàn trả tiền khi đến hạn. Nếu không trả, bạn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc người vay thanh toán khoản nợ, đồng thời xem xét yêu cầu trả lãi theo quy định pháp luật.
è Nếu người đó dùng thông tin giả về tình cảm hoặc việc mang thai, đưa ra những thông tin không đúng sự thật để khiến bạn tin tưởng, dựa vào những thông tin đó để yêu cầu bạn chuyển tiền, ngay từ đầu đã có ý định chiếm đoạt tiền thì bạn có thể tố cáo hành vi của người đó kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh đến cơ quan công an có thẩm quyền để yêu cầu xem xét dấu hiệu của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung.
2. Bạn không nhất thiết phải về Việt Nam để trực tiếp thực hiện. Bạn có thể lập văn bản ủy quyền cho Luật sư hoặc người đại diện hợp pháp thực hiện các công việc cần thiết để tham gia tố tụng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bạn.
Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng Luật sư Triển Luật về vấn đề bạn yêu cầu. Nếu bạn còn vướng mắc hoặc cần báo giá dịch vụ pháp lý, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, Tp. Hồ Chí Minh, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể.
-
Xin xac nhan thong tin cu tru.
Xin chao LS Hien tai toi o Phap 40 nam roi, Dai Su Quan VN tai Phap muon xac nhan thong tin cu tru cua toi luc o VN, muc dich toi muon "xin cap ho chieu Vietnam" Vay, chinh xac Co Quan nao co the giup toi xac nhan? Cam on L.S quan tam va hoi am.
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Xin xac nhan thong tin cu tru.
Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho VPLS Triển Luật, đối với câu hỏi của bạn, VPLS Triển Luật giải đáp như sau:
Trường hợp bạn đã sinh sống tại Pháp khoảng 40 năm và cần xác nhận thông tin cư trú trước đây tại Việt Nam để làm thủ tục xin cấp hộ chiếu Việt Nam, bạn cần liên hệ Công an xã/phường nơi bạn đã đăng ký thường trú trước khi ra nước ngoài (cũng là nơi cư trú cuối cùng của bạn tại Việt Nam trước khi xuất cảnh) để đề nghị tra cứu và xác nhận thông tin cư trú trong hồ sơ lưu trữ hoặc Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Nếu thông tin cư trú cũ không còn trên hệ thống, bạn nên cung cấp các giấy tờ còn lưu giữ như sổ hộ khẩu cũ, chứng minh nhân dân, giấy khai sinh hoặc giấy tờ có ghi địa chỉ cư trú để hỗ trợ việc tra cứu.
Đồng thời, bạn nên liên hệ Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp để xác nhận chính xác loại giấy tờ cần bổ sung cho hồ sơ cấp hộ chiếu, tránh mất thời gian xin xác nhận không đúng yêu cầu.
Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng Luật sư Triển Luật về vấn đề bạn yêu cầu. Nếu bạn còn vướng mắc hoặc cần báo giá dịch vụ pháp lý, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TPHCM, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể
