Lê Thị Thu Hương
Tổng cộng: 670
-
Hành vi đăng bài bôi nhọ, xúc phạm cá nhân, tập thể, phát tán tin nhắn nội bộ và tự ý quay video/ghi âm trái phép là những hành vi vi phạm pháp luật
Một cá nhân đăng tải bài viết công khai bôi nhọ, xúc phạm một cá nhân và tập thể, công ty đó. Đăng tin nhắn trong group nội bộ, tự ý quay video/ghi âm, thì xử phạt như thế nào, có kiện được, kiện thì cần bằng chứng gì (tài khoản đăng bài là tài khoản ảo/phụ, không nhắc đích danh tên, nhưng có bình luận chỉ định ám thị về công ty) Phí lập vi bằng, khởi kiện cá nhân đó giao động như thế nào
Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời
Hành vi đăng bài bôi nhọ, xúc phạm cá nhân, tập thể, phát tán tin nhắn nội bộ và tự ý quay video/ghi âm trái phép là những hành vi vi phạm pháp luật
Chào bạn,
Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:
Thứ nhất, Bài viết không nêu đích danh vẫn có thể bị xử lý
Điều 34 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm. Người bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu: Gỡ bỏ thông tin; Bác bỏ, cải chính công khai; Xin lỗi công khai; Bồi thường thiệt hại.
Việc tài khoản không ghi rõ tên cá nhân hoặc công ty không đồng nghĩa với việc người đăng được miễn trách nhiệm. Nếu căn cứ vào nội dung bài viết, hình ảnh, thời gian, sự việc được nhắc đến, bình luận dưới bài hoặc các thông tin nhận diện khác mà người đọc có thể xác định đối tượng bị nói đến là ai thì vẫn có cơ sở xem xét hành vi xâm phạm.
Ngược lại, nếu nội dung chỉ là ý kiến đánh giá, phản ánh sự việc có thật, không sử dụng từ ngữ lăng mạ và không tiết lộ thông tin riêng tư thì chưa thể mặc nhiên coi là “bôi nhọ” hoặc “vu khống”. Đối với tội vu khống, cần chứng minh người đăng đã bịa đặt hoặc biết rõ thông tin là sai sự thật nhưng vẫn phát tán.
Đối với công ty, pháp luật xử phạt hành chính bảo vệ trực tiếp “uy tín của cơ quan, tổ chức”. Công ty có thể yêu cầu chấm dứt hành vi, gỡ bỏ, cải chính và bồi thường những thiệt hại thực tế chứng minh được. Nếu chỉ nói đến một “tập thể” không có tư cách pháp nhân thì từng cá nhân bị ảnh hưởng cần xác định quyền, lợi ích của chính mình bị xâm phạm để yêu cầu xử lý.
Căn cứ: Điều 11, Điều 13, Điều 34, Điều 584 và Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thứ hai, về việc đăng tin nhắn trong nhóm nội bộ:
Việc đăng tin nhắn nội bộ bị coi là vi phạm khi nội dung được công khai thuộc một trong các trường hợp như:
- Chứa thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân hoặc bí mật gia đình;
- Chứa dữ liệu cá nhân như họ tên, số điện thoại, hình ảnh, giọng nói, thông tin tài khoản hoặc thông tin nhận diện khác;
- Chứa bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ hoặc thông tin mà người đăng có nghĩa vụ bảo mật theo hợp đồng, nội quy, thỏa thuận bảo mật;
- Bị cắt ghép, xuyên tạc hoặc sử dụng sai bối cảnh để xúc phạm, bôi nhọ người khác.
Theo Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 cũng xác định chủ thể dữ liệu có quyền đồng ý hoặc không đồng ý, yêu cầu hạn chế, xóa dữ liệu, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện và yêu cầu bồi thường.
Tuy nhiên, việc một tin nhắn nằm trong nhóm nội bộ không đương nhiên biến toàn bộ nội dung thành “bí mật”. Cần xem xét tính chất của nhóm, quy định bảo mật, người được phép tiếp cận và nội dung cụ thể đã bị phát tán.
Thứ ba, việc tự ý quay video, ghi âm
Không phải mọi trường hợp ghi âm, ghi hình khi chưa được người khác đồng ý đều đương nhiên bị cấm. Tuy nhiên, tính hợp pháp phải được xem xét căn cứ vào địa điểm, hoàn cảnh, mục đích, phạm vi ghi âm, ghi hình và cách thức sử dụng bản ghi sau đó.
Điểm a khoản 1 Điều 19 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 quy định một trong những trường hợp xử lý dữ liệu cá nhân không cần sự đồng ý của chủ thể dữ liệu là:
“Để bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể dữ liệu cá nhân hoặc người khác trong trường hợp cấp bách; bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức một cách cần thiết trước hành vi xâm phạm lợi ích nói trên.”
Do đó, nếu một người ghi âm, ghi hình nhằm lưu giữ chứng cứ về hành vi đang xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình và việc ghi nhận là cần thiết, tương xứng với mục đích bảo vệ quyền lợi thì có thể thuộc trường hợp xử lý dữ liệu không cần sự đồng ý theo Điều 19. Việc lưu giữ và cung cấp bản ghi cho Công an, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền để giải quyết vụ việc có cơ sở được xem xét khác với việc đăng tải công khai bản ghi lên mạng xã hội.
Đối với việc ghi âm, ghi hình tại nơi công cộng hoặc trong hoạt động công cộng, căn cứ áp dụng là Điều 32 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025.
Khoản 1 Điều 32 cho phép cơ quan, tổ chức, cá nhân ghi âm, ghi hình và xử lý dữ liệu thu được mà không cần sự đồng ý trong các trường hợp phục vụ quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; hoặc ghi nhận âm thanh, hình ảnh từ hội nghị, hội thảo, thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại danh dự, nhân phẩm, uy tín của chủ thể dữ liệu.
Tuy nhiên, khoản 2 Điều 32 yêu cầu người ghi âm, ghi hình phải thông báo hoặc có hình thức thông tin khác để chủ thể dữ liệu biết mình đang bị ghi âm, ghi hình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Khoản 3 Điều này còn yêu cầu dữ liệu thu được chỉ được xử lý, sử dụng phù hợp với mục đích đã xác định và không được sử dụng để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị ghi nhận.
è Như vậy, việc được ghi âm, ghi hình không đồng nghĩa với việc được tự do phát tán bản ghi.
Việc có vi phạm hay không phải được đánh giá trên chứng cứ cụ thể; không thể chỉ căn cứ vào việc người ghi âm, ghi hình có thông báo trước hay không.
Thứ tư, người đăng bài có thể bị phạt hành chính:
Nếu hành vi xảy ra hoặc vẫn tiếp diễn từ ngày 01/7/2026, áp dụng Nghị định số 174/2026/NĐ-CP.
Căn cứ cụ thể:
- Điểm a khoản 1 Điều 95 Nghị định số 174/2026/NĐ-CP quy định mức phạt từ 20–30 triệu đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống hoặc xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân.
- Điểm b và điểm c khoản 2 Điều 95 quy định mức phạt từ 30–50 triệu đồng đối với hành vi tiết lộ bí mật đời tư, bí mật khác hoặc chia sẻ thông tin sai sự thật gây thiệt hại, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
- Các điểm e, g, m và q khoản 3 Điều 96 quy định mức phạt từ 10–20 triệu đồng đối với các hành vi thu thập, xử lý, sử dụng thông tin không được đồng ý hoặc sai mục đích; truyền đưa thông tin nhằm xuyên tạc, vu khống, xúc phạm; tiết lộ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật.
- Khoản 3 Điều 4 quy định cá nhân thực hiện cùng hành vi thì bị phạt bằng một nửa mức phạt đối với tổ chức.
Ngoài tiền phạt, khoản 3 Điều 95 còn quy định:
- Buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật, gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật đối với hành vi thuộc khoản 1 và khoản 2 Điều này;
- Buộc khóa tài khoản, trang cộng đồng, nhóm cộng đồng hoặc kênh nội dung nếu hành vi thuộc khoản 2 Điều này.
Việc áp dụng điểm a khoản 1 hay điểm c khoản 2 Điều 95 phụ thuộc vào nội dung, tính chất và hậu quả của bài đăng. Không nên mặc nhiên cộng đồng thời hai mức phạt cho cùng một hành vi. Nếu có nhiều hành vi độc lập, cơ quan có thẩm quyền sẽ phân loại và xử lý từng hành vi theo nguyên tắc một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần.
Riêng việc ghi âm, chỉ có căn cứ áp dụng điểm q khoản 3 Điều 96 khi xác định đó là hành vi “nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật”. Việc một người tham gia cuộc trao đổi tự ghi âm để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc giao nộp cho cơ quan có thẩm quyền không mặc nhiên thuộc trường hợp này.
Thứ năm, có thể khởi kiện dân sự không?
Bạn có quyền khởi kiện khi xác định được người thực tế quản lý, sử dụng tài khoản và có tài liệu chứng minh hành vi xâm phạm. Các yêu cầu có thể gồm: Buộc chấm dứt hành vi và gỡ bỏ toàn bộ bài viết, hình ảnh, video, tin nhắn; Buộc cải chính và xin lỗi công khai trên chính tài khoản hoặc phương tiện đã đăng tải; Yêu cầu Tòa án bác bỏ, tuyên bố thông tin là không đúng; Bồi thường chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; Bồi thường thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút; Bồi thường tổn thất tinh thần.
Theo khoản 2 Điều 592 Bộ luật Dân sự, nếu các bên không thỏa thuận được thì khoản bồi thường tổn thất tinh thần tối đa là 10 lần mức lương cơ sở cho một người bị xâm phạm. Từ ngày 01/7/2026, mức lương cơ sở là 2.530.000 đồng/tháng. Khoản này không bao gồm những thiệt hại vật chất, thu nhập bị mất và chi phí khắc phục có chứng cứ hợp lệ.
Đối với công ty, trọng tâm là chứng minh tổn thất thực tế như chi phí xử lý khủng hoảng, hợp đồng bị hủy, doanh thu bị giảm, khách hàng rời bỏ và mối quan hệ nhân quả giữa bài đăng với thiệt hại đó.
Trường hợp chưa xác định được người đứng sau tài khoản, cá nhân bị ảnh hưởng có thể căn cứ khoản 4 Điều 34 Bộ luật Dân sự yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin là không đúng. Tuy nhiên, để yêu cầu một người cụ thể bồi thường thì vẫn cần xác định được danh tính và địa chỉ của người đó.
Thứ sáu, trường hợp nào có thể bị xử lý hình sự:
Nếu mức độ nghiêm trọng, người đăng có thể bị xem xét về:
- Tội làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự: phải có hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của một người cụ thể.
- Tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự: có hành vi bịa đặt hoặc biết rõ thông tin là sai sự thật nhưng vẫn loan truyền nhằm xúc phạm nghiêm trọng hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
Các tội danh trên bảo vệ danh dự, nhân phẩm của con người cụ thể. Vì vậy, nếu bài đăng chỉ ảnh hưởng đến công ty như một pháp nhân thì hướng xử phạt hành chính và khởi kiện dân sự thường phù hợp hơn; nếu giám đốc, nhân viên hoặc thành viên cụ thể đồng thời bị ám chỉ, xúc phạm thì những cá nhân đó có thể đề nghị xem xét trách nhiệm hình sự.
Thứ bảy, tài liệu chứng cứ chứng minh:
1. Lưu đường dẫn bài viết, đường dẫn trang cá nhân, tên và mã định danh tài khoản; chụp toàn bộ bài đăng, bình luận, lượt chia sẻ và chế độ công khai.
2. Quay màn hình từ lúc mở trình duyệt, truy cập tài khoản, mở bài viết cho đến khi thể hiện đầy đủ nội dung. Không chỉ lưu ảnh chụp rời rạc.
3. Lưu bản gốc video, file ghi âm, tin nhắn; không chỉnh sửa, cắt ghép hoặc ghi đè file. Lập văn bản trình bày nguồn gốc, thời gian, thiết bị và người thực hiện việc ghi âm, ghi hình.
4. Thu thập chứng cứ cho thấy người đọc nhận ra cá nhân hoặc công ty bị ám chỉ, chẳng hạn bình luận gọi tên công ty, tin nhắn khách hàng hỏi về bài viết, lời xác nhận của người làm chứng.
5. Thu thập tài liệu chứng minh nội dung đăng tải là sai: hợp đồng, email, biên bản làm việc, dữ liệu giao dịch, camera, người làm chứng và các tài liệu khách quan khác.
6. Chứng minh chủ tài khoản: tin nhắn thừa nhận, số điện thoại, email liên kết, cách xưng hô, thông tin giao dịch hoặc các dấu hiệu cho thấy tài khoản do người bị nghi ngờ quản lý. Thông tin IP, thuê bao và dữ liệu đăng nhập thường phải do Công an hoặc Tòa án yêu cầu nền tảng cung cấp.
7. Lưu chứng cứ thiệt hại như hợp đồng bị hủy, doanh thu giảm, chi phí xử lý truyền thông, chi phí khám và điều trị tâm lý, thu nhập bị mất.
Theo Điều 94 và Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự, tài liệu nghe được, nhìn được và dữ liệu điện tử có thể là nguồn chứng cứ; bản ghi âm, ghi hình cần kèm văn bản trình bày về xuất xứ.
Thứ tám, về việc có nên lập vi bằng không và chi phí:
Theo Điều 26 và Điều 27 Nghị định số 151/2026/NĐ-CP, vi bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án và cơ quan có thẩm quyền xem xét. Tuy nhiên, vi bằng chỉ chứng minh tại thời điểm lập có tồn tại bài viết, bình luận hoặc tài khoản đó; vi bằng không tự chứng minh nội dung là sai và cũng không mặc nhiên xác định ai là người đứng sau tài khoản.
Điều 54 Nghị định này không quy định mức phí cố định mà cho phép người yêu cầu và Văn phòng thi hành án dân sự thỏa thuận.
Thứ chín, về chi phí nếu khởi kiện ra cơ quan nhà nước có thẩm quyền:
- Án phí: Theo điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, người yêu cầu bồi thường về danh dự, nhân phẩm, uy tín được miễn tiền tạm ứng án phí và án phí. Các yêu cầu độc lập khác hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại kinh tế của công ty sẽ được Tòa án xác định cụ thể theo tính chất và giá trị tranh chấp.
- Phí luật sư: Pháp luật không có biểu phí bắt buộc; mức phí do khách hàng và tổ chức hành nghề luật sư thỏa thuận.
- Chi phí khác: Lập vi bằng, sao chụp, dịch thuật, giám định file điện tử, đi lại và chi phí thu thập chứng cứ nếu phát sinh.
Để tư vấn chính xác hơn, bạn cần làm rõ: nội dung và đường dẫn bài viết; những chi tiết nào khiến người đọc nhận ra cá nhân, công ty; tin nhắn nội bộ chứa thông tin gì; video, ghi âm được thực hiện ở đâu và trong hoàn cảnh nào; bạn có nghi ngờ cụ thể ai là người đứng sau tài khoản hay không; bài đăng đã gây ra thiệt hại hoặc hậu quả thực tế nào.
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
-
Sử dụng hình ảnh miền phí trên google thiết kế bao bì
Luật sư cho hỏi doanh nghiệp sử dụng hình ảnh trên Google để thiết kế bao bì sản phẩm rồi bán ra thị trường. Có vi phạm quyền sở hữu trí tuệ không? Xin cảm ơn luật sư!
Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời
Sử dụng hình ảnh miền phí trên google thiết kế bao bì
Chào bạn,
Dựa theo thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin đưa ra tư vấn như sau:
1. Google chỉ là công cụ tìm kiếm, không phải nguồn cung cấp hình ảnh miễn phí.
Google chỉ là công cụ hỗ trợ, giúp cho người dùng có thể tìm kiếm, tiếp cận thông tin, hình ảnh, video,… một cách nhanh chóng và tiện lợi chứ không phải công cụ cung cấp hình ảnh miễn phí.
Căn cứ theo Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, tác phẩm mỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng và tác phẩm nhiếp ảnh đều thuộc các loại hình tác phẩm có thể được bảo hộ quyền tác giả.
Vậy nên việc sử dụng hình ảnh được tìm thấy trên Google sẽ bị coi là vi phạm quyền sở hữu trí tuệ nếu hình ảnh đó là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả hoặc quyền sở hữu công nghiệp mà bạn không được phép sử dụng.
2.Việc sử dụng hình ảnh trên Google để thiết kế bao bì sản phẩm, bán ra thị trường có vi phạm quyền sở hữu trí tuệ không?
Hành vi sử dụng hình ảnh trên Google để thiết kế bao bì sản phẩm rồi bán ra thị trường là hành vi sử dụng hình ảnh với mục đích thương mại.
- Căn cứ theo khoản 3 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định về quyền tài sản của tác giả như quyền sao chép, phân phối tác phẩm thì việc doanh nghiệp lấy một hình ảnh của người khác, sao chép hoặc chỉnh sửa hình ảnh đó để đưa lên bao bì rồi bán sản phẩm ra thị trường về nguyên tắc phải được chủ sở hữu quyền tác giả cho phép, trừ trường hợp pháp luật có quy định ngoại lệ.
- Căn cứ theo Khoản 8 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định về Hành vi xâm phạm quyền tác giả:
“8. Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật này.”
Vậy, việc sử dụng hình ảnh mà không có sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, sử dụng hình ảnh với mục đích thương mại là đang xâm phạm quyền tác giả.
Ngoài ra, nếu hình ảnh được bảo hộ nhãn hiệu hay kiểu dáng công nghiệp và doanh nghiệp sử dụng mà không được phép thì đây cũng là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo quy định tại Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi dựa trên thông tin mà bạn cung cấp, để có cơ sở tư vấn chính xác hơn, bạn vui lòng cung cấp thêm một số thông tin sau:
1. Doanh nghiệp của bạn đã sử dụng hình ảnh trên Google để thiết kế bao bì sản phẩm hay chưa?
2. Bao bì sản phẩm đã được in ấn và đưa ra thị trường chưa, hay mới đang ở giai đoạn thiết kế?
3. Hình ảnh sử dụng được lấy từ nguồn nào cụ thể trên Google (Google Images, website nào, hay từ kết quả tìm kiếm chung)?
4. Bạn đã có kiểm tra giấy phép sử dụng của hình ảnh đó chưa?
5. Hình ảnh đó thuộc về cá nhân hay doanh nghiệp? Có được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hay kiểu dáng công nghiệp chưa?
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
-
Chụp màn hình tin nhắn/ ghi âm cuộc gọi/ ghi âm cuộc trò chuyện có được coi là bằng chứng không?
Chào luật sư ạ. Chuyện là em đang ở một nhà trọ có nguy cơ bùng cọc cao. Em có thể hỏi chủ trọ về một và nội dung trước khi chuyển đi và chụp màn hình/ ghi âm lại phòng khi họ lật lọng được không ạ? Những điều khoản này cần được ghi trong hợp đồng không ạ? Nếu họ lật lọng thì em nên báo cáo với cơ quan chức năng nào? Em xin cảm ơn.
Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời
Chụp màn hình tin nhắn/ ghi âm cuộc gọi/ ghi âm cuộc trò chuyện có được coi là bằng chứng không?
Chào bạn,
Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:
Thứ nhất, ảnh chụp màn hình tin nhắn, bản ghi âm có được coi là chứng cứ không:
Ảnh chụp màn hình tin nhắn, dữ liệu điện tử và bản ghi âm có thể được sử dụng làm nguồn chứng cứ, nhưng không phải cứ xuất trình là đương nhiên được Tòa án chấp nhận.
Theo Điều 94 và Điều 95 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015:
- Tài liệu nghe được, nhìn được và dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ;
- Bản ghi âm, ghi hình cần kèm theo văn bản trình bày về xuất xứ nếu người xuất trình tự ghi âm, ghi hình;
- Tin nhắn, thư điện tử và các hình thức trao đổi dữ liệu điện tử có thể được xem xét làm chứng cứ.
Điều 11 Luật giao dịch điện tử năm 2023 cũng quy định giá trị chứng cứ của thông điệp dữ liệu được đánh giá dựa trên độ tin cậy của cách thức khởi tạo, gửi, nhận, lưu trữ; khả năng bảo đảm tính toàn vẹn và khả năng xác định người gửi, người nhận.
Do đó, bạn có thể nhắn tin hỏi chủ trọ và lưu lại nội dung trao đổi. Tuy nhiên, nên yêu cầu chủ trọ trả lời hoặc xác nhận rõ ràng; việc bạn chỉ đơn phương gửi một tin nhắn nhưng chủ trọ không phản hồi thường có giá trị chứng minh thấp hơn.
Khi lưu giữ chứng cứ, bạn cần:
- Chụp đầy đủ cuộc trò chuyện, không chỉ chụp riêng câu có lợi cho mình;
- Thể hiện rõ tài khoản, số điện thoại, ngày, giờ và nội dung trao đổi;
- Không chỉnh sửa, cắt ghép; giữ lại điện thoại và dữ liệu gốc;
- Xuất hoặc sao lưu toàn bộ cuộc trò chuyện nếu ứng dụng có chức năng này;
- Giữ hợp đồng thuê, giấy nhận cọc, chứng từ chuyển khoản, hóa đơn điện nước;
- Quay, chụp hiện trạng phòng, tài sản và số điện, nước tại thời điểm bàn giao;
- Lập biên bản bàn giao, thanh lý hợp đồng và đề nghị chủ trọ ký xác nhận.
Trường hợp số tiền tranh chấp lớn hoặc có nguy cơ tin nhắn bị xóa, bạn có thể đề nghị Văn phòng thi hành án dân sự lập vi bằng ghi nhận nội dung tin nhắn hoặc việc bàn giao phòng. Vi bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét, nhưng không thay thế hợp đồng, văn bản công chứng hoặc chứng thực.
Thứ hai, Bạn có được ghi âm cuộc nói chuyện với chủ trọ không?
Từ ngày 01/01/2026, việc thu thập, lưu trữ và sử dụng dữ liệu cá nhân phải tuân thủ Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025. Theo Điều 9 và Điều 11 của Luật này, việc thu thập dữ liệu cá nhân về nguyên tắc cần có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu. Điều 19 cho phép xử lý dữ liệu không cần sự đồng ý trong một số trường hợp, trong đó có trường hợp cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình trước hành vi xâm phạm, nhưng người xử lý dữ liệu phải chứng minh được căn cứ này.
Vì vậy, không nên mặc nhiên cho rằng mọi trường hợp bí mật ghi âm đều hợp pháp. Nếu buộc phải ghi âm để bảo vệ quyền lợi, bạn chỉ nên sử dụng trong phạm vi cần thiết như thương lượng, cung cấp cho luật sư, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền; không nên đăng công khai lên mạng xã hội vì có thể xâm phạm quyền riêng tư, dữ liệu cá nhân, danh dự hoặc uy tín của người khác.
Đối với file ghi âm, cần giữ nguyên file gốc, không cắt ghép và ghi lại thời gian, địa điểm, thiết bị ghi âm, những người tham gia cuộc nói chuyện.
Thứ ba, nội dung về hoàn trả tiền cọc có cần ghi trong hợp đồng không?
Nếu đối tượng thuê là nhà hoặc phòng dùng để ở, Điều 163 Luật Nhà ở năm 2023 quy định hợp đồng về nhà ở phải được lập thành văn bản. Hợp đồng thuê nhà không bắt buộc phải công chứng, chứng thực, trừ khi các bên có nhu cầu, theo khoản 2 Điều 164 Luật này.
Hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng nên ghi rõ:
- Số tiền cọc và mục đích của khoản tiền cọc;
- Thời hạn thuê và thời hạn báo trước khi trả phòng;
- Trường hợp nào người thuê bị mất hoặc bị khấu trừ cọc;
- Các khoản được phép khấu trừ và cách chứng minh chi phí;
- Tiêu chí xác định hư hỏng, phân biệt với hao mòn thông thường;
- Thời điểm kiểm tra, bàn giao phòng;
- Thời hạn chủ trọ phải hoàn trả tiền cọc;
- Phương thức hoàn trả và trách nhiệm khi chậm trả.
Nếu hợp đồng hiện tại chưa ghi rõ, hai bên nên ký phụ lục hoặc biên bản thỏa thuận bổ sung. Việc xác nhận qua tin nhắn vẫn có thể được xem xét, nhưng văn bản có chữ ký của hai bên sẽ chặt chẽ hơn.
Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 quy định khi hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại hoặc được trừ vào nghĩa vụ thanh toán. Tuy nhiên, không phải cứ chủ trọ chậm hoặc không trả cọc thì đương nhiên phải “đền gấp đôi”; việc xử lý khoản cọc còn phụ thuộc mục đích đặt cọc, thỏa thuận trong hợp đồng và lỗi của từng bên.
Trường hợp: Nếu chủ trọ không trả cọc thì liên hệ cơ quan nào?
Trước hết, bạn nên gửi văn bản hoặc tin nhắn yêu cầu hoàn trả tiền cọc, ghi rõ số tiền, căn cứ yêu cầu và thời hạn thanh toán. Đồng thời, nên lập biên bản bàn giao phòng và hoàn tất các khoản tiền thuê, điện, nước để tránh việc chủ trọ lấy đó làm lý do giữ cọc.
Nếu chủ trọ vẫn không trả, đây về nguyên tắc là tranh chấp dân sự về hợp đồng thuê, bạn có thể:
- Đề nghị tổ hòa giải ở cơ sở hoặc UBND cấp xã hỗ trợ hòa giải; thủ tục này không bắt buộc và cơ quan hòa giải không có quyền cưỡng chế chủ trọ trả tiền;
- Khởi kiện tại Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền, thông thường được xác định theo nơi cư trú của chủ trọ, để yêu cầu trả tiền cọc và khoản lãi do chậm trả nếu có căn cứ.
Việc chủ trọ không trả cọc không đương nhiên là hành vi hình sự và cơ quan Công an thường không giải quyết thay cho Tòa án đối với tranh chấp hợp đồng dân sự. Chỉ nên trình báo cơ quan Công an nơi xảy ra vụ việc nếu có dấu hiệu rõ ràng cho thấy chủ trọ dùng thủ đoạn gian dối ngay từ đầu để chiếm đoạt tiền, nhận cọc của nhiều người rồi bỏ trốn hoặc có hành vi chiếm đoạt khác.
Để tư vấn chính xác hơn, bạn cần cung cấp thêm:
1. Hợp đồng thuê có lập bằng văn bản hay không và còn thời hạn không?
2. Tiền cọc là bao nhiêu, giao bằng tiền mặt hay chuyển khoản?
3. Hợp đồng quy định thế nào về thời hạn báo trước, mất cọc và hoàn cọc?
4. Bạn dự định trả phòng trước hạn hay đúng hạn?
5. Chủ trọ đã nói hoặc có hành vi gì khiến bạn cho rằng họ có nguy cơ không trả cọc?
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
-
Chấm dứt hợp đồng trước thời hạn
Tôi ký hợp đồng từ ngày 1/5/2026 đến 30/4/2027 . Tạp vụ bếp ở khách sạn. Sau khoản thời gian dài với cường độ khách rất nhiều , tôi không mắt sai sót trong công việc, không đi trễ về sớm, không nghỉ không lý do… thì mọi chuyện không có gì xảy ra. Gần hết mùa cao điểm đu lịch, hết pháo hoa …. Ngày 15/8/2026 người quản lý gọi tôi và nói tôi viết đơn xin thôi việc đi , lý do là đuổi không thích tôi làm việc cùng họ. Như vậy cho phép tôi được hỏi , nếu họ cương quyết buộc tôi nghỉ việc thì tôi phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của tôi
Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời
Chấm dứt hợp đồng trước thời hạn
Chào bạn,
Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:
Hợp đồng lao động từ ngày 01/5/2026 đến ngày 30/4/2027 là hợp đồng lao động xác định thời hạn 12 tháng. Đến ngày 15/8/2026, hợp đồng vẫn còn hiệu lực. Theo đó,
Theo khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động chỉ được đơn phương chấm dứt hợp đồng trong các trường hợp luật định, chẳng hạn:
1. Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo tiêu chí đánh giá hợp pháp của doanh nghiệp;
2. Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị trong thời gian luật định nhưng chưa hồi phục;
3. Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, di dời hoặc thu hẹp sản xuất theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền mà doanh nghiệp đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn phải giảm nhân sự;
4. Người lao động không trở lại làm việc sau thời gian tạm hoãn hợp đồng;
5. Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu;
6. Người lao động tự ý bỏ việc từ 05 ngày làm việc liên tục mà không có lý do chính đáng;
7. Người lao động cung cấp thông tin không trung thực khi giao kết hợp đồng, làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng.
Lý do “người quản lý không thích làm việc cùng” không thuộc bất kỳ trường hợp nào nêu trên.
Trường hợp khách sạn cho rằng bạn “thường xuyên không hoàn thành công việc” thì phải có quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc, tiêu chí rõ ràng và tài liệu chứng minh bạn không đạt yêu cầu. Không thể chỉ dựa trên nhận xét chủ quan của người quản lý.
Ngoài ra, theo điểm b khoản 2 Điều 36 Luật này, nếu đơn phương chấm dứt theo các căn cứ thông thường, khách sạn còn phải báo trước cho bạn ít nhất 30 ngày vì hợp đồng của bạn có thời hạn 12 tháng. Như vậy, khách sạn phải đồng thời có căn cứ hợp pháp và thực hiện đúng thời hạn báo trước; chỉ báo trước 30 ngày nhưng không có lý do hợp pháp thì việc chấm dứt vẫn trái pháp luật.
Việc mùa cao điểm du lịch đã kết thúc, lượng khách giảm không đương nhiên cho phép khách sạn chấm dứt hợp đồng. Nếu thực sự thay đổi cơ cấu hoặc vì lý do kinh tế, khách sạn phải chứng minh căn cứ, xây dựng phương án sử dụng lao động và thực hiện trình tự tại Điều 42, Điều 44 Bộ luật Lao động 2019.
Quyền lợi của bạn nếu khách sạn cho nghỉ trái pháp luật:
Theo Điều 41 Bộ luật Lao động 2019, nếu khách sạn đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, bạn có quyền yêu cầu:
- Nhận bạn trở lại làm việc theo hợp đồng đã ký;
- Trả đủ tiền lương cho thời gian bạn không được làm việc;
- Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho thời
gian bạn không được làm việc;
- Trả thêm ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng;
- Nếu không báo trước đủ 30 ngày, phải trả thêm khoản tiền tương ứng với
tiền lương của những ngày không báo trước;
- Thanh toán tiền lương còn thiếu và tiền của những ngày nghỉ hằng năm
chưa nghỉ, nếu có.
Nếu bạn không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài các khoản trên, bạn còn có thể được trả trợ cấp thôi việc nếu đáp ứng điều kiện tại Điều 46. Tuy nhiên, nếu bạn mới làm việc từ ngày 01/5/2026 và trước đó không có thời gian làm việc cho cùng khách sạn thì hiện chưa đủ điều kiện làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng để hưởng khoản trợ cấp này.
Nếu khách sạn không muốn nhận bạn trở lại và bạn đồng ý, hai bên có thể thỏa thuận thêm khoản bồi thường nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương, ngoài các khoản khách sạn phải trả theo khoản 1 Điều 41.
Khi chấm dứt hợp đồng, các khoản liên quan phải được thanh toán trong thời hạn 14 ngày làm việc, trừ trường hợp đặc biệt được kéo dài nhưng không quá 30 ngày; khách sạn còn phải xác nhận thời gian tham gia bảo hiểm và trả lại giấy tờ đã giữ của bạn theo Điều 48 Bộ luật Lao động 2019.
Bạn nên thực hiện các việc sau:
1. Không tự viết đơn xin nghỉ việc nếu bạn không có nguyện vọng nghỉ.
2. Không ký biên bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng, đơn nghỉ việc hoặc giấy tờ để trống nếu chưa đọc kỹ và không đồng ý nội dung.
3. Gửi văn bản, email hoặc tin nhắn chính thức cho khách sạn để trình bày sự việc.
4. Tiếp tục đi làm đúng lịch.
5. Thu thập, lưu giữ tài liệu chứng cứ chứng minh, gồm:
a. Hợp đồng lao động và phụ lục;
b. Bảng chấm công, lịch làm việc, bảng lương, sao kê nhận lương;
c. Tin nhắn, email, ghi âm cuộc trao đổi với người quản lý;
d. Các đánh giá công việc, giấy khen hoặc tài liệu thể hiện bạn không vi phạm (nếu có);
e. Quyết định hoặc thông báo chấm dứt hợp đồng;
f. Hình ảnh, video, người làm chứng nếu bạn đến làm nhưng bị ngăn cản.
Nếu khách sạn vẫn cho bạn nghỉ, bạn có thể:
- Gửi khiếu nại lần đầu đến người sử dụng lao động/người đại diện theo
pháp luật của công ty quản lý khách sạn.
- Đề nghị công đoàn cơ sở hoặc tổ chức đại diện người lao động hỗ trợ;
- Gửi phản ánh, đề nghị kiểm tra đến Sở Nội vụ hoặc cơ quan được UBND cấp
tỉnh giao thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lao động;
- Khởi kiện trực tiếp tại Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền.
Tranh chấp về việc bị đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc bị xử lý kỷ luật sa thải không bắt buộc phải qua hòa giải viên lao động trước khi khởi kiện, theo điểm a khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động 2019.
Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết là 01 năm kể từ ngày bạn phát hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, theo khoản 3 Điều 190 Bộ luật Lao động 2019. Từ ngày 01/7/2025, các vụ án lao động sơ thẩm thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực.
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
- Nhận bạn trở lại làm việc theo hợp đồng đã ký;
-
Tai nạn lao động
Tôi có người nhà làm sơn bị tai nạn lao động chết. Tuy nhiên, người nhà tôi không có hợp đồng lao động với bên đại diện thi công (là người trực tiếp gọi người nhà tôi đi làm), tuy nhiên người đại diện thi công này có ký hợp đồng lao động với bên chủ thầu. Giờ cả 2 bên đều đùn đẩy không ai chịu trách nhiệm với gia đình. Vậy theo quy định của pháp luật, bên nào đang sai, và bên nào sẽ có trách nhiệm chi trả cho người nhà tôi.
Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời
Tai nạn lao động
Chào bạn,
Dựa theo thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin đưa ra tư vấn như sau:
1. Chủ thầu có phải chịu trách nhiệm chi trả, bồi thường cho đến khi cậu của bạn bình phục hay không?
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động 2019:
- Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động
- Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 119 Bộ luật dân sự 2015: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.”
Vậy, theo quy định của pháp luật thì không có hợp đồng bằng văn bản vẫn được công nhận quan hệ lao động nếu có thực tế làm việc, nhận lương và người lao động chịu sự quản lý của người sử dụng lao động. Trong trường hợp của bạn, bên đại diện thi công là bên đã gọi người nhà của bạn đi làm, nhưng không thể xác định bên thi công có phải là bên trực tiếp thuê, thỏa thuận tiền công, phân công và quản lý người nhà bạn hay không.
Căn cứ theo Khoản 9 Điều 15 nghị định 207/2026/NĐ-CP quy định về Trách nhiệm của nhà thầu thi công xây dựng: “9…Dừng thi công xây dựng khi phát hiện nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, sự cố gây mất an toàn lao động và có biện pháp khắc phục để bảo đảm an toàn trước khi tiếp tục thi công; khắc phục hậu quả tai nạn lao động, sự cố gây mất an toàn lao động xảy ra trong quá trình thi công xây dựng công trình.”
Vậy, nếu chủ thầu phát hiện nguy cơ gây tai nạn lao động thì phải có biện pháp khắc phục để đảm bảo an toàn trước khi tiếp tục thi công. Việc quản lý an toàn lao động được áp dụng đối với toàn bộ công trường, kể cả lao động của thầu phụ hoặc người được giao việc. Nếu chủ thầu không kiểm soát được việc sử dụng lao động không hợp đồng của người đại diện thi công, và/hoặc không quản lý được chất lượng, nguy cơ tiềm ẩn trong quá trình thi công thì có thể phải liên đới chịu trách nhiệm.
2. Trách nhiệm bồi thường
Căn cứ theo Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 khi Người lao động gặp tai nạn lao động, Người sử dụng lao động có trách nhiệm:
“…2. Thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp
a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu bị suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;
b) Ít nhất 30 tháng tiền lương cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
Căn cứ theo điều 591 Bộ luật dân sự 2015:
“Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”
Vậy theo quy định của pháp luật, người sử dụng lao động có trách nhiệm:
- Chi trả toàn bộ chi phí sơ cứu, cấp cứu, điều trị từ khi xảy ra tai nạn đến khi mất;
- Bồi thường một lần cho thân nhân người gặp nạn ít nhất 30 tháng tiền lương;
- Trợ cấp (nếu tai nạn do lỗi của người lao động) bằng ít nhất 40% mức bồi thường nêu trên;
- Chi phí mai táng;
- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho thân nhân không vượt quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Trong trường hợp này, chưa thể kết luận ngay chủ thầu hay người đại diện thi công là bên duy nhất phải bồi thường. Cần xác định người nhà của bạn thực tế làm việc cho ai. Nếu người đại diện thi công là người trực tiếp thuê, trả công, giao việc và quản lý công việc thì việc hai bên không ký “hợp đồng lao động” không đương nhiên loại trừ quan hệ lao động và trách nhiệm pháp lý.
Đồng thời, cần làm rõ cả trách nhiệm về an toàn lao động của chủ thầu, đơn vị thi công và những người quản lý công trường. Nếu có hành vi vi phạm quy định về an toàn lao động dẫn đến chết người thì ngoài nghĩa vụ bồi thường, cá nhân có trách nhiệm còn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi dựa trên thông tin mà bạn cung cấp, để có cơ sở tư vấn chính xác hơn, bạn vui lòng cung cấp thêm một số thông tin sau:
- Ai là người trực tiếp thuê, thỏa thuận tiền công, phân công, quản lý người nhà của bạn? Là bên chủ thầu hay bên thi công?
- Nơi làm việc của người nhà bạn có đảm bảo an toàn lao động hay có nguy cơ nào gây mất an toàn lao động không?
- Đã có biên bản hiện trường hoặc giấy chứng tử chưa?
- Người nhà bạn có nhận được bất kỳ khoản hỗ trợ nào từ bên chủ thầy hoặc bên thi công chưa?
- Ngoài người nhà bạn ra, còn ai khác được gọi đi làm không?
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
-
Bạo lực mạng
Dạ Luật Sư cho con hỏi ạ. Hiện tại con đang bị 1 nhóm người bạo lực mạng, công khai danh tính của con làm ảnh hưởng tới cuộc sống hiện tại rất nhiều ạ. Con có sai trong mối quan hệ tìm hiểu, và mấy bạn đó tụ tập lại rồi chèo lái, thêm chuyện rồi đăng lên hội nhóm, trang cá nhân công kích con. Cho con hỏi thì trường hợp như vậy thì có bị xử lí không ạ?
Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời
Bạo lực mạng
Chào bạn,
Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:
Từ thông tin bạn cung cấp, chưa thể kết luận toàn bộ nhóm người đó đều vi phạm pháp luật, mà theo đúng quy đinh pháp luật: từng người sẽ được xem xét theo hành vi cụ thể như bịa đặt thông tin, xúc phạm danh dự, công khai đời tư, sử dụng trái phép hình ảnh, đe dọa hoặc kêu gọi người khác cùng công kích.
Thứ nhất, các trường hợp có thể bị xử lý:
Cần phân biệt các nhóm nội dung sau: Kể lại sự việc có thật, có căn cứ, trình bày trải nghiệm hoặc quan điểm cá nhân với ngôn từ phù hợp; Cắt ghép, thêm tình tiết, quy kết những việc không có thật; Chửi bới, dùng từ ngữ miệt thị, hạ nhục, lôi kéo nhiều người công kích; Công khai tin nhắn riêng tư, hình ảnh riêng tư, địa chỉ, số điện thoại, nơi học tập hoặc làm việc; Đe dọa đánh, tìm đến nhà hoặc nơi làm việc, kích động người khác tấn công; v.v
Điều 34 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm. Điều 38 bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; việc thu thập, lưu giữ, sử dụng và công khai thông tin thuộc phạm vi này về nguyên tắc phải được người đó đồng ý. Nếu họ sử dụng hình ảnh của bạn, Điều 32 Bộ luật này cũng quy định việc sử dụng hình ảnh cá nhân phải được người có hình ảnh đồng ý, trừ một số trường hợp luật định.
Theo Điều 16 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 còn quy định dữ liệu cá nhân chỉ được công khai vì mục đích cụ thể, trong phạm vi phù hợp và không được xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể dữ liệu. Việc công khai thông thường phải có sự đồng ý, trừ trường hợp luật cho phép. Tuy nhiên, Điều 19 của Luật cũng cho phép xử lý dữ liệu không cần sự đồng ý khi thật sự cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trước hành vi xâm phạm. Vì vậy, không phải cứ đăng tên hoặc hình ảnh của bạn là mặc nhiên trái pháp luật; phải xem mục đích, tính cần thiết, mức độ công khai và nội dung kèm theo.
Thứ hai, trách nhiệm pháp lý có thể áp dụng
1. Về trách nhiệm dân sự
Theo các Điều 11, 32, 34, 38 và 592 Bộ luật Dân sự năm 2015, bạn có quyền yêu cầu người vi phạm: Chấm dứt việc đăng tải, chia sẻ và công kích; Gỡ bỏ bài viết, hình ảnh, video hoặc thông tin riêng tư; Bác bỏ thông tin sai sự thật; Cải chính và xin lỗi công khai; Bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được thiệt hại thực tế.
Khoản bồi thường có thể bao gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút; thiệt hại khác và khoản bù đắp tổn thất tinh thần. Để yêu cầu bồi thường, bạn cần chứng minh cụ thể hậu quả như bị mất việc, ảnh hưởng học tập, phải điều trị tâm lý, bị khách hàng hủy giao dịch hoặc phát sinh chi phí xử lý sự việc.
2. Về xử phạt hành chính
Theo điểm a khoản 1 Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung, hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống hoặc xúc phạm danh dự, nhân phẩm cá nhân có thể bị phạt từ 10–20 triệu đồng đối với tổ chức; cá nhân vi phạm bị áp dụng bằng một nửa, tức từ 5–10 triệu đồng.
Nếu tiết lộ bí mật đời tư của cá nhân mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, mức phạt đối với tổ chức là 20–30 triệu đồng; đối với cá nhân là 10–15 triệu đồng. Người vi phạm còn có thể bị buộc gỡ bỏ thông tin vi phạm.
3. Về trách nhiệm hình sự
Nếu hành vi có tính chất nghiêm trọng, người thực hiện có thể bị xem xét:
- Tội làm nhục người khác – Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015: áp dụng khi có hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự. Việc sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử là tình tiết định khung tại điểm e khoản 2 Điều 155, với khung hình phạt từ 03 tháng đến 02 năm tù.
- Tội vu khống – Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015: áp dụng khi người đăng bịa đặt hoặc loan truyền điều mà họ biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bạn. Trường hợp sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử, khung hình phạt tại khoản 2 có thể từ 01–03 năm tù.
Không phải mọi lời chê bai hoặc tranh cãi trên mạng đều cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra sẽ đánh giá nội dung, ngôn từ, mức độ bịa đặt, số người tham gia, phạm vi lan truyền, thời gian kéo dài và hậu quả đối với bạn.
Những vấn đề cần làm rõ thêm:
1. Bạn hiện bao nhiêu tuổi và những người đăng bài có biết bạn là người chưa thành niên hay không?
2. Đã bị công khai cụ thể những thông tin nào của bạn như họ tên, hình ảnh, số điện thoại, địa chỉ, nơi học tập, nơi làm việc hoặc tin nhắn riêng tư?
3. Trong các bài đăng, nội dung nào đúng sự thật và nội dung nào bị bịa đặt, cắt ghép hoặc thêm thắt?
4. Có người nào sử dụng lời lẽ chửi bới, đe dọa, kích động người khác tấn công hoặc liên hệ với gia đình, nhà trường, nơi làm việc của bạn hay không?
5. Bạn đã lưu được đường dẫn, ảnh chụp, video, tài khoản người đăng và tài liệu chứng minh ảnh hưởng thực tế đến cuộc sống của mình chưa?
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
-
Bị tai nạn lao động không hợp đồng
Cậu tôi có làm cho một chủ thầu về nhà tiền chế , không có hợp đồng Trong lúc làm việc trên mái tôn trên nóc nhà thì bị điện giật ngày 7/8/2026 sau đó chủ nhà đã gọi cho chủ thầu chở cậu tôi đi bệnh viện ở long xuyên sau đó được chuyển tuyến lên bệnh viện chợ rẩy thì toàn bộ tiền chi phí từ bệnh viện ở long xuyên đến bệnh viện chợ rẩy là do chủ thầu chi trả Sáng 9/8/2026 đã bỏ về và nói chỉ lo tới đó là đủ Cậu tôi bị bỏng nặng , 2 chân cháy đen , 1 ngón tay không giữ được , không thể tự vệ sinh phải đặt ống tiểu Gia đình nghèo còn phải lo cha mẹ già hơn 70t Số tiền điều trị lên đến mấy trăm triệu - Chủ thầu có phải chịu trách nghiệm chi trả , bồi thường đến khi cậu tôi bình phục không ? - Gia đình tôi cần cơ quan nào ? , xin những biên bản bằng chứng gì ? -,... Mong Luật Sư giải đáp thắc gia đình tôi biết ơn rất nhiều
Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời
Bị tai nạn lao động không hợp đồng
Chào bạn,
Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:
Thứ nhất, không có hợp đồng bằng văn bản vẫn có thể là quan hệ lao động
Cần phân biệt hai trường hợp hoàn toàn khác nhau:
- Không ký hợp đồng lao động bằng giấy nhưng thực tế có việc làm, tiền công và sự quản lý của chủ thầu;
- Người làm việc độc lập, tự nhận khoán công việc, tự quyết định cách thức và thời gian thực hiện, không chịu sự quản lý của bên thuê.
Theo khoản 5 Điều 3, Điều 13 Bộ luật Lao động 2019, dù hai bên không ký văn bản hoặc gọi thỏa thuận bằng tên khác, nếu có đủ các dấu hiệu:
- Được chủ thầu tuyển hoặc gọi đến làm;
- Chủ thầu giao công việc, địa điểm và thời gian
làm;
- Chủ thầu hoặc người của chủ thầu quản lý, điều
hành, giám sát;
- Được trả lương theo ngày, tuần, tháng
hoặc theo khối lượng công việc;
thì quan hệ này vẫn có thể được xác định là quan hệ lao động.
Đối với công việc có thời hạn dưới 01 tháng, Điều 14 Bộ luật Lao động 2019 còn cho phép các bên giao kết hợp đồng bằng lời nói, trừ một số trường hợp đặc biệt. Nếu làm từ đủ 01 tháng trở lên mà chủ thầu không ký hợp đồng bằng văn bản thì đó là vi phạm của chủ thầu, không phải căn cứ để bác bỏ quyền lợi của người lao động.
Việc chủ thầu trực tiếp đưa cậu của bạn đi bệnh viện và thanh toán chi phí ban đầu cũng là một tình tiết có giá trị chứng minh rằng tai nạn xảy ra trong quá trình làm việc cho chủ thầu, mặc dù chưa phải chứng cứ duy nhất.
Thứ hai, có dấu hiệu của tai nạn lao động
Theo khoản 8 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bộ phận, chức năng của cơ thể hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động và gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.
Cậu của bạn bị điện giật trong lúc đang làm việc trên mái tôn của công trình nhà tiền chế nên về nguyên tắc có đủ dấu hiệu ban đầu để xác định là tai nạn lao động.
Đây đồng thời là công việc có nguy cơ đặc biệt cao vì vừa làm việc trên cao, vừa có yếu tố điện. Cần điều tra xem chủ thầu có:
- Khảo sát khoảng cách an toàn với đường dây điện
hay không;
- Ngắt nguồn điện trước khi thi công hay không;
- Có biện pháp thi công và cảnh báo nguy hiểm hay
không;
- Huấn luyện an toàn lao động trước khi giao việc
hay không;
- Cấp dây đai an toàn, găng tay, giày và thiết bị
cách điện hay không;
- Bố trí người giám sát an toàn tại công trình hay
không.
Điều 16, Điều 18 và Điều 23 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 buộc người sử dụng lao động phải đánh giá, kiểm soát yếu tố nguy hiểm, tổ chức huấn luyện và trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân. Điều 115 Luật Xây dựng 2014 cũng đặt trách nhiệm bảo đảm an toàn trong thi công đối với nhà thầu thi công và chủ thể có liên quan.
Thứ ba, Chủ thầu phải thanh toán những khoản nào?
Nếu xác định cậu của bạn là người lao động của chủ thầu, Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 buộc chủ thầu thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ sau:
a. Tạm ứng và thanh toán chi phí điều trị
Chủ thầu phải: Kịp thời sơ cứu, cấp cứu; Tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị; Nếu có bảo hiểm y tế: thanh toán phần đồng chi trả và những chi phí hợp lý không thuộc phạm vi bảo hiểm y tế chi trả; Nếu không có bảo hiểm y tế: thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định.
Vì vậy, việc “điều trị ổn định” phải căn cứ vào tình trạng y khoa và kết luận của cơ sở điều trị, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thầu.
Tuy nhiên, gia đình cũng cần hiểu đúng: pháp luật quy định chi phí y tế đến khi điều trị ổn định, không đồng nghĩa chủ thầu đương nhiên phải trả vô thời hạn cho mọi khoản phát sinh đến khi sức khỏe trở lại hoàn toàn. Sau giai đoạn điều trị ổn định, người lao động còn được hưởng tiền lương, bồi thường, trợ cấp, phục hồi chức năng và các chế độ bảo hiểm tương ứng.
b. Trả đủ tiền lương trong thời gian điều trị
Chủ thầu phải trả đủ tiền lương trong thời gian phải nghỉ việc để điều trị và phục hồi chức năng lao động.
Nếu trước đây trả lương bằng tiền mặt thì cần thu thập lời khai của người làm cùng, tin nhắn thỏa thuận tiền công, sổ ghi chép, hình ảnh đi làm và các lần thanh toán trước để chứng minh mức lương thực tế.
c. Bồi thường hoặc trợ cấp tai nạn lao động
Sau khi tình trạng thương tích đã ổn định, phải được giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng Giám định y khoa.
Nếu tai nạn không hoàn toàn do lỗi của cậu của bạn, mức bồi thường tối thiểu được tính như sau:
- Suy giảm từ 5% đến 10%: ít nhất 1,5 tháng tiền
lương;
- Từ 11% đến 80%: ngoài 1,5 tháng tiền lương cho 10%
đầu tiên, cứ tăng 1% được cộng thêm ít nhất 0,4 tháng tiền lương;
- Từ 81% trở lên hoặc chết: ít nhất 30 tháng tiền
lương.
Nếu cơ quan điều tra kết luận tai nạn hoàn toàn do lỗi của cậu bạn thì chủ thầu vẫn phải trả trợ cấp ít nhất bằng 40% mức bồi thường tương ứng. Vì vậy, việc người lao động có một phần lỗi cũng không làm chủ thầu được miễn toàn bộ trách nhiệm.
Việc bồi thường, trợ cấp phải được thực hiện trong thời hạn 05 ngày kể từ khi có kết luận của Hội đồng Giám định y khoa. Cách tính cụ thể được hướng dẫn tại Thông tư 28/2021/TT-BLĐTBXH.
Thứ tư, nếu chủ thầu không đóng bảo hiểm xã hội:
Theo khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, người làm việc theo hợp đồng từ đủ 01 tháng trở lên thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, kể cả thỏa thuận mang tên gọi khác nhưng có việc làm trả công và sự quản lý, giám sát.
Gia đình cần kiểm tra trên VssID hoặc trực tiếp tại cơ quan bảo hiểm xã hội xem chủ thầu có đăng ký bảo hiểm hay không:
- Nếu đã tham gia bảo hiểm tai nạn lao động bắt buộc, ngoài nghĩa vụ của chủ thầu tại Điều 38, cậu bạn còn có thể hưởng chế độ từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, như trợ cấp một lần hoặc hằng tháng, phương tiện trợ giúp sinh hoạt, phục hồi chức năng và dưỡng sức tùy tỷ lệ suy giảm.
- Nếu thuộc diện bắt buộc nhưng chủ thầu không đóng, Điều 39 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định chủ thầu phải trả thêm khoản tiền tương ứng với chế độ mà Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động lẽ ra phải chi trả. Khoản này độc lập với tiền viện phí, tiền lương và tiền bồi thường theo Điều 38.
- Nếu công việc thực tế dưới 01 tháng nên không thuộc diện bắt buộc, chủ thầu vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ trực tiếp theo Điều 38; chỉ không phát sinh chế độ từ quỹ bắt buộc.
Trường hợp cơ quan chức năng xác định cậu bạn thực sự là người làm việc độc lập, không có quan hệ lao động, cần kiểm tra xem trước đó có tham gia bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện theo Nghị định 143/2024/NĐ-CP hay không. Đồng thời, gia đình vẫn có thể yêu cầu bồi thường dân sự đối với người có lỗi.
Thứ năm, ngoài chủ thầu, ai có thể cùng phải chịu trách nhiệm?
Không nên chỉ tập trung vào một mình chủ thầu. Cần điều tra vai trò của: Người trực tiếp tuyển dụng, trả công và giao việc; Công ty hoặc hộ kinh doanh đứng tên nhận thầu; Tổng thầu, nhà thầu phụ hoặc người cai thầu; Chủ nhà/chủ đầu tư; Người quản lý hoặc vận hành hệ thống điện; Đơn vị điện lực nếu đường dây điện, hành lang bảo vệ lưới điện hoặc việc vận hành điện có liên quan đến tai nạn.
Chủ thầu trực tiếp sử dụng lao động thường là người chịu trách nhiệm chính theo pháp luật lao động. Chủ nhà không đương nhiên phải thay chủ thầu thanh toán toàn bộ, nhưng có thể phải chịu trách nhiệm nếu trực tiếp thuê, quản lý cậu bạn, cung cấp hệ thống điện không an toàn, biết nguy hiểm nhưng không cảnh báo hoặc có lỗi khác dẫn đến tai nạn.
Theo các Điều 584, 585, 587 và 590 Bộ luật Dân sự 2015, người có lỗi gây thiệt hại sức khỏe có thể phải bồi thường: Chi phí cứu chữa, phục hồi và khắc phục chức năng bị mất, giảm sút; Thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút; Chi phí và thu nhập bị mất của người chăm sóc; Chi phí chăm sóc lâu dài nếu nạn nhân mất khả năng lao động và cần người thường xuyên chăm sóc; Tổn thất tinh thần; Những thiệt hại hợp lý khác.
Nếu nhiều người cùng có lỗi thì có thể phát sinh trách nhiệm liên đới. Nếu tai nạn xuất phát từ hệ thống truyền tải điện – một nguồn nguy hiểm cao độ – còn phải xem xét Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015.
Thứ sáu, gia đình cần liên hệ với các cơ quan sau:
1. Sở Nội vụ tỉnh nơi công trình tọa lạc
Từ khi cơ cấu quản lý lao động được sắp xếp lại, Sở Nội vụ là cơ quan chuyên môn phụ trách lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động và điều tra tai nạn lao động cấp tỉnh. Bộ Nội vụ cũng xác định Sở Nội vụ thực hiện nhiệm vụ này theo Điều 35 Luật An toàn, vệ sinh lao động. Nghị định 129/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ 01/7/2025 quy định lại thẩm quyền theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Nếu tai nạn xảy ra tại tỉnh An Giang, gia đình gửi Sở Nội vụ tỉnh An Giang: Đơn trình báo và đề nghị xác minh, kiểm tra, điều tra vụ tai nạn lao động xảy ra ngày 07/8/2026.
2. UBND và Công an cấp xã nơi xảy ra tai nạn: nên nộp đồng thời đơn trình báo cho UBND và Công an cấp xã nơi công trình tọa lạc, nhất là khi: Chủ thầu không khai báo; Hiện trường có nguy cơ bị sửa chữa, tháo dỡ; Chưa xác định chắc chắn cậu của bạn là người lao động hay người làm việc độc lập; Có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng về an toàn điện hoặc an toàn xây dựng.
3. Cơ quan Cảnh sát điều tra: nên đề nghị Công an xác minh dấu hiệu của tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người” theo Điều 295 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Thứ bảy, nhóm tài liệu cần thu thập làm chứng cứ chứng minh
Chứng minh quan hệ lao động
- Tin nhắn, cuộc gọi, Zalo về việc nhận vào làm,
giao việc và tiền công;
- Sao kê chuyển khoản, sổ ghi công, bảng chấm công;
- Hình ảnh cậu bạn làm việc tại các công trình trước
đây;
- Lời khai, số điện thoại của những người cùng đội;
- Người đã tuyển dụng, chở đi làm, giao vật tư, trả
lương;
- Thông tin doanh nghiệp, hộ kinh doanh hoặc căn cước,
địa chỉ của chủ thầu;
- Hợp đồng nhận thầu giữa chủ nhà và chủ thầu nếu
có.
Chứng minh diễn biến tai nạn
- Địa chỉ chính xác của công trình;
- Ảnh, video mái tôn, đường dây điện, dụng cụ làm việc
và vị trí cậu bạn bị điện giật;
- Camera của nhà dân, công trình và khu vực xung
quanh;
- Thông tin người trực tiếp nhìn thấy tai nạn;
- Tình trạng nguồn điện, khoảng cách đường dây, việc
ngắt điện;
- Trang thiết bị bảo hộ đã được cấp hoặc thực tế
không được cấp;
- Tin nhắn hoặc ghi âm việc chủ thầu thừa nhận tai nạn;
- Chứng từ chủ thầu đã thanh toán chi phí ban đầu.
Chứng minh thương tích và chi phí
- Hồ sơ cấp cứu tại bệnh viện ở Long Xuyên;
- Giấy chuyển tuyến;
- Hồ sơ điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy;
- Chẩn đoán bỏng điện, diện tích và độ sâu của bỏng;
- Hồ sơ phẫu thuật, nguy cơ hoại tử, cắt cụt chân hoặc
ngón tay;
- Hóa đơn viện phí, thuốc mua ngoài, vận chuyển,
thuê chỗ ở và chăm sóc;
- Giấy nghỉ việc, giấy xác nhận cần người chăm sóc;
- Ảnh thương tích theo từng giai đoạn, bảo đảm giữ
kín thông tin nhạy cảm.
Thứ tám, nếu chủ thầu tiếp tục không thực hiện
Gia đình thực hiện lần lượt:
1. Gửi văn bản yêu cầu chủ thầu tiếp tục tạm ứng viện phí và xác nhận vụ tai nạn;
2. Trình báo Sở Nội vụ, UBND và Công an nơi xảy ra tai nạn;
3. Đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội kiểm tra quá trình tham gia bảo hiểm;
4. Sau khi điều trị ổn định, yêu cầu giới thiệu giám định y khoa;
5. Yêu cầu thanh toán tiền lương, chi phí, bồi thường và chế độ bảo hiểm;
6. Nếu không thỏa thuận được, tiến hành hòa giải tranh chấp lao động trong trường hợp pháp luật yêu cầu và khởi kiện tại Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền.
Với những thông tin cung cấp, chủ thầu không có quyền tự ý dừng trách nhiệm sau khi chỉ thanh toán vài ngày viện phí. Nếu cậu bạn được chủ thầu tuyển dụng, giao việc, trả công và quản lý thì dù không có hợp đồng bằng văn bản, chủ thầu vẫn có thể bị xác định là người sử dụng lao động và phải tuân thủ các quy định nêu trên.
Để làm rõ nội dung tư vấn, vui lòng làm rõ thêm:
1. Cậu của bạn làm cho chủ thầu từ thời điểm nào, được trả công bao nhiêu và ai là người trực tiếp tuyển, giao việc, giám sát và trả tiền?
2. Chủ thầu là cá nhân, hộ kinh doanh hay công ty và có hợp đồng nhận thi công với chủ nhà hoặc tổng thầu hay không?
3. Cậu của bạn có bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội hoặc thông tin tham gia bảo hiểm trên VssID hay không?
4. Nguồn điện gây tai nạn là đường dây điện lực, dây điện của căn nhà hay thiết bị thi công và trước khi làm có được ngắt điện, cảnh báo, huấn luyện hoặc cấp đồ bảo hộ hay không?
5. Hiện gia đình đã có lời khai người chứng kiến, hình ảnh hiện trường, camera, tin nhắn giao việc, chứng từ chủ thầu thanh toán và biên bản của Công an hoặc cơ quan lao động hay chưa?
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
- Được chủ thầu tuyển hoặc gọi đến làm;
-
Bị tai nạn lao động không hợp đồng
Cậu tôi có làm cho một chủ thầu về nhà tiền chế , không có hợp đồng Trong lúc làm việc trên mái tôn trên nóc nhà thì bị điện giật ngày 7/8/2026 sau đó chủ nhà đã gọi cho chủ thầu chở cậu tôi đi bệnh viện ở long xuyên sau đó được chuyển tuyến lên bệnh viện chợ rẩy thì toàn bộ tiền chi phí từ bệnh viện ở long xuyên đến bệnh viện chợ rẩy là do chủ thầu chi trả Sáng 9/8/2026 đã bỏ về và nói chỉ lo tới đó là đủ Cậu tôi bị bỏng nặng , 2 chân cháy đen , 1 ngón tay không giữ được , không thể tự vệ sinh phải đặt ống tiểu Gia đình nghèo còn phải lo cha mẹ già hơn 70t Số tiền điều trị lên đến mấy trăm triệu - Chủ thầu có phải chịu trách nghiệm chi trả , bồi thường đến khi cậu tôi bình phục không ? - Gia đình tôi cần cơ quan nào ? , xin những biên bản bằng chứng gì ? -,... Mong Luật Sư giải đáp thắc gia đình tôi biết ơn rất nhiều
Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời
Bị tai nạn lao động không hợp đồng
Chào bạn,
Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:
Thứ nhất, không có hợp đồng bằng văn bản vẫn có thể là quan hệ lao động
Cần phân biệt hai trường hợp hoàn toàn khác nhau:
- Không ký hợp đồng lao động bằng giấy nhưng thực tế có việc làm, tiền công và sự quản lý của chủ thầu;
- Người làm việc độc lập, tự nhận khoán công việc, tự quyết định cách thức và thời gian thực hiện, không chịu sự quản lý của bên thuê.
Theo khoản 5 Điều 3, Điều 13 Bộ luật Lao động 2019, dù hai bên không ký văn bản hoặc gọi thỏa thuận bằng tên khác, nếu có đủ các dấu hiệu:
- Được chủ thầu tuyển hoặc gọi đến làm;
- Chủ thầu giao công việc, địa điểm và thời gian
làm;
- Chủ thầu hoặc người của chủ thầu quản lý, điều
hành, giám sát;
- Được trả lương theo ngày, tuần, tháng
hoặc theo khối lượng công việc;
thì quan hệ này vẫn có thể được xác định là quan hệ lao động.
Đối với công việc có thời hạn dưới 01 tháng, Điều 14 Bộ luật Lao động 2019 còn cho phép các bên giao kết hợp đồng bằng lời nói, trừ một số trường hợp đặc biệt. Nếu làm từ đủ 01 tháng trở lên mà chủ thầu không ký hợp đồng bằng văn bản thì đó là vi phạm của chủ thầu, không phải căn cứ để bác bỏ quyền lợi của người lao động.
Việc chủ thầu trực tiếp đưa cậu của bạn đi bệnh viện và thanh toán chi phí ban đầu cũng là một tình tiết có giá trị chứng minh rằng tai nạn xảy ra trong quá trình làm việc cho chủ thầu, mặc dù chưa phải chứng cứ duy nhất.
Thứ hai, có dấu hiệu của tai nạn lao động
Theo khoản 8 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bộ phận, chức năng của cơ thể hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động và gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.
Cậu của bạn bị điện giật trong lúc đang làm việc trên mái tôn của công trình nhà tiền chế nên về nguyên tắc có đủ dấu hiệu ban đầu để xác định là tai nạn lao động.
Đây đồng thời là công việc có nguy cơ đặc biệt cao vì vừa làm việc trên cao, vừa có yếu tố điện. Cần điều tra xem chủ thầu có:
- Khảo sát khoảng cách an toàn với đường dây điện
hay không;
- Ngắt nguồn điện trước khi thi công hay không;
- Có biện pháp thi công và cảnh báo nguy hiểm hay
không;
- Huấn luyện an toàn lao động trước khi giao việc
hay không;
- Cấp dây đai an toàn, găng tay, giày và thiết bị
cách điện hay không;
- Bố trí người giám sát an toàn tại công trình hay
không.
Điều 16, Điều 18 và Điều 23 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 buộc người sử dụng lao động phải đánh giá, kiểm soát yếu tố nguy hiểm, tổ chức huấn luyện và trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân. Điều 115 Luật Xây dựng 2014 cũng đặt trách nhiệm bảo đảm an toàn trong thi công đối với nhà thầu thi công và chủ thể có liên quan.
Thứ ba, Chủ thầu phải thanh toán những khoản nào?
Nếu xác định cậu của bạn là người lao động của chủ thầu, Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 buộc chủ thầu thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ sau:
a. Tạm ứng và thanh toán chi phí điều trị
Chủ thầu phải: Kịp thời sơ cứu, cấp cứu; Tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị; Nếu có bảo hiểm y tế: thanh toán phần đồng chi trả và những chi phí hợp lý không thuộc phạm vi bảo hiểm y tế chi trả; Nếu không có bảo hiểm y tế: thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định.
Vì vậy, việc “điều trị ổn định” phải căn cứ vào tình trạng y khoa và kết luận của cơ sở điều trị, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thầu.
Tuy nhiên, gia đình cũng cần hiểu đúng: pháp luật quy định chi phí y tế đến khi điều trị ổn định, không đồng nghĩa chủ thầu đương nhiên phải trả vô thời hạn cho mọi khoản phát sinh đến khi sức khỏe trở lại hoàn toàn. Sau giai đoạn điều trị ổn định, người lao động còn được hưởng tiền lương, bồi thường, trợ cấp, phục hồi chức năng và các chế độ bảo hiểm tương ứng.
b. Trả đủ tiền lương trong thời gian điều trị
Chủ thầu phải trả đủ tiền lương trong thời gian phải nghỉ việc để điều trị và phục hồi chức năng lao động.
Nếu trước đây trả lương bằng tiền mặt thì cần thu thập lời khai của người làm cùng, tin nhắn thỏa thuận tiền công, sổ ghi chép, hình ảnh đi làm và các lần thanh toán trước để chứng minh mức lương thực tế.
c. Bồi thường hoặc trợ cấp tai nạn lao động
Sau khi tình trạng thương tích đã ổn định, phải được giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng Giám định y khoa.
Nếu tai nạn không hoàn toàn do lỗi của cậu của bạn, mức bồi thường tối thiểu được tính như sau:
- Suy giảm từ 5% đến 10%: ít nhất 1,5 tháng tiền
lương;
- Từ 11% đến 80%: ngoài 1,5 tháng tiền lương cho 10%
đầu tiên, cứ tăng 1% được cộng thêm ít nhất 0,4 tháng tiền lương;
- Từ 81% trở lên hoặc chết: ít nhất 30 tháng tiền
lương.
Nếu cơ quan điều tra kết luận tai nạn hoàn toàn do lỗi của cậu bạn thì chủ thầu vẫn phải trả trợ cấp ít nhất bằng 40% mức bồi thường tương ứng. Vì vậy, việc người lao động có một phần lỗi cũng không làm chủ thầu được miễn toàn bộ trách nhiệm.
Việc bồi thường, trợ cấp phải được thực hiện trong thời hạn 05 ngày kể từ khi có kết luận của Hội đồng Giám định y khoa. Cách tính cụ thể được hướng dẫn tại Thông tư 28/2021/TT-BLĐTBXH.
Thứ tư, nếu chủ thầu không đóng bảo hiểm xã hội:
Theo khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, người làm việc theo hợp đồng từ đủ 01 tháng trở lên thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, kể cả thỏa thuận mang tên gọi khác nhưng có việc làm trả công và sự quản lý, giám sát.
Gia đình cần kiểm tra trên VssID hoặc trực tiếp tại cơ quan bảo hiểm xã hội xem chủ thầu có đăng ký bảo hiểm hay không:
- Nếu đã tham gia bảo hiểm tai nạn lao động bắt buộc, ngoài nghĩa vụ của chủ thầu tại Điều 38, cậu bạn còn có thể hưởng chế độ từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, như trợ cấp một lần hoặc hằng tháng, phương tiện trợ giúp sinh hoạt, phục hồi chức năng và dưỡng sức tùy tỷ lệ suy giảm.
- Nếu thuộc diện bắt buộc nhưng chủ thầu không đóng, Điều 39 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định chủ thầu phải trả thêm khoản tiền tương ứng với chế độ mà Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động lẽ ra phải chi trả. Khoản này độc lập với tiền viện phí, tiền lương và tiền bồi thường theo Điều 38.
- Nếu công việc thực tế dưới 01 tháng nên không thuộc diện bắt buộc, chủ thầu vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ trực tiếp theo Điều 38; chỉ không phát sinh chế độ từ quỹ bắt buộc.
Trường hợp cơ quan chức năng xác định cậu bạn thực sự là người làm việc độc lập, không có quan hệ lao động, cần kiểm tra xem trước đó có tham gia bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện theo Nghị định 143/2024/NĐ-CP hay không. Đồng thời, gia đình vẫn có thể yêu cầu bồi thường dân sự đối với người có lỗi.
Thứ năm, ngoài chủ thầu, ai có thể cùng phải chịu trách nhiệm?
Không nên chỉ tập trung vào một mình chủ thầu. Cần điều tra vai trò của: Người trực tiếp tuyển dụng, trả công và giao việc; Công ty hoặc hộ kinh doanh đứng tên nhận thầu; Tổng thầu, nhà thầu phụ hoặc người cai thầu; Chủ nhà/chủ đầu tư; Người quản lý hoặc vận hành hệ thống điện; Đơn vị điện lực nếu đường dây điện, hành lang bảo vệ lưới điện hoặc việc vận hành điện có liên quan đến tai nạn.
Chủ thầu trực tiếp sử dụng lao động thường là người chịu trách nhiệm chính theo pháp luật lao động. Chủ nhà không đương nhiên phải thay chủ thầu thanh toán toàn bộ, nhưng có thể phải chịu trách nhiệm nếu trực tiếp thuê, quản lý cậu bạn, cung cấp hệ thống điện không an toàn, biết nguy hiểm nhưng không cảnh báo hoặc có lỗi khác dẫn đến tai nạn.
Theo các Điều 584, 585, 587 và 590 Bộ luật Dân sự 2015, người có lỗi gây thiệt hại sức khỏe có thể phải bồi thường: Chi phí cứu chữa, phục hồi và khắc phục chức năng bị mất, giảm sút; Thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút; Chi phí và thu nhập bị mất của người chăm sóc; Chi phí chăm sóc lâu dài nếu nạn nhân mất khả năng lao động và cần người thường xuyên chăm sóc; Tổn thất tinh thần; Những thiệt hại hợp lý khác.
Nếu nhiều người cùng có lỗi thì có thể phát sinh trách nhiệm liên đới. Nếu tai nạn xuất phát từ hệ thống truyền tải điện – một nguồn nguy hiểm cao độ – còn phải xem xét Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015.
Thứ sáu, gia đình cần liên hệ với các cơ quan sau:
1. Sở Nội vụ tỉnh nơi công trình tọa lạc
Từ khi cơ cấu quản lý lao động được sắp xếp lại, Sở Nội vụ là cơ quan chuyên môn phụ trách lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động và điều tra tai nạn lao động cấp tỉnh. Bộ Nội vụ cũng xác định Sở Nội vụ thực hiện nhiệm vụ này theo Điều 35 Luật An toàn, vệ sinh lao động. Nghị định 129/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ 01/7/2025 quy định lại thẩm quyền theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Nếu tai nạn xảy ra tại tỉnh An Giang, gia đình gửi Sở Nội vụ tỉnh An Giang: Đơn trình báo và đề nghị xác minh, kiểm tra, điều tra vụ tai nạn lao động xảy ra ngày 07/8/2026.
2. UBND và Công an cấp xã nơi xảy ra tai nạn: nên nộp đồng thời đơn trình báo cho UBND và Công an cấp xã nơi công trình tọa lạc, nhất là khi: Chủ thầu không khai báo; Hiện trường có nguy cơ bị sửa chữa, tháo dỡ; Chưa xác định chắc chắn cậu của bạn là người lao động hay người làm việc độc lập; Có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng về an toàn điện hoặc an toàn xây dựng.
3. Cơ quan Cảnh sát điều tra: nên đề nghị Công an xác minh dấu hiệu của tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người” theo Điều 295 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Thứ bảy, nhóm tài liệu cần thu thập làm chứng cứ chứng minh
Chứng minh quan hệ lao động
- Tin nhắn, cuộc gọi, Zalo về việc nhận vào làm,
giao việc và tiền công;
- Sao kê chuyển khoản, sổ ghi công, bảng chấm công;
- Hình ảnh cậu bạn làm việc tại các công trình trước
đây;
- Lời khai, số điện thoại của những người cùng đội;
- Người đã tuyển dụng, chở đi làm, giao vật tư, trả
lương;
- Thông tin doanh nghiệp, hộ kinh doanh hoặc căn cước,
địa chỉ của chủ thầu;
- Hợp đồng nhận thầu giữa chủ nhà và chủ thầu nếu
có.
Chứng minh diễn biến tai nạn
- Địa chỉ chính xác của công trình;
- Ảnh, video mái tôn, đường dây điện, dụng cụ làm việc
và vị trí cậu bạn bị điện giật;
- Camera của nhà dân, công trình và khu vực xung
quanh;
- Thông tin người trực tiếp nhìn thấy tai nạn;
- Tình trạng nguồn điện, khoảng cách đường dây, việc
ngắt điện;
- Trang thiết bị bảo hộ đã được cấp hoặc thực tế
không được cấp;
- Tin nhắn hoặc ghi âm việc chủ thầu thừa nhận tai nạn;
- Chứng từ chủ thầu đã thanh toán chi phí ban đầu.
Chứng minh thương tích và chi phí
- Hồ sơ cấp cứu tại bệnh viện ở Long Xuyên;
- Giấy chuyển tuyến;
- Hồ sơ điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy;
- Chẩn đoán bỏng điện, diện tích và độ sâu của bỏng;
- Hồ sơ phẫu thuật, nguy cơ hoại tử, cắt cụt chân hoặc
ngón tay;
- Hóa đơn viện phí, thuốc mua ngoài, vận chuyển,
thuê chỗ ở và chăm sóc;
- Giấy nghỉ việc, giấy xác nhận cần người chăm sóc;
- Ảnh thương tích theo từng giai đoạn, bảo đảm giữ
kín thông tin nhạy cảm.
Thứ tám, nếu chủ thầu tiếp tục không thực hiện
Gia đình thực hiện lần lượt:
1. Gửi văn bản yêu cầu chủ thầu tiếp tục tạm ứng viện phí và xác nhận vụ tai nạn;
2. Trình báo Sở Nội vụ, UBND và Công an nơi xảy ra tai nạn;
3. Đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội kiểm tra quá trình tham gia bảo hiểm;
4. Sau khi điều trị ổn định, yêu cầu giới thiệu giám định y khoa;
5. Yêu cầu thanh toán tiền lương, chi phí, bồi thường và chế độ bảo hiểm;
6. Nếu không thỏa thuận được, tiến hành hòa giải tranh chấp lao động trong trường hợp pháp luật yêu cầu và khởi kiện tại Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền.
Với những thông tin cung cấp, chủ thầu không có quyền tự ý dừng trách nhiệm sau khi chỉ thanh toán vài ngày viện phí. Nếu cậu bạn được chủ thầu tuyển dụng, giao việc, trả công và quản lý thì dù không có hợp đồng bằng văn bản, chủ thầu vẫn có thể bị xác định là người sử dụng lao động và phải tuân thủ các quy định nêu trên.
Để làm rõ nội dung tư vấn, vui lòng làm rõ thêm:
1. Cậu của bạn làm cho chủ thầu từ thời điểm nào, được trả công bao nhiêu và ai là người trực tiếp tuyển, giao việc, giám sát và trả tiền?
2. Chủ thầu là cá nhân, hộ kinh doanh hay công ty và có hợp đồng nhận thi công với chủ nhà hoặc tổng thầu hay không?
3. Cậu của bạn có bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội hoặc thông tin tham gia bảo hiểm trên VssID hay không?
4. Nguồn điện gây tai nạn là đường dây điện lực, dây điện của căn nhà hay thiết bị thi công và trước khi làm có được ngắt điện, cảnh báo, huấn luyện hoặc cấp đồ bảo hộ hay không?
5. Hiện gia đình đã có lời khai người chứng kiến, hình ảnh hiện trường, camera, tin nhắn giao việc, chứng từ chủ thầu thanh toán và biên bản của Công an hoặc cơ quan lao động hay chưa?
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
- Được chủ thầu tuyển hoặc gọi đến làm;
-
CHIA ĐẤT TÀI SẢN HỘ GIA ĐÌNH
"Chào Luật sư, Tôi cần tư vấn và thuê Luật sư đại diện tham gia xét xử PHÚC THẨM vụ án Tranh chấp Đất đai Hộ gia đình tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long. Tôi xin tóm tắt đầy đủ vụ việc như sau: 1. Nguồn gốc đất & Hồ sơ pháp lý: • Đất được Tập đoàn sản xuất giao cấp t cho Hộ gia đình gồm 06 nhân khẩu (Mẹ tôi làm Chủ hộ). • Giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho Hộ gia đình, gồm các thửa: o Thửa 204 (có căn nhà): diện tích [807,5m²]. o Thửa 211: diện tích [995 m²]. o Thửa 49: diện tích [4,231,1m²]. 2. Mâu thuẫn & Diễn biến vụ án: - Ba mẹ đã ly hôn • Năm 2024, Ba tôi (Nguyên đơn) tự ý thuê đơn vị đo đạc lập hồ sơ trích đo xin tách Sổ đỏ từng thửa. Ba tôi đã nộp đơn khởi kiện ra Tòa án đòi chia tách Sổ. - Ba tôi: Đất có nguồn gốc phụng thờ Liệt sĩ, nên đòi sở hữu riêng phần đất có căn nhà là thửa 204 ( năm 2024 ông đo đạc chia 1 phần cho anh trai vì anh đã xây nhà dt 252,2m2, còn ông đòi dt 555,3m2 phần có căn nhà), và thửa 211 - Mẹ tôi và 4 người con (Bị đơn/Người liên quan): muốn giử đất chung của hộ. Mẹ con tôi vẫn đồng ý cho ba ở và thờ cúng ls chỉ ko dc tách chia cho cá nhân ông, vẫn giữ tài sản chung của Hộ( vì mục đích ông đòi để bán hoặc tặng cho nkhac ) 3. Phán quyết của Tòa Sơ thẩm (vừa tuyên): • Tòa tuyên chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn: Giao trọn thửa 204 (có nhà) và thửa 211 cho Ba tôi với lý do ưu đãi Liệt sĩ/thờ cúng, buộc Ba tôi thối lại cho Mẹ tôi 97 triệu đồng để lấy căn nhà và đất này. • Mẹ con tôi thì bị Tòa chia/dồn sang thửa 49 4. Nhu cầu hiện tại: • Gia đình đang làm thủ tục nộp Đơn kháng cáo Phúc thẩm • Mẹ con tôi muốn đặt lịch tư vấn trực tiếp để Luật sư nghiên cứu hồ sơ và đại diện tham gia xét xử Phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long Rất mong Luật sư xem qua và tư vấn. Tôi xin cảm ơn!"
Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời
CHIA ĐẤT TÀI SẢN HỘ GIA ĐÌNH
Chào bạn,
Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:
Thứ nhất, về thời hạn kháng cáo:
Theo Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm; thời hạn kháng cáo đối với bản án là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Đơn kháng cáo phải gửi cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm và ghi cụ thể phần bản án bị kháng cáo, lý do, yêu cầu sửa hoặc hủy bản án.
Nếu người mẹ và bốn người con đều là người có quyền lợi bị ảnh hưởng thì mỗi người nên:
- Trực tiếp đứng tên, ký đơn kháng cáo; hoặc
- Ủy quyền hợp lệ cho một người đại diện thực hiện việc kháng cáo.
Không nên mặc nhiên cho rằng đơn kháng cáo của người mẹ sẽ bảo vệ toàn bộ phần quyền của các con đã thành niên nếu không có ủy quyền.
Thứ hai, xác định đúng sáu người có chung quyền sử dụng đất hay không
Khoản 25 Điều 3 Luật Đất đai 2024 quy định hộ gia đình sử dụng đất là những người:
- Có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng;
- Đang sống chung; và
- Có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất trước ngày Luật có hiệu lực.
Như vậy, “06 nhân khẩu” là một chứng cứ chứng minh quan trọng nhưng không đồng nghĩa cả sáu người đều có sáu phần quyền bằng nhau. Tòa án phải xem xét hồ sơ giao đất, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận và quá trình sử dụng đất để xác định ai có chung quyền tại thời điểm hình thành quyền sử dụng đất.
Gia đình cần thu thập:
1. Quyết định hoặc phương án giao đất của Tập đoàn sản xuất;
2. Danh sách hộ và nhân khẩu được giao đất;
3. Đơn đăng ký, hồ sơ xét cấp Giấy chứng nhận lần đầu;
4. Sổ mục kê, sổ địa chính, biên bản xét cấp đất;
5. Sổ hộ khẩu hoặc tài liệu cư trú tại thời điểm giao, cấp đất;
6. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc;
7. Tài liệu chứng minh quá trình quản lý, canh tác, đóng thuế và đầu tư vào đất.
Nếu hồ sơ ghi rõ đất được giao cho “hộ gia đình” gồm cha, mẹ và bốn người con thì đây là căn cứ quan trọng để phản đối việc xác định thửa 204 và thửa 211 là tài sản riêng của người cha.
Khoản 2 Điều 27 Luật Đất đai 2024 cũng xác định nhóm thành viên hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất có quyền, nghĩa vụ như cá nhân; khi quyền sử dụng đất không phân chia được thì các thành viên phải cùng nhau thực hiện hoặc ủy quyền cho người đại diện thực hiện quyền của nhóm.
Thứ ba, Chính sách ưu đãi liệt sĩ có làm phát sinh quyền sử dụng đất riêng hay không? Khoản 4 Điều 15 Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 quy định người được giao hoặc ủy quyền thờ cúng liệt sĩ có thể được hưởng trợ cấp thờ cúng. Khoản 7 Điều 16 và các điểm e, g, h khoản 2 Điều 5 Pháp lệnh quy định thân nhân liệt sĩ được hưởng một số chính sách như hỗ trợ nhà ở, miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất, ưu tiên khi được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất.
Điều 28 Nghị định số 131/2021/NĐ-CP quy định thủ tục xác định người thờ cúng và hưởng trợ cấp; các Điều 99, 103–107 quy định cụ thể chính sách hỗ trợ nhà ở, miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất.
Tuy nhiên, các quy định trên chỉ là chính sách ưu đãi, trợ cấp hoặc hỗ trợ tài chính, không quy định người thờ cúng liệt sĩ đương nhiên được sở hữu hoặc sử dụng riêng đất đang đứng tên hộ gia đình.
Nếu hồ sơ giao đất và Giấy chứng nhận thể hiện đất được cấp cho hộ gia đình gồm 06 thành viên thì phải xác định quyền của từng thành viên căn cứ vào thời điểm giao đất, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận và quá trình sử dụng đất, theo khoản 25 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024 và Điều 212 Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc người cha là thân nhân hoặc người thờ cúng liệt sĩ không thay thế cho quyết định giao đất hoặc giấy tờ xác lập quyền sử dụng đất riêng.
Chỉ khi có tài liệu chứng minh đất được Nhà nước giao riêng cho người cha theo chính sách người có công, hoặc đất là di sản được người để lại di chúc dành riêng cho việc thờ cúng theo Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2015, thì mới có căn cứ xem xét theo hướng khác.
Vì vậy, nếu Tòa án sơ thẩm giao toàn bộ thửa 204 và thửa 211 cho người cha chỉ dựa vào lý do ưu đãi liệt sĩ hoặc thờ cúng liệt sĩ, nhưng chưa làm rõ hồ sơ giao đất và quyền của 06 thành viên hộ gia đình, thì có cơ sở đề nghị Tòa án phúc thẩm thu thập lại hồ sơ cấp đất, xác định đầy đủ thành viên có quyền sử dụng đất và xem xét lại việc phân chia cũng như khoản tiền chênh lệch 97 triệu đồng.
Thứ tư, người cha có quyền yêu cầu chia tài sản, nhưng Tòa án phải chia đúng quyền và đúng giá trị
Điều 212 Bộ luật Dân sự 2015 quy định tài sản chung của các thành viên gia đình gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng tạo lập và tài sản khác được xác lập quyền sở hữu chung; việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt phải theo thỏa thuận của các thành viên.
Điều 219 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép một chủ sở hữu chung yêu cầu chia tài sản chung. Vì vậy, gia đình khó có thể yêu cầu bác toàn bộ việc chia chỉ vì muốn tiếp tục giữ đất chung.
Hướng kháng cáo phù hợp hơn là yêu cầu:
- Xác định đầy đủ các thành viên có chung quyền;
- Xác định tỷ lệ hoặc giá trị quyền của từng người;
- Xác định riêng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở;
- Chia lại bằng hiện vật theo giá trị, vị trí và khả năng sử dụng;
- Không giao riêng hai thửa có giá trị, vị trí thuận lợi cho một người
nếu làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đồng chủ sử dụng khác.
Thứ năm, kiểm tra kết quả định giá và khoản tiền 97 triệu đồng
Theo thông tin cung cấp, Thửa 49 có diện tích lớn hơn nhưng có thể là đất nông nghiệp, vị trí kém thuận lợi hoặc giá trị thấp hơn đáng kể so với thửa 204 có nhà và thửa 211 (Cần kiểm tra: loại đất, giá trị, thời hạn sử dụng, hiện trạng, nhà ở,v.v)
Nếu kết quả định giá không sát giá thị trường, bỏ sót tài sản hoặc không đánh giá chênh lệch về vị trí, mục đích sử dụng, gia đình có thể đề nghị định giá lại tại giai đoạn phúc thẩm.
Riêng phần nhà của người anh trên diện tích 252,2 m², cần xác định người anh có được tham gia tố tụng đầy đủ hay không và bản án đã giải quyết quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất liên quan như thế nào. Nếu bỏ sót quyền lợi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì đây có thể là vi phạm tố tụng nghiêm trọng.
Thứ sáu, cơ sở pháp lý để kháng cáo:
1. Nội dung kháng cáo nên trình bày cụ thể các vấn đề sau:
- Tòa án sơ thẩm chưa xác minh đầy đủ hồ sơ giao đất và cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình;
- Chưa xác định đúng hoặc đầy đủ các thành viên có chung quyền sử dụng đất;
- Không có căn cứ pháp lý để coi việc thờ cúng liệt sĩ là lý do giao riêng thửa 204 và thửa 211 cho người cha;
- Chưa làm rõ quyền sở hữu căn nhà trên thửa 204 và căn nhà của người anh;
- Kết quả định giá hoặc cách tính khoản chênh lệch 97 triệu đồng chưa khách quan;
- Phương án đưa người mẹ và các con sang thửa 49 không bảo đảm tương xứng về giá trị và điều kiện sử dụng;
- Nếu người cha chỉ yêu cầu “tách Giấy chứng nhận” nhưng Tòa án lại phân chia, giao riêng tài sản vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện thì cần xem xét dấu hiệu giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự, trái nguyên tắc tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Nếu bỏ sót người tham gia tố tụng hoặc không thể bổ sung đầy đủ chứng cứ tại cấp phúc thẩm thì đề nghị hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại.
2. Yêu cầu kháng cáo có thể trình bày theo hướng:
Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không giao riêng toàn bộ thửa 204 và thửa 211 cho nguyên đơn; xác định đầy đủ các thành viên có chung quyền sử dụng đất, tỷ lệ quyền của từng người và phân chia lại tài sản bảo đảm tương xứng về giá trị, hiện trạng sử dụng và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Trường hợp không thể khắc phục tại cấp phúc thẩm do hồ sơ chưa đầy đủ hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đề nghị hủy phần bản án có liên quan để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Thứ 7, cần ngăn chặn việc chuyển nhượng trong thời gian kháng cáo
Phần bản án bị kháng cáo đúng hạn chưa có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, điểm b khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024 quy định đất muốn chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp phải không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực. Vì vậy, người cha chưa thể hợp pháp bán hoặc tặng cho riêng đất đang tranh chấp.
Nếu thấy có có dấu hiệu người cha tiếp tục làm thủ tục chuyển dịch hoặc thay đổi hiện trạng đất, gia đình có thể đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: cấm chuyển dịch quyền về tài sản hoặc cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp theo Điều 114, Điều 121 và Điều 122 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
- Xác định đầy đủ các thành viên có chung quyền;
-
tranh chấp đất
nguyên đơn. khởi kiên với 2 lời khai . đơn khỏi kiện ghi rời đi 1985 .đơn khiếu nại ghi lại 1999 . thì đương sự phải xử lý sao
Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời
tranh chấp đất
Chào bạn,
Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:
Theo nội dung bạn trình bày, nguyên đơn có hai lời khai không thống nhất về cùng một tình tiết của vụ án, cụ thể:
- Trong đơn khởi kiện trình bày rời khỏi đất từ năm 1985;
- Trong đơn khiếu nại lại trình bày rời khỏi đất từ năm 1999.
Đây là tình tiết mâu thuẫn liên quan trực tiếp đến quá trình quản lý, sử dụng đất và là một trong những căn cứ để Tòa án xem xét, đánh giá chứng cứ.
Thứ nhất, nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đương sự đưa ra yêu cầu thì có nghĩa vụ thu thập, giao nộp và chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, khi có sự mâu thuẫn giữa các lời khai về cùng một sự việc, nguyên đơn phải giải trình rõ nguyên nhân của sự khác biệt, xác định lời khai nào là đúng và cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho nội dung mình trình bày.
Nếu nguyên đơn không giải thích được sự mâu thuẫn hoặc không xuất trình được chứng cứ chứng minh thì phải chịu hậu quả pháp lý của việc không thực hiện được nghĩa vụ chứng minh theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Thứ hai, lời khai của đương sự chỉ là một trong các nguồn chứng cứ của vụ án.
Theo khoản 5 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, lời khai của đương sự được coi là chứng cứ nếu được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Tuy nhiên, lời khai đó không đương nhiên được chấp nhận mà còn phải được đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, việc nguyên đơn có hai lời khai khác nhau sẽ làm phát sinh vấn đề về tính thống nhất và giá trị chứng minh của lời khai, buộc Tòa án phải xem xét, đối chiếu với toàn bộ chứng cứ khác trước khi đưa ra kết luận.
Thứ ba, Tòa án sẽ đánh giá toàn diện các chứng cứ của vụ án.
Theo Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án có trách nhiệm đánh giá từng chứng cứ, xem xét sự liên quan giữa các chứng cứ và đánh giá toàn diện, khách quan, đầy đủ để xác định sự thật khách quan của vụ án.
Vì vậy, chỉ riêng việc có hai lời khai mâu thuẫn không đồng nghĩa với việc yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn sẽ bị bác bỏ. Tuy nhiên, nếu nguyên đơn không giải thích hợp lý sự mâu thuẫn này hoặc không có chứng cứ chứng minh lời khai nào là đúng thì lời khai đó có thể bị giảm giá trị chứng minh và ảnh hưởng đến việc Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Thứ tư, nếu bạn là bị đơn thì nên thực hiện các quyền tố tụng để bảo vệ quyền lợi của mình.
Bạn có thể:
- Gửi văn bản trình bày ý kiến hoặc văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện, nêu rõ sự mâu thuẫn giữa các lời khai của nguyên đơn và đề nghị Tòa án xem xét, đánh giá theo quy định của pháp luật.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, đề nghị Tòa án làm rõ sự khác nhau giữa hai lời khai của nguyên đơn; trường hợp cần thiết có thể đề nghị Tòa án tổ chức đối chất hoặc tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ khác theo thẩm quyền để làm rõ nội dung vụ án.
- Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, trình bày rõ ý kiến phản đối, yêu cầu Tòa án ghi nhận vào biên bản về sự mâu thuẫn trong lời khai của nguyên đơn.
- Tại phiên tòa, căn cứ vào quyền tranh tụng của đương sự, đề nghị Hội đồng xét xử làm rõ nguyên nhân của sự mâu thuẫn; trường hợp cần thiết đề nghị công bố các tài liệu, chứng cứ có liên quan để đối chiếu với lời khai của nguyên đơn và trình bày quan điểm về việc đánh giá chứng cứ theo Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
