Hồ Ngọc Hiền Thảo
Tổng cộng: 1172
-
Tư vấn về đất đai
Tôi có 2 miếng đất cùng xã đều có thổ cư trên đất, 1 miếng đang để ko là miếng mà con tôi mua và nhờ tôi đứng tên, miếng còn lại nhà tổ ông bà mất tôi lớn nên đứng tên và đang ở trên đó. Giờ miếng mà đang ở bị trúng đường giải tỏa, xã kêu tôi ko dc cấp đất tái định cư vì còn 1 miếng đất khác cùng xã, chỉ đền bù tiền. Liệu tôi có thể trình bày tôi chỉ đứng tên hộ cho con trai được không, vì tôi chỉ làm nông tiền đâu ra mua đất và đứng tên, tôi đã liên hệ xã họ kêu ko trình bày được, nhưng tôi vẫn mong muốn tiếp tục làm đơn kiến nghị.
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Tư vấn về đất đai
Chào bạn, về vấn đề được đặt ra như trên, chúng tôi có một số ý kiến tư vấn như sau:
Theo thông tin bạn cung cấp, thửa đất ở thứ hai hiện vẫn được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bạn. Do đó, về mặt pháp lý, cơ quan nhà nước có căn cứ xác định bạn là người có quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất này và xem xét đây là một trong những điều kiện khi đánh giá quyền được bố trí tái định cư.
Tuy nhiên, việc bạn còn đứng tên một thửa đất khác trong cùng địa phương không đồng nghĩa với việc đương nhiên không được bố trí tái định cư. Việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải được xem xét trên cơ sở quy định của Luật Đất đai năm 2024, Nghị định 88/2024/NĐ-CP và phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt cho dự án cụ thể.
Theo Điều 111 Luật Đất đai 2024, trường hợp Nhà nước thu hồi đất ở mà người sử dụng đất phải di chuyển chỗ ở thì việc bố trí tái định cư được thực hiện theo điều kiện và tiêu chí do pháp luật quy định. Đồng thời, khoản 2 Điều 11 Nghị định 88/2024/NĐ-CP quy định trường hợp người bị thu hồi đất không còn đất ở hoặc nhà ở khác trên địa bàn cấp xã nơi có đất bị thu hồi thì được xem xét bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư. Đối với trường hợp vẫn còn đất ở hoặc nhà ở khác, cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ vào điều kiện thực tế, chính sách áp dụng tại địa phương và quỹ đất, quỹ nhà hiện có để quyết định hình thức bồi thường, hỗ trợ phù hợp.
Trong trường hợp của bạn, nếu thửa đất thứ hai thực tế do con trai bạn bỏ tiền nhận chuyển nhượng, còn bạn chỉ là người đứng tên trên Giấy chứng nhận thì bạn vẫn có quyền trình bày và cung cấp tài liệu chứng minh về nguồn gốc hình thành tài sản. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng cơ quan bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thường chỉ căn cứ vào tình trạng pháp lý thể hiện trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để xem xét quyền lợi của người sử dụng đất. Việc một người cho rằng mình chỉ "đứng tên hộ" cho người khác sẽ không đương nhiên được cơ quan hành chính chấp nhận nếu không có căn cứ chứng minh rõ ràng.
Do đó, khi làm đơn kiến nghị, bạn nên trình bày đầy đủ các nội dung sau:
- Nguồn gốc hình thành thửa đất thứ hai;
- Người thực tế bỏ tiền nhận chuyển nhượng;
- Quá trình quản lý, sử dụng đất trên thực tế;
- Lý do Giấy chứng nhận được cấp đứng tên bạn;
- Hoàn cảnh chỗ ở hiện tại và nhu cầu thực tế về
nơi ở sau khi bị thu hồi đất.
Ngoài ra, theo quy định của Luật Đất đai 2024, người có đất bị thu hồi có quyền tham gia ý kiến đối với phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Vì vậy, bạn nên yêu cầu cơ quan bồi thường hoặc UBND có thẩm quyền trả lời bằng văn bản, nêu rõ căn cứ pháp lý và căn cứ thực tế dẫn đến việc xác định bạn không đủ điều kiện được bố trí tái định cư.
Trong trường hợp phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chưa được phê duyệt, bạn nên gửi đơn kiến nghị ngay để được xem xét từ đầu. Nếu đã có quyết định hoặc phương án được phê duyệt chính thức, cần xem xét cụ thể nội dung quyết định để xác định hướng khiếu nại hoặc kiến nghị phù hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Nếu muốn được tư vấn cụ thể hơn, bạn có thể liên hệ chúng tôi và cung cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các thửa đất liên quan, phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hoặc văn bản trả lời của cơ quan có thẩm quyền để được đánh giá chính xác trong trường hợp này.
Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng luật sư Triển Luật về vấn đề anh yêu cầu. Nếu anh còn vướng mắc hoặc cần hỗ trợ các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TPHCM, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể.
- Nguồn gốc hình thành thửa đất thứ hai;
-
chia đất
Xin chào luật sư. Xin luật sư tư vấn giúp tôi với ạ. Thanks luật sư nhiều. Bố mẹ tôi sinh được 5 anh em. Năm 2008 mẹ tôi mất. Nhà tôi có cái ao 650m2 các cụ để lại. Đến năm 2018 thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mục đích trồng cây nâu năm. Đến 2026. Chuyển mục đích sử dụng đất thành đất ở. Nay làm thủ tục chia đất cho 2 người con thứ 4 và 5 thì có cần. Lấy chữ ký của 3 người con, còn lại không. Trên sổ chỉ có một mình bố tôi đứng tên. Tôi thanks các luật sư nhiều
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
chia đất
Theo thông tin bạn cung cấp, hiện chưa có đủ cơ sở để chỉ căn cứ vào việc Giấy chứng nhận hiện chỉ đứng tên người bố để kết luận 3 người con còn lại không có quyền liên quan.
1. Nếu thửa đất 650m² là tài sản do ông bà để lại cho bố mẹ, thì cần xác định quyền sử dụng đất của mẹ tại thời điểm mẹ mất năm 2008. Theo đó, bạn cần làm rõ:
- Đất 650m² ban đầu là tài sản
của riêng bố hay tài sản chung của bố mẹ/di sản của ông bà để lại;
- Khi mẹ mất năm 2008 có để lại
di chúc hay không;
- Những người thuộc hàng thừa kế
của mẹ và việc phân chia di sản của mẹ trong quyền sử dụng 650m2 đất đã được
thực hiện chưa;
- Việc cấp Giấy chứng nhận năm
2018 chỉ đứng tên bố được cấp trên cơ sở giấy tờ/thỏa thuận nào.
2. Trong trường hợp, các tài liệu, chứng cứ xác định toàn bộ 650m² là quyền sử dụng đất hợp pháp của riêng bố thì bố có quyền tặng cho/chia cho con thứ 4 và 5 và về nguyên tắc không cần chữ ký của 3 người con còn lại.
3. Nếu tài sản đó sau khi mẹ mất, được cấp cho hộ gia đình, thì khi định đoạt đều phải có chữ ký của tất cả các thành viên trong hộ.
4. Ngược lại, nếu trong 650m² đất có phần là di sản của mẹ chưa chia thừa kế, thì cần giải quyết quyền thừa kế của bà trước; khi đó 3 người con còn lại có quyền đối với phần di sản và không thể mặc nhiên bỏ qua chữ ký/quyền của họ.
Vì vậy, trường hợp này bạn nên kiểm tra hồ sơ cấp sổ năm 2018 và nguồn gốc 650m² đất trước khi thực hiện thủ tục tặng cho/tách thửa. Việc chuyển mục đích sang đất ở năm 2026 không tự làm thay đổi quyền thừa kế đã phát sinh từ năm 2008.
Trên đây là ý kiến tư vấn pháp lý của Văn phòng Luật sư Triển Luật dựa trên những thông tin bạn cung cấp. Trong trường hợp còn vướng mắc, cần hỗ trợ trong việc kiểm tra quy định pháp luật hoặc chuẩn bị hồ sơ, bạn có thể liên hệ trụ sở VPLS tại số 213A Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TP.HCM hoặc gọi điện thoại cho Luật sư Thảo số 0776820693 nhé.
- Đất 650m² ban đầu là tài sản
của riêng bố hay tài sản chung của bố mẹ/di sản của ông bà để lại;
-
Giúp em lấy lại tiền cho vay
Em có chuyện này nhờ các luật sư tư vấn a ( Em có giấy vay nợ, có sao kê chuyển tiền ghi chữ cho vay, có tin nhắn đòi không chịu trả sau đó đối tượng nhắn tin dọa nạt nếu mày nói cho người ngoài biết tao sẽ cả nhà mày biết tay. Tiếp theo đối tượng còn vu khống và bôi nhọ người nhà mình làm gái mại dâm để gia đình mình xấu hổ không dám tố cáo. Cho em hỏi đó là dân sự hay hình sự a
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Giúp em lấy lại tiền cho vay
Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về Văn phòng Luật sư Triển Luật của chúng tôi, sau đây là câu trả lời của chúng tôi về câu hỏi của bạn:
Bạn gửi đơn tố giác tội phạm đến cơ quan công an gần nhất để yêu cầu giải quyết. Cơ quan chức năng sẽ xem xét trong trường hợp của bạn có yếu tố hình sự hay không. Trong trường hợp cơ quan chức năng cho rằng trường hợp này có dấu hiệu hình sư thì đối tượng kia có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Nếu người đó biết rõ thông tin là sai sự thật nhưng vẫn bịa đặt, loan truyền việc người nhà bạn làm mại dâm, hành vi có thể được xem xét theo Điều 156 Bộ luật Hình sự về tội vu khống. Tùy nội dung và mức độ xúc phạm, cơ quan có thẩm quyền cũng có thể xem xét Điều 155 về tội làm nhục người khác. Bạn nên thu tập tất cả tài liệu về khoản vay, tin nhắn không đồng ý trả nợ, đe dọa, dọa nạt, bôi nhọ danh dự để cung cấp cho cơ quan công an.Trường hợp cơ quan chức năng xem xét nhưng không thấy có dấu hiệu hình sự, bạn có thể khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu đòi nợ. Tòa án sẽ căn cứ vào các chứng cứ các bên cung cấp và căn cứ vào quy định pháp luật để xem xét có chấp nhận yêu cầu của bạn hay không. Do thông tin bạn cung cấp chưa đầy đủ nên chúng tôi chưa thể tư vấn đầy đủ cho bạn được. Bạn có thể liên hệ trực tiếp văn phòng để được tư vấn trực tiếp và toàn diện hơn từ đó đưa ra phương án giải quyết một cách đầy đủ và tốt nhất cho bạn.
Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng Luật sư Triển Luật về vấn đề bạn yêu cầu. Nếu bạn còn vướng mắc hoặc cần hỗ trợ các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TPHCM, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể.
-
lua dao
luật sư cho hỏi, năm 2022 bên cò đất có làm hồ sơ 1 lô đất và bảo bán rẻ cho mình 200m với giá 400tr bảo mình đưa trước đợi làm giấy tờ xong sẽ sang tên, mà đến bây giờ 2026 rồi vẫn chưa thấy giấy tờ đất nào cả hỏi thì cứ hẹn bảo bên cơ quan chưa làm hồ sơ xong. Đợt năm ngoái có viết giấy là hết năm 2025 nếu ko ra giấy là trả lại 400 triệu cho mình rồi mà giờ 2026 vẫn cù nhây hẹn, giờ làm sao ạ
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
lua dao
Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho VPLS Triển Luật, đối với câu hỏi của bạn, VPLS Triển Luật giải đáp như sau:
Trường hợp này, trước hết cần xác định 400 triệu đồng được giao cho bên bán/cò đất theo hình thức đặt cọc, tiền trả trước hay một thỏa thuận khác, và trong giấy tờ hai bên có ghi rõ thời hạn hoàn tất hồ sơ, sang tên hoặc điều kiện hoàn tiền hay không.
Nếu đúng như thông tin cung cấp, năm 2022 đã giao 400 triệu để mua lô đất nhưng đến nay vẫn chưa có giấy tờ để sang tên, trong khi hai bên còn lập giấy xác nhận rằng đến hết năm 2025 nếu không có giấy tờ thì phải trả lại 400 triệu, thì hiện nay bên nhận tiền đã không thực hiện đúng cam kết. Có thể yêu cầu họ hoàn trả 400 triệu đồng theo thỏa thuận; nếu số tiền được xác định là tiền đặt cọc thì còn có thể xem xét quyền yêu cầu phạt cọc theo Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, tùy nội dung giấy tờ và lỗi vi phạm của các bên.
Ngoài ra, cần đặc biệt kiểm tra lô đất thực tế có Giấy chứng nhận hay chưa, ai là người đứng tên, có đủ điều kiện chuyển nhượng hay không. Theo Điều 45 Luật Đất đai 2024, về nguyên tắc người sử dụng đất phải có Giấy chứng nhận và đáp ứng các điều kiện luật định mới được thực hiện quyền chuyển nhượng.
Nếu bên kia tiếp tục trì hoãn, nên gửi văn bản yêu cầu hoàn trả 400 triệu đồng, ấn định thời hạn cụ thể. Nếu hết thời hạn vẫn không trả, có thể xem xét khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu hoàn trả tiền và các khoản liên quan. Trường hợp có dấu hiệu ngay từ đầu người nhận tiền không có đất, không có khả năng làm thủ tục nhưng đưa ra thông tin gian dối để nhận tiền thì cần xem xét thêm dấu hiệu của hành vi hình sự.
Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng Luật sư Triển Luật về vấn đề mà bạn yêu cầu. Nếu còn vướng mắc hoặc cần hỗ trợ các vấn đề pháp lý khác, bạn vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TPHCM, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể.
-
đất đai
Đất hiện đứng tên bố em, ông bà nội đã mất di chúc lại cho bố, nhà e có 2 anh em trai không tranh chấp gì hết sau tính ông bà mất thì chia đều mỗi người một nửa. Hiện đã có sổ nhưng là cái sổ bìa đỏ cũ chứ chưa phải sổ mới. Em và anh trai thì cũng không có nhu cầu tách sổ hay sang tên gì nhưng bố e năm nay hơn 70t rồi, mọi người cho e hỏi giả sử mà sau bố e mất ko để lại di chúc gì thì việc tách thử và sang tên cho 2 con có gặp vướng mắc thủ tục gì không? Có cần phải tách và sang tên trước ko ạ? E cảm ơn!
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
đất đai
Chào bạn, về vấn đề bạn đề cập nêu trên, chúng tôi có một số ý kiến tư vấn như sau:
1. Hiện tại GCN đứng tên riêng bố bạn, sau khi bố mất mà không để lại di chúc, về nguyên tắc quyền sử dụng đất sẽ trở thành di sản thừa kế và được chia theo pháp luật. Việc thừa kế quyền sử dụng đất là trường hợp được pháp luật công nhận và đăng ký biến động.
- Bố mất → xác định những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất: gồm vợ, cha mẹ của bố (nếu còn sống) và các con.
- Những người thừa kế làm thủ tục khai nhận/phân chia di sản.
- Nếu chỉ có 2 anh em là người thừa kế thì có thể thỏa thuận mỗi người ½. Nếu vợ của bố còn sống thì sẽ chia 3, mỗi người 1/3, hoặc vợ của bố từ chối quyền thừa kế thì anh em bạn mỗi người ½.
- Sau đó làm thủ tục đăng ký biến động để đứng tên hai người; nếu muốn mỗi người có một phần đất riêng thì mới thực hiện tiếp thủ tục tách thửa, nếu đủ điều kiện tách thửa tại địa phương.
2. Sổ đỏ bìa đỏ cũ không bắt buộc phải đổi sang mẫu sổ mới trước khi thực hiện thủ tục tặng cho hay thừa kế. Việc đã được cấp GCN trước đây không phải đổi lại chỉ vì mẫu giấy cũ.
3. Tuy pháp luật không bắt buộc phải tách thửa, sang tên cho các con trước khi bố mất, nhưng nếu gia đình đã thống nhất rõ việc chia đất cho 02 anh em thì có thể cân nhắc thực hiện khi bố còn minh mẫn và để giảm thủ tục về sau.
4. Việc lập di chúc cũng là phương án cần cân nhắc nếu bố vẫn muốn giữ quyền sử dụng đất của mình cho đến khi qua đời. Lưu ý trường hợp nếu bố chỉ di chúc cho 2 anh em nhưng có người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (vợ của bố, con dưới 18 tuổi hoặc con trên 18 tuổi không có khả năng lao động) thì những người này vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật.
Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng Luật sư Triển Luật về vấn đề bạn yêu cầu. Nếu bạn còn vướng mắc hoặc cần báo giá dịch vụ pháp lý, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, Tp. Hồ Chí Minh, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể.
-
Em muốn hỏi về thủ tục nhà đất
Cho em hỏi. Chồng em mất được 7 năm. Giờ ông bà nội muốn sang tên đất cho cháu nội ( tức con của vợ chồng em) lên công chứng họ bắt phải có giấy khai sinh của chồng em là sao ạ? em cần luật sư tư vấn ạ
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Em muốn hỏi về thủ tục nhà đất
Giấy khai sinh của chồng để chứng minh mối quan hệ cha - mẹ - con giữa chồng và cha mẹ chồng, vì cha mẹ chồng cũng là hàng thừa kế thứ 1 của chồng.
Mình nên trích lục giấy khai sinh hoặc Trích lục tờ khai gia đình năm 1975 để nộp cho Phòng công chứng nhé.
Tks.
-
di chúc
xin chào luật sư. tôi muốn được luật sư sư tư vấn về vấn đề thừa kế ko đi chúc có được ko ạ !
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
di chúc
Liên hệ Luật sư Thảo (zalo 077.682.0693) nhé.
Tks
-
Chuyen nham tien noi dang chap hanh an
Nguoi ta có chuyên tiền cho tôi nhưng nhâm sang tài khoản nguoi chap hành án tù . Phía gia đình cũng ra ngân hàng xác nhận cùng tôi nhưng do nguoi nhận đang chấp hành án và nguoi gui tôi ko liên hệ đuoc , vậy muốn?nhận số tiền đó bàng cách nào vậy , mong luật sư gíir thích dùm và công chứng ủy quyền cho tôi duoc ko
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
Chuyen nham tien noi dang chap hanh an
Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho VPLS Triển Luật, đối với câu hỏi của bạn, VPLS Triển
Luật xin phản hồi như sau:
1. Nếu tiền đã chuyển nhầm vào tài khoản ngân hàng đứng tên người đang chấp hành án
Trước hết, người chuyển tiền cần yêu cầu ngân hàng của mình lập tra soát giao dịch và đề nghị thu hồi/hoàn trả tiền chuyển nhầm.
Bạn nên cung cấp cho ngân hàng:
- ü Ủy nhiệm chi hoặc chứng từ giao dịch;
- ü
Sao kê thể hiện giao dịch;
- ü
Nội dung chứng minh người nhận thực
tế phải là bạn;
- ü
Văn bản xác nhận của gia đình người
đang chấp hành án, nếu có;
- ü Thông tin tài khoản nhận nhầm và số tiền chuyển nhầm.
Theo khoản 3 Điều 18 Thông tư 15/2024/TT-NHNN, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân hoàn trả đầy đủ số tiền thụ hưởng do chuyển thừa, chuyển nhầm.
Đồng thời, theo điểm d khoản 2 Điều 20 Thông tư 17/2024/TT-NHNN, chủ tài khoản có nghĩa vụ hoàn trả hoặc phối hợp với ngân hàng hoàn trả khoản tiền do sai sót, nhầm lẫn đã ghi Có vào tài khoản của mình.
Tuy nhiên, nếu tài khoản đứng tên người đang chấp hành án thì ngân hàng thường không thể tự ý chuyển tiền sang tài khoản của bạn nếu chưa có:
- ü Sự xác nhận, đồng ý hoặc ủy quyền hợp lệ của chủ tài khoản; hoặc
- ü Quyết định, yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Vì vậy, việc gia đình người đang chấp hành án xác nhận với ngân hàng có thể hỗ trợ quá trình tra soát, nhưng thông thường chưa thay thế được ý chí hoặc văn bản ủy quyền của chính chủ tài khoản.
2. Có thể lập giấy ủy quyền tại trại giam không?
Có thể. Đối với tiền, giấy tờ hoặc quyền lợi liên quan đến thi hành án dân sự, khoản 9 Điều 3 Thông tư liên tịch 07/2013/TTLT/BTP-BCA-BTC quy định trường hợp phạm nhân là người được thi hành án dân sự trực tiếp đề nghị ủy quyền cho người thân nhận tiền, giấy tờ thì trại giam có trách nhiệm:
- ü Lập biên bản về việc ủy quyền; hoặc
- ü Xác nhận vào giấy ủy quyền;
- ü Gửi biên bản hoặc giấy ủy quyền cho cơ quan thi hành án dân sự.
Quy định mới cũng xác định rõ hơn rằng, theo khoản 2 Điều 2 Nghị định 152/2026/NĐ-CP, nếu đương sự đang chấp hành hình phạt tù thì văn bản ủy quyền trong giai đoạn thi hành án dân sự phải có xác nhận của:
- ü Trại giam;
- ü Trại tạm giam;
- ü Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh; hoặc
- ü Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
Vì vậy, không nhất thiết phải đưa người đang chấp hành án ra ngoài để công chứng tại văn phòng công chứng. Bạn nên liên hệ trực tiếp với trại giam nơi người đó đang chấp hành án, đề nghị hướng dẫn lập giấy ủy quyền có xác nhận của trại giam.
Tuy nhiên, cần lưu ý: quy định tại khoản 9 Điều 3 Thông tư liên tịch 07/2013/TTLT/BTP-BCA-BTC chủ yếu áp dụng cho tiền, giấy tờ được chuyển đến phạm nhân thông qua cơ quan thi hành án dân sự trong vụ việc thi hành án dân sự. Nếu đây chỉ là giao dịch chuyển khoản ngân hàng dân sự thông thường, ngân hàng có thể yêu cầu sử dụng mẫu ủy quyền hoặc thủ tục riêng của ngân hàng.
3. Nếu người gửi tiền không liên hệ được với bạn thì phải làm gì?
Người gửi tiền không nhất thiết phải trực tiếp liên hệ với người đang chấp hành án. Người gửi nên:
- ü Đến ngân hàng nơi mình chuyển tiền để yêu cầu tra soát và thu hồi giao
dịch chuyển nhầm;
- ü
Đề nghị ngân hàng gửi văn bản yêu
cầu ngân hàng nhận tiền liên hệ với chủ tài khoản;
- ü
Cung cấp cho ngân hàng tài liệu
chứng minh người nhận đúng phải là bạn;
- ü
Đề nghị ngân hàng phối hợp với trại
giam hoặc cơ quan có thẩm quyền để lấy xác nhận của chủ tài khoản;
- ü
Nếu người đang chấp hành án đồng ý,
người đó lập giấy ủy quyền cho bạn hoặc cho người phù hợp nhận và xử lý khoản
tiền;
- ü Sau khi có văn bản ủy quyền được trại giam xác nhận, gửi văn bản này cho
ngân hàng để thực hiện thủ tục hoàn trả hoặc chuyển tiền theo quy định của ngân
hàng.
- Nếu không thể lấy được ý kiến hoặc
giấy ủy quyền của chủ tài khoản, người gửi tiền có thể phải thực hiện thủ tục
yêu cầu ngân hàng xử lý giao dịch chuyển nhầm và, nếu cần, yêu cầu cơ quan có
thẩm quyền giải quyết tranh chấp hoặc yêu cầu người nhận tiền hoàn trả.
4. Bạn có nên tự làm giấy ủy quyền rồi đem đi công chứng không?
Bạn không nên chỉ tự soạn giấy ủy quyền và đem công chứng một phía, vì người ủy quyền phải trực tiếp thể hiện ý chí và ký hoặc điểm chỉ vào giấy ủy quyền.
Cách phù hợp hơn là:
- ü Liên hệ trại giam nơi người đó đang chấp hành án;
- ü
Đề nghị trại giam cho người đó lập
giấy ủy quyền;
- ü
Ghi rõ người được ủy quyền, số căn
cước, địa chỉ, số tiền, thông tin giao dịch và phạm vi ủy quyền;
- ü
Đề nghị trại giam lập biên bản hoặc
xác nhận vào giấy ủy quyền;
- ü Gửi bản gốc hoặc bản sao hợp lệ cho ngân hàng.
Bạn có khả năng nhận được khoản tiền nếu ngân hàng xác định đây là giao dịch chuyển nhầm và người đang đứng tên tài khoản lập giấy ủy quyền hoặc có văn bản xác nhận phù hợp. Trong trường hợp này, giấy ủy quyền có thể được xác nhận tại trại giam; không nhất thiết phải công chứng tại văn phòng công chứng. Bạn nên yêu cầu ngân hàng trả lời bằng văn bản về hồ sơ cụ thể cần nộp, vì thủ tục có thể khác nhau tùy khoản tiền đang nằm trong tài khoản ngân hàng cá nhân hay đang được quản lý tại tài khoản lưu ký của trại giam.
Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng Luật sư Triển Luật về vấn đề mà bạn yêu cầu. Nếu còn vướng mắc hoặc cần hỗ trợ các vấn đề pháp lý khác, bạn vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TPHCM, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể.
- ü Ủy nhiệm chi hoặc chứng từ giao dịch;
-
hình sự
Luật sư cho em hỏi sử sơ thẩm bị 6 tháng tù treo vậy sử phúc thẩm hình phạt có tăng lên ko hay vẫn giữ nguyên hình phạt , em là bị hại và hôm sử phúc thẩm kia e ko tham gia đc ko ,lý do sức khỏe ko đc tốt ạ
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
hình sự
Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về Văn phòng Luật sư Triển Luật của chúng tôi, sau đây là câu trả lời của chúng tôi về câu hỏi của bạn:
Căn cứ Điều 345, 357 Bộ Luật tố tụng Hình sự 2015 quy định:
“Điều 345. Phạm vi xét xử phúc thẩm
Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phần nội dung của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết, có thể xem xét các phần khác của bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị.
1. Khi có căn cứ xác định bản án sơ thẩm đã tuyên không đúng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo hoặc có tình tiết mới thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm như sau:
a) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung; không áp dụng biện pháp tư pháp;
b) Áp dụng điều, khoản của Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn;
c) Giảm hình phạt cho bị cáo;
d) Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng;
đ) Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn;
e) Giữ nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù và cho hưởng án treo.
2. Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc bị hại kháng cáo yêu cầu thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể:
a) Tăng hình phạt, áp dụng điều, khoản của Bộ luật hình sự về tội nặng hơn; áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng biện pháp tư pháp;
b) Tăng mức bồi thường thiệt hại;
c) Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nặng hơn;
d) Không cho bị cáo hưởng án treo.
Nếu có căn cứ thì Hội đồng xét xử vẫn có thể giảm hình phạt, áp dụng điều, khoản của Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo, giảm mức bồi thường thiệt hại.
3. Trường hợp có căn cứ, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể sửa bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều này cho những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị.”
Theo đó, Trường hợp nếu bị cáo có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt thị tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ để đưa ra mức án có giảm hay không, sẽ không tặng nặng hình phạt. Trường hợp người bị hại có kháng cáo đề nghị tăng nặng hoặc kháng nghị của Viện Kiểm sát thì tòa án sẽ xem xét về việc có hay không tình tiết tăng nặng hình phạt trước khi tuyên án.
Trường hợp nếu bạn không thể tham dự phiên tòa phúc thẩm vì lý do sức khỏe và có căn cứ chứng minh đây là lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể vẫn tiến hành xét xử mà không cần bạn có mặt; việc bạn vắng mặt không gây cản trở đến việc xét xử của Tòa án.
Trên đây là nội dung tư vấn của Văn phòng Luật sư Triển Luật về vấn đề bạn yêu cầu. Nếu bạn còn vướng mắc hoặc cần hỗ trợ các vấn đề pháp lý khác, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TPHCM, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư vấn và giải đáp cụ thể.
-
giao thông
Con gái mình 16 tuổi, cháu mới bị tai nạn xe. Giờ người nhà bên chủ xe và lái xe muốn gặp nhà mình để nói chuyện. Luật sư có thể hướng dẫn giúp đỡ mình giải đáp và hỗ trợ mình các thông tin cần thiết để đòi quyền lợi cho bé đc ko ạ. ( bé đi xe điện, bị ô tô đâm. Bé mất tay phải và gãy đù trái, gãy xương chậu)
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo đã trả lời
giao thông
Trước hết, xin chia sẻ với gia đình về sự việc không may xảy ra với cháu. Theo thông tin bạn cung cấp, cháu là người chưa thành niên (16 tuổi) bị tai nạn giao thông với ô tô, gây thương tích rất nặng. Đây là vụ việc có căn cứ để xem xét cả trách nhiệm hình sự lẫn trách nhiệm bồi thường dân sự đối với người lái xe và chủ xe, nên gia đình cần thận trọng trước khi làm việc, thỏa thuận với bên gây tai nạn.
1. Về việc gặp gỡ, trao đổi với gia đình bên chủ xe/lái xe
Vì cháu chưa đủ 18 tuổi, mọi trao đổi, thỏa thuận, ký kết văn bản liên quan đến quyền lợi của cháu phải do cha, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp thực hiện với tư cách người đại diện theo pháp luật. Gia đình nên đề nghị buổi làm việc được lập biên bản, tốt nhất có sự chứng kiến của cơ quan Công an đang thụ lý vụ việc hoặc người làm chứng độc lập. Đặc biệt, không nên ký bất kỳ văn bản nào có nội dung “đã nhận đủ bồi thường”, “cam kết không khiếu nại, khởi kiện”, “xin bãi nại”... khi chưa có kết luận giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của cháu, chưa xác định rõ lỗi của các bên và chưa tính toán đầy đủ các khoản thiệt hại, kể cả những chi phí có thể phát sinh sau này.
2. Về trách nhiệm hình sự của người lái xe
Theo Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định về tội “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, người điều khiển phương tiện vi phạm quy định an toàn giao thông gây thương tích cho một người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên có thể bị xử lý hình sự, với khung hình phạt cơ bản là phạt tiền 30-100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01-05 năm; mức phạt có thể tăng lên 03-10 năm tù nếu có thêm tình tiết tăng nặng như không có giấy phép lái xe, sử dụng rượu bia/ma túy vượt ngưỡng, bỏ chạy hoặc không cứu giúp người bị nạn. Với các thương tích cháu đang gặp phải, khả năng tỷ lệ tổn thương cơ thể sẽ ở mức cao, nhưng con số chính xác chỉ được xác định qua Kết luận giám định pháp y do Cơ quan điều tra trưng cầu. Gia đình nên chủ động phối hợp với điều tra viên, cung cấp hồ sơ bệnh án và đề nghị sớm trưng cầu giám định để làm căn cứ xử lý.
3. Về bồi thường thiệt hại dân sự
Theo Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015, ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, nên chủ xe/người đang sử dụng hợp pháp chiếc xe phải bồi thường thiệt hại do xe gây ra, kể cả khi không có lỗi, trừ trường hợp thiệt hại hoàn toàn do lỗi cố ý của cháu hoặc do sự kiện bất khả kháng. Theo Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015, các khoản được bồi thường gồm: chi phí cứu chữa, phục hồi sức khỏe (kể cả chi phí lắp chi giả, phẫu thuật, vật lý trị liệu về sau); thu nhập bị mất/giảm sút của cháu, có tính đến khả năng lao động bị suy giảm lâu dài; chi phí và thu nhập bị mất của người chăm sóc cháu trong thời gian điều trị; và khoản bù đắp tổn thất tinh thần do hai bên thỏa thuận, tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở nếu không thỏa thuận được.
Về vấn đề hỗ trợ pháp lý, Văn phòng Luật sư chúng tôi có thể hỗ trợ: Đại diện hoặc cùng gia đình làm việc, trao đổi với gia đình bên chủ xe/lái xe; hỗ trợ tính toán, lập bảng kê chi tiết các khoản thiệt hại được yêu cầu bồi thường. Để được tư vấn cụ thể hơn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin bên dưới.
Trên đây là ý kiến tư vấn pháp lý của Văn phòng Luật sư Triển Luật dựa trên những thông tin bạn cung cấp. Trong trường hợp còn vướng mắc, cần hỗ trợ trong việc kiểm tra quy định pháp luật hoặc chuẩn bị hồ sơ, soạn thảo đơn từ, bạn có thể liên hệ trụ sở VPLS tại số 213A Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung, TP.HCM hoặc gọi điện thoại cho Luật sư Thảo theo số 0776820693 nhé.
