iLAW
iLAW
  • Tìm luật sư
    • Tư vấn pháp luật
      • Bài viết pháp luật
        • Câu hỏi pháp luật
          • Biểu mẫu
          • Dịch vụ pháp lý
          • Đặt câu hỏi miễn phí
          • Đăng nhập
          }

          Lê Thị Thu Hương

          Tổng cộng: 704

          Lê Thị Thu Hương
          Gọi 989656682
          • vay tài sản

            Mong Ls tư vấn: Nếu họ hàng muốn gia đình em cắm sổ để cho vay tiền (xấp xỉ 1 tỷ), thì kể cả khi em làm hợp đồng cho vay, nhà vẫn nguy cơ mất nếu họ không trả đúng hạn đúng không ạ? Các bác nghĩ nhà em có nên cho vay không? Và nếu không thì nên từ chối sao cho khéo, em có 1 người con trai lớn và đứa con trai bé đang học c2

            Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời

            • 29/09/2026

            vay tài sản

            Chào bạn,

            Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:

            Gia đình bạn đứng tên vay khoảng 1 tỷ đồng tại ngân hàng/tổ chức tín dụng, dùng nhà đất của gia đình để thế chấp, sau đó giao số tiền này cho người họ hàng vay lại.

            Theo Điều 317 Bộ luật Dân sự 2015, thế chấp tài sản là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Pháp luật cũng thừa nhận việc chủ sở hữu dùng tài sản của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ của người khác.

            1. Nếu gia đình bạn tự vay ngân hàng rồi cho họ hàng vay lại

            Khi đó tồn tại hai quan hệ pháp lý độc lập:

            + Gia đình bạn có nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng;

            + Người họ hàng có nghĩa vụ trả khoản tiền đã vay của gia đình bạn.

            Ví dụ, đến kỳ ngân hàng yêu cầu thanh toán nhưng người họ hàng không trả tiền cho gia đình bạn thì gia đình bạn vẫn phải tự thanh toán cho ngân hàng.

            Do đó, ngay cả khi gia đình bạn và người họ hàng có lập hợp đồng vay tiền thì hợp đồng đó chủ yếu giúp gia đình bạn có căn cứ khởi kiện người họ hàng để đòi nợ, chứ không loại bỏ nghĩa vụ của gia đình bạn đối với ngân hàng. Nếu gia đình không có nguồn tiền khác để trả khoản vay, nhà đất thế chấp có thể bị xử lý.

            2. Có hợp đồng vay với người họ hàng thì có bảo vệ được căn nhà không?

            Hợp đồng vay giữa gia đình bạn và người họ hàng mục đích để xác định: số tiền vay; thời hạn vay; phương thức trả; lãi suất nếu có; nghĩa vụ trả nợ; trách nhiệm khi vi phạm; tài sản bảo đảm của chính người vay nếu có.

            Nhưng hợp đồng đó không làm mất hiệu lực của hợp đồng thế chấp với ngân hàng.

            Nếu gia đình bạn phải dùng tiền của mình trả ngân hàng thay cho người họ hàng thì gia đình có quyền căn cứ hợp đồng vay và các chứng cứ liên quan để yêu cầu họ hoàn trả; nếu họ không trả thì có thể khởi kiện.

            Vấn đề là quá trình khởi kiện và thi hành án cần thời gian, đồng thời còn phụ thuộc người vay có tài sản để thi hành án hay không.

            3. Việc thế chấp nhà đất phải được thực hiện đúng hình thức

            Theo điểm a khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc trường hợp phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định.

            Đồng thời, Điều 25 Nghị định 99/2022/NĐ-CP quy định thế chấp quyền sử dụng đất, nhà ở đã được chứng nhận quyền sở hữu thuộc trường hợp phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai.

            Do đó, cũng cần phân biệt việc chỉ đưa bản gốc sổ đỏ cho một người giữ với việc ký hợp đồng thế chấp hợp pháp và đăng ký biện pháp bảo đảm.

            Nếu đây là căn nhà mà gia đình đang sinh sống, đặc biệt còn là nơi ở ổn định của các con, thì việc dùng căn nhà đó để vay gần 1 tỷ đồng nhằm cho người khác vay lại là một giao dịch có mức độ rủi ro rất cao.

            Gia đình chỉ nên cân nhắc nếu đồng thời trả lời được các vấn đề như:

            -        Nếu người họ hàng không trả một đồng nào, gia đình có đủ khả năng tự trả khoản vay gần 1 tỷ đồng cùng lãi cho ngân hàng hay không?

            -        Người họ hàng có thu nhập và nguồn trả nợ cụ thể, ổn định hay không?

            -        Họ có tài sản riêng để bảo đảm lại cho khoản tiền gia đình bạn cho vay hay không?

            -        Nếu phải xử lý căn nhà để trả nợ thì gia đình có chấp nhận được hậu quả đó hay không?

            Do đó, bạn có thể trao đổi trên cơ sở khả năng tài chính của chính gia đình: khoản vay đứng tên bạn, thì bạn vẫn phải chịu trách nhiệm với ngân hàng, nếu không trả đúng hạn thì nhà đất bạn đang thế chấp để vay có thể bị rủi ro. Nếu vẫn muốn hỗ trợ, gia đình có thể cân nhắc hỗ trợ một khoản tiền trong phạm vi có khả năng tài chính và không phải thế chấp nơi ở của gia đình, hoặc yêu cầu chính người vay sử dụng tài sản của họ để bảo đảm khoản vay.

            Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

            Công ty Luật TNHH T2H

            Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

            VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

            Tel: 02422429900 – 0989656682

            E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

            Trân trọng!

             

             

          • Cho vay tiền có đòi được không

            Em có đồng nghiệp cũ, mà lỡ tin tưởng giúp đỡ cho vay tiền bây giờ đòi nó không trả. Vay không lãi có tin nhắn nhận nợ và bill chuyển khoản thì có kiện được không.

            Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời

            • 29/09/2026

            Cho vay tiền có đòi được không

            Chào bạn,

            Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:

            Về nguyên tắc, bạn có quyền yêu cầu người vay hoàn trả số tiền đã vay và có thể khởi kiện tại Tòa án nếu người vay không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ.

            Theo Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay và khi đến hạn, bên vay phải hoàn trả tài sản đã vay. Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định bên vay tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn.

            Việc hai bên không lập giấy vay tiền riêng không đồng nghĩa với việc bạn không thể đòi lại tiền. Theo Điều 94 và Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tài liệu, dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ; thông điệp dữ liệu điện tử có thể được sử dụng làm chứng cứ theo quy định pháp luật. Vì vậy, tin nhắn thể hiện người kia thừa nhận việc vay/nợ tiền và chứng từ chuyển khoản là những chứng cứ để chứng minh việc giao nhận tiền và nghĩa vụ trả nợ.

            Nếu khoản vay đã đến hạn nhưng người vay không trả, có thể gửi cho họ văn bản hoặc tin nhắn yêu cầu thanh toán, trong đó xác định rõ số tiền còn nợ và thời hạn cuối cùng phải trả. Nếu sau thời hạn này vẫn không thanh toán, bạn có thể xem xét khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc người vay trả nợ.

            Đối với khoản vay không có lãi, nếu đã đến hạn mà bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì theo khoản 4 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, bên cho vay còn có quyền yêu cầu tính lãi đối với khoản tiền chậm trả theo quy định pháp luật, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác.

            Trường hợp hai bên không thỏa thuận thời hạn trả nợ, cần xem xét đây có phải hợp đồng vay không kỳ hạn hay không. Theo Điều 469 Bộ luật Dân sự 2015, đối với khoản vay không kỳ hạn, không có lãi, bên cho vay có quyền yêu cầu trả lại tiền bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho bên vay trước một thời gian hợp lý, trừ khi hai bên có thỏa thuận khác.

            Để có thể tư vấn chính xác hơn, bạn cần làm rõ thêm một số thông tin:

            1.     Tổng số tiền đã cho vay là bao nhiêu?

            2.     Hai bên có thỏa thuận cụ thể ngày hoặc thời hạn phải trả tiền không?

            3.     Nội dung tin nhắn của người vay có xác nhận rõ số tiền đang nợ và thời hạn trả không?

            4.     Người vay đã từng trả một phần khoản nợ hay chưa?

            5.     Bạn có biết địa chỉ cư trú hoặc nơi làm việc hiện tại của người vay không?

            6.     Khoản vay phát sinh vào thời điểm nào?

            Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

            Công ty Luật TNHH T2H

            Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

            VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

            Tel: 02422429900 – 0989656682

            E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

            Trân trọng!

             

          • Đòi lại số tiền cho vay mượn

            Em hiện là sinh viên năm cuối đang theo học ngành du lịch và có cho bạn học chung trường mượn với số liền lớn nhưng giờ bạn đó không trả, sự việc cụ thể như sau: - em và bạn đó hồi t12/2025 phải đi tour thực tập ở trường phải đóng tiền hơn 13tr bạn đó không có tiền, lúc đó em cũng không có tiền và nhờ em vay thử chỗ nào cho bạn mượn và em có rút tiền trên ví trả sau của momo là 5tr trừ phí còn 4tr7. Lúc sau bạn mượn em tiếp với lí do trả tiền mượn sếp đóng tiền đi tour ( vừa mượn em và sếp ), em không có tiền và em đã vay trên ứng dụng tín việt credit là 10tr hạn 12 tháng vào ngày 15 hằng tháng sẽ đóng 1tr154 - ngày 10/11/2025 bạn kia lấy lí do mượn là khi đi tour về sẽ chuyển trọ cũng như khám cho con mèo em cũng đi vay trên app cake by vp bank với số tiền 10tr với thời hạn 12 tháng và mỗi tháng phải đóng 1tr140 - 12/03/2026 bạn nói giúp gia đình lo có việc em giúp tiếp và rút tiền trên ví trả sau 11tr3 - 18/03 em cho bạn đó mượn 34tr với lí do giúp ba bạn trả tiền nợ cờ bạc - từ tháng 4/2026 đến bây giờ bạn có trả đủ nhưng có trễ hạn mấy ngày nhưng đến tháng 9/2026 bạn mới đưa cho em có 1tr để đóng mấy cái kia và đã trễ 23 ngày rồi. Bạn đó hứa hẹn rất nhiều nhưng vẫn không trả. Giờ em nhờ luật sư tư vấn giờ em phải làm sao ạ, em xin cảm ơn

            Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời

            • 29/09/2026

            Đòi lại số tiền cho vay mượn

            Chào bạn,

            Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:

            Theo Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay và khi đến hạn, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả. Đồng thời, Điều 119 Bộ luật Dân sự cho phép giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể; giao dịch qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu cũng được công nhận theo quy định pháp luật.

            Do đó, dù không có giấy vay tiền, bạn vẫn có thể chứng minh việc vay thông qua:

            • tin nhắn giữa hai bên về việc hỏi vay, mục đích vay, số tiền và lời hứa trả tiền;
            • sao kê chuyển khoản, lịch sử giao dịch ngân hàng, MoMo;
            • tin nhắn người vay xác nhận còn nợ hoặc hẹn ngày trả;
            • lịch sử các khoản tiền người đó đã trả cho bạn từ tháng 4/2026 đến nay;
            • các file ghi âm, ghi hình hợp pháp;
            • người làm chứng, nếu có.

            Theo Điều 91, Điều 94 và Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho yêu cầu của mình; tài liệu, dữ liệu điện tử, tài liệu nghe nhìn, lời khai của đương sự và người làm chứng đều có thể là nguồn chứng cứ.

            Theo thông tin trên, số tiền bạn đã giao có thể vào khoảng 70 triệu đồng, gồm 4,7 triệu đồng; 10 triệu đồng; 10 triệu đồng; 11,3 triệu đồng và 34 triệu đồng. Tuy nhiên, số tiền còn nợ hiện tại phải trừ toàn bộ các khoản người vay đã trả, đồng thời đối chiếu chính xác từng lần giao tiền và từng lần hoàn trả.

            2. Việc bạn phải vay MoMo, Tín Việt Credit, Cake để lấy tiền cho bạn mình vay cần xử lý thế nào?

            Hợp đồng giữa bạn với MoMo, Tín Việt Credit, Cake/VPBank là quan hệ tín dụng giữa bạn và các đơn vị đó.

            Đối với người bạn, bạn có quyền yêu cầu trước hết là số tiền thực tế người đó đã nhận nhưng chưa hoàn trả.

            Nếu giữa hai bên có tin nhắn thể hiện rõ người bạn biết bạn phải vay từ các ứng dụng, đồng ý chịu tiền lãi, phí hoặc cam kết hàng tháng chuyển cho bạn đúng số tiền để bạn trả các khoản vay đó thì đây là chứng cứ chứng minh để xác định đầy đủ nội dung thỏa thuận giữa hai bên.

            Nếu không có thỏa thuận như vậy, các khoản lãi, phí và phí phạt mà bạn phải trả cho bên cho vay tiêu dùng không đương nhiên được cộng toàn bộ vào khoản nợ của người bạn. Bạn vẫn có thể yêu cầu bồi thường khoản thiệt hại thực tế phát sinh do việc người đó vi phạm nghĩa vụ nếu chứng minh được thiệt hại và quan hệ nhân quả. Điều 360, Điều 361 và Điều 419 Bộ luật Dân sự quy định bên vi phạm nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra và có thể phải thanh toán các chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng.

            3. Người vay chậm trả thì bạn có được tính lãi không?

            Điều 466 Bộ luật Dân sự quy định bên vay tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn. Trường hợp vay không có lãi nhưng đến hạn không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu lãi chậm trả trên số tiền chưa thanh toán.

            Điều 468 quy định mức lãi suất vay theo thỏa thuận thông thường không vượt quá 20%/năm; nếu thuộc trường hợp phải áp dụng khoản 2 Điều 468 thì mức tương ứng hiện nay là 10%/năm. Điều 357 cũng quy định khi chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

            Nếu hai bên không thỏa thuận rõ thời hạn trả nợ, đây có thể được xem là khoản vay không kỳ hạn. Theo Điều 469 Bộ luật Dân sự, đối với vay không kỳ hạn và không có lãi, bên cho vay có quyền yêu cầu trả nợ bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho bên vay trước một khoảng thời gian hợp lý.

            Đề xuất việc cần làm:

            Cần lập một bảng đối chiếu toàn bộ khoản nợ, gồm: ngày cho vay, lý do vay, số tiền thực tế người kia nhận, hình thức giao tiền, chứng cứ tương ứng, số tiền đã trả và số tiền còn nợ.

            Sau đó, gửi Thông báo yêu cầu thanh toán nợ, trong đó ghi rõ tổng số tiền còn nợ và cho người vay một thời hạn hợp lý để thanh toán hoặc đề xuất lịch trả nợ cụ thể.

            Bạn không nên xóa tin nhắn, chỉ giữ ảnh chụp rời rạc hoặc đổi điện thoại làm mất dữ liệu. Nên lưu toàn bộ đoạn hội thoại, sao lưu dữ liệu và giữ sao kê gốc từ ngân hàng, ví điện tử.

            Nếu hết thời hạn mà người vay vẫn không thanh toán, bạn có quyền khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

            Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

            Thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng là 03 năm kể từ ngày biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, theo Điều 429 Bộ luật Dân sự.

            Ngoài ra, nếu qua tin nhắn, sao kê hoặc những người liên quan bạn phát hiện các lý do vay tiền đều là không đúng sự thật, là giả, người này đã vay nhiều người bằng thủ đoạn tương tự, bỏ trốn, cắt đứt liên lạc, tẩu tán tài sản, có khả năng trả nhưng cố tình không trả hoặc có những dấu hiệu chiếm đoạt khác thì bạn có quyền tố giác hành vi có dấu hiệu tội phạm và cung cấp toàn bộ chứng cứ cho cơ quan có thẩm quyền để xác minh theo quy định pháp luật hình sự.

            Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

            Công ty Luật TNHH T2H

            Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

            VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

            Tel: 02422429900 – 0989656682

            E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

            Trân trọng!

          • Tài sản riêng

            Ls co e hỏi: tài sản của riêng chồng được cho trước hôn nhân , sau khi quy hoạch giải tỏa có đền bù 1 suất tái định cư nhưng khi lên kí thủ tục để ra sổ thì có thêm người vợ lên kí , vậy suất tdc đó vẫn là ts riêng của người chồng hay là ts chung của vợ chồng ạ .

            Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời

            • 28/09/2026

            Tài sản riêng

            Chào bạn,

            Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:

            1. Tài sản có trước hôn nhân là tài sản riêng

            Khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn là tài sản riêng của vợ, chồng.

            Đồng thời, khoản 2 Điều 43 quy định:

            “Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng.”

            Vì vậy, nếu thửa đất bị Nhà nước thu hồi là tài sản riêng của người chồng và quyền được bố trí tái định cư phát sinh trực tiếp từ việc Nhà nước thu hồi thửa đất này thì đây là căn cứ quan trọng để xác định đất tái định cư là tài sản được hình thành từ tài sản riêng.

            Điều 98 Luật Đất đai 2024 cũng quy định khi Nhà nước thu hồi đất ở của người có đủ điều kiện bồi thường thì có thể bồi thường bằng đất ở, nhà ở, bằng tiền hoặc bằng đất có mục đích sử dụng khác. Do đó, về bản chất, đất tái định cư có thể là hình thức bồi thường hoặc bố trí thay thế quyền lợi liên quan đến phần đất bị thu hồi.

            2. Việc người vợ lên ký không đương nhiên làm tài sản riêng trở thành tài sản chung

            Theo Điều 46 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, việc nhập tài sản riêng của vợ hoặc chồng vào tài sản chung phải được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.

            Do đó, việc cho rằng khi làm thủ tục ra sổ người vợ cũng lên ký thì chưa đủ căn cứ để kết luận người chồng đã nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

            Cần xem người vợ đã ký vào tài liệu gì và ký với tư cách nào. Ví dụ như:

            -        nếu chỉ ký xác nhận thông tin nhân thân, tình trạng hôn nhân, hộ gia đình hoặc ký một thủ tục hành chính liên quan thì chưa thể coi đó là thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung;

            -        nhưng nếu hai vợ chồng cùng ký văn bản xác nhận suất tái định cư là tài sản chung, cùng đăng ký đứng tên với tư cách đồng sử dụng đất hoặc có văn bản thỏa thuận nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung thì lại là căn cứ để xác định tài sản chung.

            3. Cần kiểm tra Giấy chứng nhận được cấp đứng tên ai

            Khoản 4 Điều 135 Luật Đất đai 2024 quy định: nếu quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng thì Giấy chứng nhận phải ghi cả họ tên vợ và chồng, trừ trường hợp hai người có thỏa thuận ghi tên một người làm đại diện.

            Vì vậy:

            Trường hợp 1: Sổ mới chỉ đứng tên người chồng.

            Nếu đồng thời hồ sơ bồi thường, quyết định bố trí tái định cư đều xác định người chồng là người có đất bị thu hồi thì cơ sở xác định đây là tài sản riêng.

            Trường hợp 2: Sổ mới ghi tên cả vợ và chồng.

            Khi đó cần xem lại hồ sơ đề nghị cấp sổ. Việc ghi tên cả hai có thể là căn cứ cho thấy hai người đã xác lập quyền chung.

            Trong thực tế, người được bố trí tái định cư có thể phải nộp thêm tiền để nhận lô đất tái định cư. Cần kiểm tra nghĩa vụ tài chính khi nhận đất tái định cư. Theo Điều 25, Điều 26 Nghị định 88/2024/NĐ-CP, trường hợp tiền bồi thường về đất thấp hơn tiền sử dụng đất phải nộp đối với lô đất tái định cư thì người được bố trí tái định cư có thể phải nộp phần chênh lệch hoặc được ghi nợ nếu đủ điều kiện.

            Nếu phần chênh lệch này được thanh toán bằng tài sản chung của vợ chồng thì khi phát sinh tranh chấp cần xem xét thêm nguồn tiền đóng góp và có hay không thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Việc sử dụng tiền chung để thực hiện một phần nghĩa vụ tài chính không đương nhiên làm toàn bộ lô đất tái định cư trở thành tài sản chung.

            Trường hợp tài sản riêng và tài sản chung không thể xác định rõ thì khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: nếu không có căn cứ chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

            Để kết luận suất tái định cư này là tài sản riêng hay chung, cần kiểm tra:

            1.     Giấy tờ chứng minh nguồn gốc thửa đất bị thu hồi: hợp đồng tặng cho, Giấy chứng nhận cũ, thời điểm được tặng cho và thời điểm đăng ký kết hôn;

            2.     Quyết định thu hồi đất;

            3.     Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt;

            4.     Quyết định hoặc văn bản bố trí suất tái định cư ghi tên ai;

            5.     Hồ sơ xin giao đất/cấp Giấy chứng nhận tại khu tái định cư;

            6.     Văn bản mà người vợ đã ký và nội dung cụ thể của chữ ký đó;

            7.     Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tái định cư hiện đứng tên ai;

            8.     Chứng từ tiền phải nộp thêm để nhận đất tái định cư và nguồn tiền dùng để thanh toán.

            Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

            Công ty Luật TNHH T2H

            Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

            VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

            Tel: 02422429900 – 0989656682

            E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

            Trân trọng!

             

          • Nội dung về Luật tố cáo, Luật viên chức

            Một giảng viên sau khi gời đơn kiến nghị vế chuyên môn tại Trường nhưng không được giải quyết, sau đó gởi đến cơ quan có thẩm quyền ở Sở, Ủy ban (Trường trực thuộc Ủy ban). Sau đó một số nội dung được nâng lên và giảng viên cảm thấy một vài dấu hiệu tiêu cực tại Trường nên đã gởi Đơn tố cáo đến Ủy ban, Thanh tra TP. Sau 7 tháng, giảng viên nhận kết quả không thụ lý của Ủy ban. Một tháng sau đó, giảng viên nhận thông báo từ Hiệu trưởng - người bị tố cáo, trong thông báo Hiệu trưởng công khai danh tính người tố cáo, cảnh báo xử lý kỷ luật, cho rằng Ủy ban không thụ lý đồng nghĩa giảng viên cố ý cung cấp sai sự thật (dù trong kết luận Ủy ban không hề có nội dung này và không công khai danh tính), đồng thời trong không báo còn ghi rõ nơi nhận là lưu vào Hồ sơ viên chức của giảng viên. Xin phép được hỏi quý luật sư: 1/ Những nội dung trong Thông báo trên của Hiệu trưởng có vi phạm Luật tố cáo, Luật viên chức không và mức độ sai phạm nếu có là như thế nào 2/ Giảng viên cần phải làm gì để đấu tranh? Trân trọng cảm ơn!

            Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời

            • 28/09/2026

            Nội dung về Luật tố cáo, Luật viên chức

            Chào bạn,

            Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:

            Đầu tiên, cần tách riêng vấn đề không thụ lý đơn tố cáo với vấn đề xác định người tố cáo cố ý tố cáo sai sự thật. Đây là hai vấn đề pháp lý khác nhau. Cụ thể:

            1. “Không thụ lý tố cáo” không đồng nghĩa với “cố ý tố cáo sai sự thật”

            Điều 29. Thụ lý tố cáo

            1. Người giải quyết tố cáo ra quyết định thụ lý tố cáo khi có đủ các điều kiện sau đây:

            a) Tố cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 23 của Luật này;

            b) Người tố cáo có đủ năng lực hành vi dân sự; trường hợp không có đủ năng lực hành vi dân sự thì phải có người đại diện theo quy định của pháp luật;

            c) Vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tố cáo;

            d) Nội dung tố cáo có cơ sở để xác định người vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật.

            Trường hợp tố cáo xuất phát từ vụ việc khiếu nại đã được giải quyết đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng người khiếu nại không đồng ý mà chuyển sang tố cáo người đã giải quyết khiếu nại thì chỉ thụ lý tố cáo khi người tố cáo cung cấp được thông tin, tài liệu, chứng cứ để xác định người giải quyết khiếu nại có hành vi vi phạm pháp luật.

            Theo Điều 29 Luật Tố cáo, một tố cáo chỉ được thụ lý khi đáp ứng các điều kiện về hình thức, năng lực của người tố cáo, thẩm quyền giải quyết và đặc biệt là nội dung tố cáo phải có cơ sở để xác định người vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy, việc không thụ lý có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân về thẩm quyền, hình thức hoặc điều kiện ban đầu của hồ sơ, chứ không phải là kết luận về tính đúng, sai của nội dung tố cáo.

            Điều 35. Kết luận nội dung tố cáo

            1. Căn cứ vào nội dung tố cáo, giải trình của người bị tố cáo, kết quả xác minh nội dung tố cáo, tài liệu, chứng cứ có liên quan, người giải quyết tố cáo ban hành kết luận nội dung tố cáo.

            2. Kết luận nội dung tố cáo phải có các nội dung chính sau đây:

            a) Kết quả xác minh nội dung tố cáo;

            b) Căn cứ pháp luật để xác định có hay không có hành vi vi phạm pháp luật;

            c) Kết luận về nội dung tố cáo là đúng, đúng một phần hoặc tố cáo sai sự thật; xác định trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến nội dung tố cáo;

            Điều 36. Việc xử lý kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo

            1. Chậm nhất là 07 ngày làm việc kể từ ngày ban hành kết luận nội dung tố cáo, người giải quyết tố cáo căn cứ vào kết luận nội dung tố cáo tiến hành việc xử lý như sau:

            a) Trường hợp kết luận người bị tố cáo không vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo bị xâm phạm do việc tố cáo không đúng sự thật gây ra, đồng thời xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người cố ý tố cáo sai sự thật;

            b) Trường hợp kết luận người bị tố cáo vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì áp dụng biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

            Ngược lại, theo Điều 35 Luật Tố cáo, chỉ sau quá trình giải quyết, xác minh thì cơ quan có thẩm quyền mới ban hành kết luận nội dung tố cáo, trong đó phải xác định nội dung tố cáo là đúng, đúng một phần hoặc sai sự thật. Điều 36 tiếp tục phân biệt trường hợp tố cáo không đúng với trường hợp “cố ý tố cáo sai sự thật” để xem xét xử lý người tố cáo.

            Điều 7. Sửa đổi, bổ sung Điều 23 như sau:

            “Điều 23. Xử lý kỷ luật đối với người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức

            1. Hình thức kỷ luật khiển trách áp dụng đối với người tố cáo khi có một trong các hành vi sau:

            a) Biết rõ việc tố cáo là không đúng sự thật nhưng vẫn tố cáo;

            b) Biết vụ việc đã được cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết đúng chính sách, pháp luật nhưng vẫn tố cáo mà không có bằng chứng chứng minh nội dung tố cáo;

            c) Lôi kéo, kích động, dụ dỗ người khác tố cáo sai sự thật.

            Theo Điều 23 Nghị định 31/2019/NĐ-CP, đã được sửa đổi bởi Nghị định 156/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, quy định viên chức là người tố cáo chỉ có thể bị khiển trách trong trường hợp, chẳng hạn, biết rõ việc tố cáo là không đúng sự thật nhưng vẫn tố cáo. Như vậy phải chứng minh được yếu tố “biết rõ” và vẫn cố ý thực hiện, chứ không thể chỉ căn cứ vào việc cơ quan nhà nước không thụ lý đơn.

            2. Việc công khai danh tính người tố cáo có dấu hiệu vi phạm quy định về bảo mật người tố cáo

            Khoản 3 Điều 8 Luật Tố cáo nghiêm cấm hành vi:

            “Tiết lộ họ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và thông tin khác làm lộ danh tính của người tố cáo.”

            Luật cũng nghiêm cấm hành vi cản trở, gây khó khăn, đe dọa, trả thù, trù dập người tố cáo.

            Vì vậy, nếu Hiệu trưởng đã đưa họ tên hoặc các thông tin đủ để xác định người tố cáo vào một thông báo được phổ biến cho nhiều cá nhân, bộ phận trong Trường thì có dấu hiệu xâm phạm yêu cầu bảo mật danh tính người tố cáo.

            Tuy nhiên, để xác định chính xác trách nhiệm và hình thức xử lý cần làm rõ thêm ai là người làm lộ thông tin từ hồ sơ tố cáo. Nếu người làm lộ danh tính thuộc nhóm người giải quyết tố cáo, người xác minh hoặc người tiếp nhận tố cáo thì Điều 22 Nghị định 31/2019/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 156/2026/NĐ-CP, quy định hành vi tiết lộ thông tin làm lộ danh tính người tố cáo có thể bị xử lý kỷ luật ở mức cảnh cáo, trừ trường hợp người tố cáo từ chối biện pháp bảo vệ bí mật thông tin.

            Nếu Hiệu trưởng chỉ là người bị tố cáo, không đồng thời là người tiếp nhận, xác minh hoặc giải quyết tố cáo, thì khi đó cần xem xét nguồn thông tin bị lộ, hành vi sử dụng và công khai thông tin của Hiệu trưởng, cũng như có hay không dấu hiệu đe dọa, trả thù hoặc trù dập người tố cáo để xác định trách nhiệm tương ứng.

            3. Về việc cảnh báo sẽ xử lý kỷ luật người giảng viên

            Từ ngày 01/7/2026, việc xử lý kỷ luật viên chức được thực hiện theo Nghị định 234/2026/NĐ-CP. Việc kỷ luật phải bảo đảm khách quan, công bằng, chính xác, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và phải căn cứ vào hành vi vi phạm cụ thể, tính chất, mức độ, hậu quả, động cơ và các tình tiết có liên quan.

            Vì vậy, nếu Hiệu trưởng chỉ dựa vào việc UBND “không thụ lý đơn tố cáo” để cho rằng giảng viên cố ý cung cấp thông tin sai sự thật và từ đó cảnh báo xử lý kỷ luật thì căn cứ này là chưa phù hợp.

            Một “Thông báo” của Hiệu trưởng cũng không đương nhiên là quyết định xử lý kỷ luật. Nếu Nhà trường tiến hành kỷ luật, người giảng viên có quyền yêu cầu xác định rõ:

            • hành vi vi phạm cụ thể là gì;
            • căn cứ pháp luật nào xác định hành vi đó là vi phạm;
            • tài liệu nào chứng minh người giảng viên “biết rõ thông tin là sai nhưng vẫn tố cáo”;
            • thẩm quyền, trình tự và thủ tục xử lý kỷ luật đã được thực hiện đúng hay chưa.

            4. Về việc đưa Thông báo vào hồ sơ viên chức

            Điều 41 Luật Viên chức số 129/2025/QH15 quy định hồ sơ viên chức phải được quản lý và cập nhật, đồng thời phải “bảo đảm chính xác diễn biến, quá trình công tác của viên chức”.

            Nghị định 234/2026/NĐ-CP cũng quy định các tài liệu liên quan đến việc xử lý kỷ luật và quyết định kỷ luật phải được lưu trong hồ sơ viên chức.

            Do đó, nếu Thông báo ghi người giảng viên “cố ý cung cấp thông tin sai sự thật” như một sự việc đã được cơ quan có thẩm quyền kết luận trong khi UBND chưa hề có kết luận như vậy thì người giảng viên có cơ sở yêu cầu Nhà trường đính chính, thu hồi hoặc không sử dụng nhận định này làm căn cứ đánh giá, xếp loại, kỷ luật hoặc thực hiện các quyết định bất lợi khác đối với viên chức.

            5. Giảng viên có thể thực hiện các việc sau:

            Thứ nhất, lưu giữ toàn bộ chứng cứ chứng minh, gồm đơn tố cáo, giấy tiếp nhận/bưu điện, văn bản không thụ lý của UBND, Thông báo của Hiệu trưởng, danh sách nơi nhận của Thông báo, email/tin nhắn, biên bản họp và tài liệu chứng minh việc Thông báo đã được phổ biến cho những ai.

            Thứ hai, có văn bản yêu cầu UBND/cơ quan đã ra thông báo không thụ lý xác nhận rõ lý do không thụ lý.

            Đồng thời, thời gian 07 tháng mới nhận được kết quả không thụ lý cũng cần kiểm tra. Khoản 1 Điều 24 Luật Tố cáo quy định về nguyên tắc, trong 07 ngày làm việc kể từ khi nhận được tố cáo phải tiến hành xử lý ban đầu, kiểm tra điều kiện thụ lý; trường hợp cần kiểm tra, xác minh tại nhiều nơi thì có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày làm việc; nếu không đủ điều kiện thụ lý phải thông báo ngay và nêu lý do. Vì vậy, nếu thực tế cơ quan nhận đơn và để 07 tháng mới lần đầu thông báo không thụ lý thì cần yêu cầu giải trình quá trình xử lý hồ sơ.

            Thứ ba, gửi văn bản đến Hiệu trưởng/Nhà trường yêu cầu:

            1.     xác định căn cứ nào cho rằng người giảng viên cố ý cung cấp thông tin sai sự thật;

            2.     thu hồi hoặc đính chính nội dung không có căn cứ trong Thông báo;

            3.     chấm dứt việc tiếp tục phổ biến thông tin về danh tính người tố cáo;

            4.     không sử dụng nội dung chưa được cơ quan có thẩm quyền kết luận để đánh giá, xếp loại hoặc xử lý kỷ luật;

            5.     đính chính hoặc cập nhật lại hồ sơ viên chức nếu đã đưa thông tin không chính xác vào hồ sơ.

            Thứ tư, nếu việc cảnh báo kỷ luật, đánh giá viên chức, điều chuyển công tác hoặc các biện pháp bất lợi tiếp tục xảy ra, bạn có thể làm văn bản yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ người tố cáo. Điều 57 Luật Tố cáo cho phép áp dụng các biện pháp như tạm đình chỉ hoặc hủy bỏ quyết định kỷ luật/quyết định xâm phạm quyền lợi, khôi phục vị trí công tác, thu nhập và xử lý người có hành vi trả thù, trù dập, đe dọa người tố cáo.

            Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

            Công ty Luật TNHH T2H

            Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

            VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

            Tel: 02422429900 – 0989656682

            E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

            Trân trọng!

             

          • tiền công

            Trường hợp của e là tiền công trình 2 công ty kí kết và xuất hoá đơn ! Bạn này đang nhây k chịu thanh toán hoàn thành nghĩa vụ thanh toán để nghiệm thu lần 3 . Công trình thì bên e đã thi công và xưởng đi vào hoạt động 3-4 tháng nay rồi ạ! Cho e hỏi là h mình kiện thì bao lâu toà thụ lý và nếu xli xong trên hợp đồng có điều khoản bên họ không cod khả năng thanh toán bên e sẽ tháo giỡ vật tư đã lắp đặt! Trong khi bên này họ đã nghiệm thu và xuất toàn bộ hoá đơn cho chủ thầu! Xin Ls cho e hướng giải quyết để đòi lại quyền lợi hợp pháp ạ

            Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời

            • 25/09/2026

            tiền công

            Chào bạn,

            Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:

            Nếu hợp đồng được ký giữa hai công ty để thi công, cung cấp/lắp đặt vật tư cho công trình thì đây về nguyên tắc là tranh chấp hợp đồng trong hoạt động kinh doanh, thương mại, không phải tranh chấp lao động. Khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

            Theo đó, việc cần thực hiện:

            1.     Xác định khoản tiền đã đến hạn thanh toán hay chưa

            Bạn cần kiểm tra lại hợp đồng về: điều kiện nghiệm thu từng giai đoạn; hồ sơ đề nghị thanh toán; thời hạn thanh toán; điều kiện để được thanh toán đợt 3; điều khoản phạt chậm thanh toán; lãi chậm trả và điều khoản giải quyết tranh chấp.

            Nếu bên bạn đã hoàn thành đúng khối lượng công việc, đáp ứng điều kiện nghiệm thu/thanh toán theo hợp đồng mà phía công ty kia vẫn không thanh toán khi đã đến hạn thì có căn cứ xác định họ vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

            Việc công trình đã đưa vào sử dụng được 3–4 tháng, phía đối tác đã nghiệm thu và đã xuất hóa đơn đối với công trình cho chủ thầu/chủ đầu tư là những tài liệu quan trọng để chứng minh trên thực tế kết quả thi công của bên bạn đã được tiếp nhận và khai thác. Tuy nhiên, vẫn cần đối chiếu với biên bản nghiệm thu, khối lượng, hồ sơ thanh toán và các điều kiện cụ thể trong hợp đồng để xác định chính xác số tiền đã đến hạn.

            2.     Bạn có thể yêu cầu những khoản tiền nào?

            Bên bạn có quyền yêu cầu thanh toán toàn bộ tiền công/giá trị khối lượng thi công đã đến hạn theo hợp đồng.

            Ngoài khoản nợ gốc, Điều 306 Luật Thương mại 2005 cho phép bên bị chậm thanh toán yêu cầu trả lãi trên số tiền chậm thanh toán, theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp hợp đồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

            Nếu hợp đồng có điều khoản phạt vi phạm do chậm thanh toán thì có thể đồng thời xem xét yêu cầu phạt vi phạm. Theo Điều 300 và Điều 301 Luật Thương mại, chế tài phạt vi phạm phải có thỏa thuận trong hợp đồng và về nguyên tắc, mức phạt không vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định chuyên ngành khác.

            Nếu việc chậm thanh toán còn gây ra thiệt hại thực tế cho công ty bạn thì có thể xem xét yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Điều 302 và các quy định liên quan của Luật Thương mại, nhưng phải chứng minh được thiệt hại thực tế, hành vi vi phạm và quan hệ nhân quả giữa việc vi phạm với thiệt hại.

            3.     Có được tự tháo dỡ vật tư đã lắp đặt hay không?

            Việc hợp đồng có ghi rằng nếu bên kia không có khả năng thanh toán thì bên bạn được tháo dỡ, thu hồi vật tư là một căn cứ để bảo vệ quyền lợi của bên bạn, nhưng không nên chỉ căn cứ vào việc này rồi tự ý vào nhà xưởng tháo dỡ tài sản.

            Trước hết phải xem chính xác điều khoản đó có phải là thỏa thuận bảo lưu quyền sở hữu đối với vật tư, máy móc, thiết bị hay không; thời điểm quyền sở hữu được chuyển giao là khi giao hàng, khi nghiệm thu hay chỉ sau khi thanh toán đủ tiền; đồng thời phải xác định vật tư nào còn có thể tách riêng khỏi công trình.

            Theo Điều 331 Bộ luật Dân sự 2015, trong hợp đồng mua bán, bên bán có thể bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản cho đến khi bên mua thanh toán đầy đủ. Điều 332 quy định nếu bên mua không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán trong trường hợp có bảo lưu quyền sở hữu thì bên bán có quyền đòi lại tài sản.

            Tuy nhiên, quy định này không đương nhiên áp dụng cho toàn bộ vật tư của một hợp đồng thi công. Nếu vật tư đã trở thành một bộ phận của công trình, đã nghiệm thu, bàn giao và việc tháo dỡ làm ảnh hưởng đến công trình hoặc tài sản của người khác thì việc tự ý tháo dỡ có thể phát sinh tranh chấp và trách nhiệm bồi thường. Do đó, trước khi thực hiện cần kiểm tra nguyên văn điều khoản hợp đồng, bản chất của từng loại vật tư và tình trạng bàn giao.

            Phương án đầu tiên gửi văn bản yêu cầu thanh toán, ấn định thời hạn cuối cùng và viện dẫn điều khoản thu hồi vật tư; nếu bên kia vẫn không thực hiện thì có thể đưa yêu cầu này vào vụ kiện để Tòa án xem xét, thay vì tự ý cưỡng chế bằng cách tháo dỡ.

            Nếu hết thời hạn mà phía đối tác vẫn không thanh toán thì công ty bạn có thể khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc họ trả nợ gốc + lãi chậm thanh toán + tiền phạt vi phạm nếu có thỏa thuận hợp lệ + khoản bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được.

            Nếu có căn cứ cho rằng doanh nghiệp bên kia đang tẩu tán tài sản hoặc có nguy cơ không còn tài sản để thi hành án, khi khởi kiện bạn cũng có thể trao đổi với luật sư về việc đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, ví dụ phong tỏa tài khoản hoặc tài sản của người có nghĩa vụ. Bộ luật Tố tụng dân sự cho phép áp dụng các biện pháp này để bảo đảm việc giải quyết vụ án và thi hành án, nhưng người yêu cầu trong một số trường hợp phải thực hiện biện pháp bảo đảm theo Điều 136.

            Ngoài ra, cần lưu ý thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp thương mại về nguyên tắc là 02 năm kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm theo Điều 319 Luật Thương mại 2005, nên không nên để công nợ kéo dài.

            4.     Khởi kiện -Tòa án thụ lý:

            Theo Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự, sau khi nhận đơn, trong 03 ngày làm việc Chánh án phân công Thẩm phán xem xét đơn; trong 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét để thụ lý, yêu cầu sửa đổi/bổ sung, chuyển đơn hoặc trả đơn tùy trường hợp.

            Nếu hồ sơ đủ điều kiện, Tòa án sẽ thông báo nộp tiền tạm ứng án phí. Theo Điều 195, người khởi kiện có 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo để nộp tiền tạm ứng án phí và nộp lại biên lai; về nguyên tắc, Tòa án thụ lý khi người khởi kiện hoàn thành nghĩa vụ này.

            Nếu đơn thiếu tài liệu, phải sửa đổi, bổ sung, xác minh địa chỉ doanh nghiệp hoặc nộp sai Tòa án thì thời gian sẽ kéo dài.

            Sau khi thụ lý, đối với vụ án kinh doanh thương mại, Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định thời hạn chuẩn bị xét xử thông thường là 02 tháng, vụ án phức tạp có thể được gia hạn nhưng không quá 01 tháng. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, về nguyên tắc Tòa án mở phiên tòa trong 01 tháng, trường hợp có lý do chính đáng có thể đến 02 tháng. Đây là thời hạn luật định; thời gian giải quyết thực tế có thể dài hơn nếu phải giám định, định giá, thu thập chứng cứ, tạm đình chỉ hoặc phát sinh kháng cáo.

            Hiện nay, sau khi hệ thống Tòa án được tổ chức lại từ ngày 01/7/2025, các tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc Điều 30 về nguyên tắc được giải quyết sơ thẩm tại Tòa án nhân dân khu vực theo Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi bởi Luật số 85/2025/QH15.

            Về lãnh thổ, thông thường có thể khởi kiện tại Tòa án nơi công ty bị kiện đặt trụ sở theo Điều 39. Ngoài ra, đối với tranh chấp phát sinh từ hợp đồng, điểm g khoản 1 Điều 40 còn cho phép nguyên đơn lựa chọn Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện nếu đáp ứng điều kiện luật định.

            Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

            Công ty Luật TNHH T2H

            Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

            VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

            Tel: 02422429900 – 0989656682

            E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

            Trân trọng!

             

             

          • Thi hành án

            Luật sư cho hỏi đất bị thi hành án (THA). Nhưng trên đất có tài sản người khác không được gq theo bản án. Vậy có được phép cưỡng chế THA không ạ? Nhà ở trên đất nhiều chục năm nhưng toà k công nhận giá trị. Thi hành án ntn ah

            Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời

            • 24/09/2026

            Thi hành án

            Chào bạn,

            Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:

            Việc đất thuộc diện thi hành án nhưng trên đất có nhà/tài sản của người khác không có nghĩa là cơ quan thi hành án đương nhiên không được kê biên, cưỡng chế quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, cơ quan thi hành án phải xác định và xử lý riêng quyền đối với đất và quyền sở hữu đối với tài sản trên đất, không được mặc nhiên coi nhà của người khác là tài sản của người phải thi hành án.

            Hiện nay, Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Đối với việc thi hành án chưa kết thúc trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục áp dụng Luật mới; những thủ tục đã thực hiện hợp pháp trước đó không phải thực hiện lại.

            1. Trường hợp đất thuộc quyền sử dụng của người phải thi hành án, nhưng căn nhà trên đất thực sự thuộc sở hữu của người khác

            Điểm a khoản 3 Điều 78 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định: nếu quyền sử dụng đất thuộc người phải thi hành án nhưng tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất; việc xử lý tài sản của người khác thực hiện theo khoản 2 Điều 81 của Luật.

            Như vậy, chỉ riêng việc có căn nhà của người khác trên đất chưa phải là căn cứ để khẳng định rằng quyền sử dụng đất không được kê biên.

            Tuy nhiên, đối với căn nhà của người khác, khoản 2 Điều 81 quy định trước hết Chấp hành viên phải yêu cầu chủ tài sản di dời, tháo dỡ tài sản ra khỏi tài sản đã kê biên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được thông báo. Đặc biệt, đối với tài sản không thể di dời, tháo dỡ hoặc nếu tháo dỡ sẽ làm giảm đáng kể giá trị thì pháp luật cho phép thẩm định giá, xác định giá và bán cùng tài sản đã kê biên; người có tài sản được hoàn trả số tiền tương ứng với tài sản của mình sau khi trừ các chi phí bảo quản, xử lý theo quy định.

            Do đó, “nhà là của người khác” không đồng nghĩa chắc chắn không thể cưỡng chế đất, nhưng quyền tài sản của người có nhà phải được xác định và bảo đảm theo đúng trình tự luật định.

            2. Nếu đang có tranh chấp về việc căn nhà thuộc sở hữu của ai

            Khoản 3 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định, nếu tài sản dùng để thi hành án có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên phải thông báo cho đương sự và người có tranh chấp về quyền khởi kiện tại Tòa án hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết, trừ trường hợp bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đã tuyên kê biên, xử lý hoặc đã xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản đó.

            Nếu Tòa án thụ lý vụ án/yêu cầu về xác định quyền sở hữu tài sản hoặc quyền sử dụng đất thì đây còn là một trong các căn cứ để Thủ trưởng cơ quan THADS hoãn một phần hoặc toàn bộ việc thi hành án, trừ một số trường hợp luật định, theo điểm d khoản 1 Điều 46 Luật Thi hành án dân sự 2025.

            Vì vậy, nếu người đang ở trong nhà cho rằng căn nhà là tài sản hợp pháp của mình nhưng quyền này chưa được bản án giải quyết, thì cần cung cấp ngay các chứng cứ về nguồn gốc căn nhà, thời điểm xây dựng, người bỏ tiền xây dựng, việc quản lý sử dụng và các tài liệu liên quan để yêu cầu cơ quan THADS xem xét; nếu có tranh chấp thực sự về quyền sở hữu thì có thể phải khởi kiện để Tòa án giải quyết.

            3. Việc “nhà đã tồn tại nhiều chục năm nhưng Tòa không công nhận giá trị” theo bạn cung cấp:

            Cần phân biệt hai tình huống:

            -        Nếu bản án đã xem xét và tuyên rõ căn nhà thuộc ai, có được công nhận hay không, có phải tháo dỡ, giao cùng đất hay không thì cơ quan THADS phải thi hành đúng nội dung bản án đã có hiệu lực.

            -        Nếu căn nhà đã tồn tại từ trước khi xét xử nhưng bản án không giải quyết hoặc không tuyên rõ phải xử lý căn nhà như thế nào, thì không nên hiểu rằng cơ quan THADS được tự động bỏ qua quyền của chủ căn nhà.

            Đặc biệt, Điều 90 Luật Thi hành án dân sự 2025 quy định đối với trường hợp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất mà trên đất có tài sản của người khác: nếu tài sản đó đã có trước khi có bản án, quyết định sơ thẩm, nhưng bản án chưa xác định việc xử lý tài sản, thì cơ quan THADS phải yêu cầu Tòa án đã ra bản án giải thích rõ hoặc đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

            4. Đề xuất:

            Trước hết, bạn nên lấy bản sao đầy đủ của: bản án sơ thẩm, phúc thẩm (nếu có); quyết định thi hành án; quyết định kê biên/cưỡng chế; biên bản xác minh, kê biên tài sản; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các chứng cứ về nguồn gốc căn nhà.

            è Sau đó cần đối chiếu chính xác phần quyết định của bản án xem Tòa án đã tuyên như thế nào đối với quyền sử dụng đất và căn nhà.

            Nếu chủ căn nhà là người khác và cho rằng quyết định/hành vi của Chấp hành viên xâm phạm trực tiếp quyền lợi của mình thì người này còn có quyền khiếu nại về thi hành án. Đối với quyết định, hành vi áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc sau khi có quyết định cưỡng chế, thời hiệu khiếu nại lần đầu theo khoản 2 Điều 96 Luật Thi hành án dân sự 2025 là 30 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ hoặc biết được quyết định, hành vi đó.

            Để tư vấn chính xác trường hợp của bạn, bạn cần cung cấp thêm phần quyết định của bản án liên quan đến thửa đất và căn nhà, đồng thời cho biết đất đứng tên ai, căn nhà do ai xây dựng và hiện cơ quan THADS mới kê biên hay đã có quyết định cưỡng chế/bán đấu giá.

            Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

            Công ty Luật TNHH T2H

            Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

            VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

            Tel: 02422429900 – 0989656682

            E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

            Trân trọng!

          • Giúp em lấy lại tiền cho vay

            Em có chuyện này nhờ các luật sư tư vấn a ( Em có giấy vay nợ, có sao kê chuyển tiền ghi chữ cho vay, có tin nhắn đòi không chịu trả sau đó đối tượng nhắn tin dọa nạt nếu mày nói cho người ngoài biết tao sẽ cả nhà mày biết tay. Tiếp theo đối tượng còn vu khống và bôi nhọ người nhà mình làm gái mại dâm để gia đình mình xấu hổ không dám tố cáo. Cho em hỏi đó là dân sự hay hình sự a

            Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời

            • 23/09/2026

            Giúp em lấy lại tiền cho vay

            Chào bạn,

            Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:

            Chào bạn, tôi xin tư vấn sơ bộ trên cơ sở thông tin bạn cung cấp như sau:

            1. Về việc lấy lại tiền cho vay

            Giấy vay nợ, sao kê chuyển tiền ghi nội dung “cho vay” và tin nhắn yêu cầu trả nợ là các chứng cứ để bạn yêu cầu người vay thực hiện nghĩa vụ. Theo Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, bên vay tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn. Nếu họ không trả, bạn có quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu trả nợ và khoản lãi được pháp luật cho phép. Cần xem giấy vay để xác định hạn trả, lãi suất đã thỏa thuận và số tiền còn nợ; trường hợp giấy vay không ghi hạn trả thì áp dụng Điều 469 của Bộ luật này.

            2. Đây là việc dân sự hay hình sự?

            Việc vay tiền rồi không trả chưa tự động cấu thành tội phạm. Nếu người vay đưa ra thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt tiền ngay từ khi vay, cần xem xét dấu hiệu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự. Nếu ban đầu họ nhận tiền vay hợp pháp, sau đó dùng thủ đoạn gian dối, bỏ trốn nhằm chiếm đoạt; hoặc đến hạn có điều kiện, khả năng trả nhưng cố tình không trả, cần xem xét dấu hiệu tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự. Việc kết luận có tội hay không phải dựa trên kết quả xác minh hành vi, ý định chiếm đoạt và các điều kiện luật định.

            3. Về tin nhắn đe dọa và lời nói về người nhà bạn

            Cần lưu lại nguyên vẹn tin nhắn “tao sẽ cho cả nhà mày biết tay” và trình báo cơ quan công an nếu thấy cần thiết, nhất là nếu người đó tiếp tục đe dọa hoặc tìm đến gia đình.

            Nếu người đó biết rõ thông tin là sai sự thật nhưng vẫn bịa đặt, loan truyền việc người nhà bạn làm mại dâm, hành vi có thể được xem xét theo Điều 156 Bộ luật Hình sự về tội vu khống. Tùy nội dung và mức độ xúc phạm, cơ quan có thẩm quyền cũng có thể xem xét Điều 155 về tội làm nhục người khác. Cần xác định cụ thể họ đã nói hoặc gửi thông tin cho ai; người nhà bị nêu tên nên trực tiếp trình bày và cung cấp chứng cứ về việc danh dự, nhân phẩm của mình bị xâm phạm.

            Đề xuất cần làm lưu giữ các tài liệu để làm chứng cứ chứng minh: giấy vay, sao kê ngân hàng và toàn bộ cuộc trò chuyện; ghi lại tài khoản, thời điểm gửi tin và người đã nhận được thông tin bịa đặt. Bạn có thể gửi yêu cầu trả nợ bằng văn bản; đồng thời trình báo công an về hành vi đe dọa, bịa đặt và những dấu hiệu chiếm đoạt mà bạn có chứng cứ. Việc trình báo không làm mất quyền khởi kiện để đòi khoản tiền vay.

            Để tư vấn chính xác hơn, bạn cần làm rõ một số thông tin sau:

            1.     Bạn cho vay bao nhiêu tiền, đã đến hạn trả chưa và người vay đã trả được phần nào?

            2.     Bạn có chứng cứ chứng minh gì cho thấy họ gian dối khi vay, bỏ trốn, hoặc có khả năng trả nhưng cố tình không trả?

            3.     Ngoài tin nhắn đã nêu, họ có đe dọa cụ thể sẽ làm hại ai hoặc đã tìm đến nhà bạn không?

            4.     Họ đã nói hoặc đăng thông tin về người nhà bạn cho những ai biết; bạn còn giữ được tin nhắn, bài đăng hoặc thông tin người làm chứng không?

            Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

            Công ty Luật TNHH T2H

            Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

            VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

            Tel: 02422429900 – 0989656682

            E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

            Trân trọng!

             

             

          • vay tài sản

            Xin được tư vấn ạ! Bạn e có mượn tiền e 3ty, nhưng không có tiền trả mà muốn gán miếng đất cho e, e cũng ko muốn lấy đất vì khó bán, trong khi bạn vẫn rao bán nếu bán dc sẽ trả. Vậy trường hợp này nếu làm uỷ quyền toàn bộ và vĩnh viễn cho e được ko ạ! Nghĩa là nếu có người mua thì e mới được quyền bán và thu tiền mà ko vi phạm pháp luật ạ! Uỷ quyền rồi e giữ sổ luôn!

            Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời

            • 22/09/2026

            vay tài sản

            Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Theo như thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin được đưa ra tư vấn sơ bộ như sau:

            1. Lập ủy quyền để bán đất, nhận tiền có vi phạm pháp luật không?

            Về nguyên tắc là không. Việc bên vay ủy quyền cho bạn thay mặt ký hợp đồng bán đất, làm thủ tục sang tên và nhận tiền khi có người mua là một giao dịch dân sự hợp pháp (hợp đồng ủy quyền theo Điều 562 BLDS 2015). Tuy nhiên, vấn đề không nằm ở tính hợp pháp của việc lập ủy quyền, mà ở chỗ: ủy quyền có đủ chắc chắn để bảo vệ khoản nợ 3 tỷ của bạn hay không – câu trả lời là chưa chắc, vì các lý do dưới đây.

            2. Bản chất, ủy quyền không phải là biện pháp bảo đảm nợ

            Ủy quyền chỉ trao cho bạn quyền "thay mặt" bên vay thực hiện công việc, chứ không làm bạn thành chủ sở hữu/chủ sử dụng đất, và không thuộc nhóm biện pháp bảo đảm nghĩa vụ (cầm cố, thế chấp, đặt cọc, bảo lãnh...) tại Điều 292 BLDS 2015. Suốt thời gian chưa bán được, về pháp lý mảnh đất vẫn là tài sản của bên vay, dù bạn đang giữ sổ.

            3. Vì sao "toàn bộ, vĩnh viễn" chưa chắc an toàn như mong muốn

            • Có thể bị đơn phương hủy bất cứ lúc nào: Theo Điều 569 BLDS 2015, cả bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền đều có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng bất cứ lúc nào, chỉ cần báo trước một thời gian hợp lý. Chữ "vĩnh viễn" ghi trong hợp đồng không loại bỏ được quyền luật định này – bên vay vẫn có thể đổi ý và hủy ủy quyền, kể cả sau khi đã công chứng.
            • Đương nhiên chấm dứt nếu bên vay qua đời hoặc mất năng lực hành vi dân sự: Đây là căn cứ chấm dứt hợp đồng chung (Điều 422 BLDS 2015), do ủy quyền gắn với nhân thân người ủy quyền. Khi đó bạn phải làm việc với những người thừa kế, rất mất thời gian; chỉ một người không hợp tác là gần như bế tắc.
            • Không có giá trị ưu tiên trước các chủ nợ khác của bên vay: Đất vẫn đứng tên và thuộc sở hữu hợp pháp của bên vay, nên nếu họ còn nợ người khác hoặc bị kiện, chủ nợ khác/cơ quan thi hành án vẫn có quyền yêu cầu kê biên chính mảnh đất này. Bạn giữ ủy quyền và giữ sổ không cho bạn quyền ưu tiên gì, vì đây không phải giao dịch bảo đảm được đăng ký với cơ quan nhà nước.
            • Nguy cơ bị tuyên vô hiệu do giả tạo: Nếu phát sinh tranh chấp, bên vay (hoặc người thừa kế) có thể lập luận ủy quyền này thực chất chỉ để che giấu một giao dịch bảo đảm/cấn trừ nợ, và yêu cầu tòa tuyên vô hiệu theo Điều 124 BLDS 2015. Khi đó bạn phải quay về đòi 3 tỷ như một khoản nợ dân sự thông thường.
            • Giữ sổ chỉ là giữ giấy tờ, không phải giữ quyền: Việc này chỉ khiến bên vay khó mang sổ đi giao dịch với người khác, chứ không đồng nghĩa bạn có quyền sở hữu hay định đoạt đất. Bên vay vẫn có thể khai báo mất sổ để xin cấp lại (dù thiếu trung thực, vẫn có thể xảy ra).

            4. Hướng nào chắc chắn hơn?

            • Phương án A – Thế chấp có đăng ký (ưu tiên nếu vẫn để bên vay tự tìm người mua): Hai bên lập hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất bảo đảm khoản nợ 3 tỷ (Điều 317 BLDS 2015 – bên nhận thế chấp có thể là cá nhân, không nhất thiết phải là ngân hàng), công chứng và đăng ký biện pháp bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai (Nghị định 99/2022/NĐ-CP). Khi đã đăng ký, bạn có quyền ưu tiên xử lý đất để thu hồi nợ trước các chủ nợ khác, và bên vay không thể tự ý bán/thế chấp đất cho ai khác nếu chưa có sự đồng ý của bạn. Vẫn có thể lập thêm ủy quyền bán hộ song song cho tiện thủ tục, nhưng lúc đó thế chấp mới là "lá chắn" chính, ủy quyền chỉ là công cụ hỗ trợ.
            • Phương án B – Nhận chuyển nhượng ngay để cấn trừ nợ: Nếu bên vay thật sự đồng ý dùng đất trừ nợ (đúng đề nghị ban đầu của họ), hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng, công chứng và sang tên cho bạn ngay (Điều 27 Luật Đất đai 2024). Bạn thành chủ sử dụng đất hợp pháp, toàn quyền bán cho ai, lúc nào tùy ý, không phụ thuộc thiện chí bên vay. Nhược điểm: phát sinh thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ ngay khi sang tên, và bạn phải đứng tên tài sản trong lúc chưa bán được. Phương án này tối ưu hơn.

            5. Nếu vẫn muốn đi theo hướng ủy quyền

            Nên: có giấy vay nợ 3 tỷ rõ ràng bằng văn bản (nếu chưa có), ghi rõ điều khoản "nếu quá hạn không trả thì bên vay đồng ý ủy quyền cho bạn bán đất trừ nợ"; lập ủy quyền bằng văn bản, công chứng, ghi rõ phạm vi (toàn quyền ký hợp đồng chuyển nhượng, làm thủ tục sang tên, nhận tiền); kiểm tra kỹ đất trước khi ký (có tranh chấp, thế chấp ngân hàng, hạn chế giao dịch không). Tuy vậy, hai rủi ro lớn nhất ở mục 3 (quyền đơn phương hủy ngang và chấm dứt khi một bên chết) vẫn tồn tại về pháp lý, không thể loại bỏ hoàn toàn chỉ bằng thỏa thuận.

            Để có thể tư vấn kĩ hơn, bạn vui lòng cho biết thêm các thông tin sau:

            1. Hai bên đã có giấy/hợp đồng vay 3 tỷ bằng văn bản chưa, hay mới thỏa thuận miệng/chuyển khoản?
            2. Đất đứng tên một mình bên vay hay còn đồng sở hữu với vợ/chồng, người khác? Đã có sổ đỏ/sổ hồng chưa, có đang thế chấp ngân hàng hay vướng tranh chấp gì không?
            3. Bạn nghiêng về giữ phương án ủy quyền để tránh phát sinh thuế trước mắt, hay có thể cân nhắc thế chấp có đăng ký để chắc chắn hơn.

            Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

            Công ty Luật TNHH T2H

            Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

            VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

            Tel: 02422429900 – 0989656682

            E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

            Trân trọng!

          • Hỏi về việc nhận tiền

            Em muốn tư vấn về việc nhận số tiền mua nhà từ bạn trai người nước ngoài , hiện em và btrai có con chung có giấy khai sinh con chung, em muốn làm hợp đồng cho tặng tiền personal gift số tiền khoảng 5-10 tỷ, em muốn làm đúng quy trình và không rủi ro

            Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời

            • 22/09/2026

            Hỏi về việc nhận tiền

            Chào bạn,

            Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:

            Trường hợp bạn trai là người nước ngoài muốn chuyển cho bạn khoảng 5–10 tỷ đồng để bạn mua nhà, về nguyên tắc pháp luật Việt Nam không cấm việc cá nhân nước ngoài tặng cho tiền cho cá nhân Việt Nam và cũng không có quy định chung giới hạn số tiền được tặng cho trong trường hợp này.

            Tuy nhiên, do số tiền tương đối cao, bạn cần thực hiện bằng hợp đồng tặng cho và chuyển tiền qua ngân hàng, thay vì chỉ chuyển tiền mà không có chứng cứ chứng minh. Cụ thể:

            Theo Điều 457 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng tặng cho là sự thỏa thuận theo đó bên tặng cho giao tài sản và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù. Tiền là động sản và theo Điều 458 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng tặng cho động sản về nguyên tắc có hiệu lực từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.

            Do đó, tôi đề xuất thực hiện như sau:

            Thứ nhất, lập hợp đồng tặng cho tiền bằng văn bản. Hợp đồng nên lập song ngữ Việt – Anh hoặc Việt – ngôn ngữ mà bạn trai bạn sử dụng.

            Lưu ý một số nội dung cần có trong hợp đồng tặng cho: thông tin hộ chiếu của người tặng; thông tin của bạn; số tiền và loại tiền tặng cho; nguồn tiền thuộc sở hữu hợp pháp của người tặng; việc tặng cho là hoàn toàn tự nguyện; nếu đúng ý chí hai bên thì cần ghi rõ việc tặng tiền không làm phát sinh quyền sở hữu, quyền đòi lại tiền hoặc quyền sở hữu đối với căn nhà mà bạn mua bằng khoản tiền này.

            Pháp luật không bắt buộc hợp đồng tặng cho tiền phải công chứng vì đây không phải tài sản phải đăng ký quyền sở hữu. Tuy nhiên, với giá trị 5–10 tỷ đồng, để giá trị chứng cứ chứng minh và hạn chế tranh chấp về sau, hai bên có thể tự nguyện yêu cầu công chứng hợp đồng theo pháp luật về công chứng. Luật Công chứng hiện hành cho phép cá nhân, tổ chức yêu cầu công chứng giao dịch dù pháp luật không bắt buộc phải công chứng.

            Thứ hai, nên chuyển tiền trực tiếp qua ngân hàng. Người tặng nên chuyển từ tài khoản ngân hàng đứng tên chính mình ở nước ngoài vào tài khoản đứng tên bạn tại ngân hàng Việt Nam. Nội dung chuyển tiền nên ghi rõ.

            Khoản tiền này về bản chất có thể thuộc trường hợp chuyển tiền một chiều từ nước ngoài vào Việt Nam. Theo Điều 6 Nghị định 70/2014/NĐ-CP (Liên quan đến pháp lệnh ngoại hối), người cư trú là cá nhân có ngoại tệ từ khoản chuyển tiền một chiều có thể nhận vào tài khoản ngoại tệ và sử dụng theo quy định pháp luật.

            Thứ ba, cần chuẩn bị hồ sơ chứng minh nguồn tiền. Vì khoản tiền 5–10 tỷ đồng là giao dịch có giá trị lớn, ngân hàng có thể yêu cầu giải trình mục đích giao dịch và nguồn tiền theo quy định về phòng, chống rửa tiền. Theo Quyết định 11/2023/QĐ-TTg, mức giao dịch có giá trị lớn phải báo cáo hiện nay là từ 400 triệu đồng trở lên. Tuy nhiên, nghĩa vụ báo cáo thuộc về ngân hàng hoặc các đối tượng báo cáo theo Luật Phòng, chống rửa tiền, không có nghĩa cứ nhận trên 400 triệu đồng thì bản thân bạn phải tự đi báo cáo hoặc giao dịch đó là bất hợp pháp.

            Do đó, nên chuẩn bị và lưu giữ các tài liệu tránh phát sinh tranh chấp:

            1. Hợp đồng tặng cho tiền;
            2. Hộ chiếu của người tặng và CCCD/hộ chiếu của bạn;
            3. Chứng từ chuyển tiền ngân hàng;
            4. Chứng từ thể hiện tiền thuộc sở hữu hợp pháp của người tặng như sao kê tài khoản, tiền tiết kiệm, tiền lương, thu nhập, tiền bán tài sản... tùy nguồn tiền thực tế;
            5. Giấy khai sinh của con chung có thể cung cấp thêm để chứng minh mối quan hệ thực tế giữa hai bên nếu ngân hàng yêu cầu.

            Thứ tư, về thuế thu nhập cá nhân: theo quy định đang áp dụng tại thời điểm tháng 9/2026, Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Khoản 9 Điều 3 của Luật quy định thu nhập chịu thuế từ nhận thừa kế, quà tặng gồm chứng khoán, phần vốn trong tổ chức kinh tế/cơ sở kinh doanh, bất động sản và các tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng. Tiền mặt hoặc tiền chuyển khoản thông thường không thuộc các loại tài sản này. Vì vậy, nếu đúng bản chất đây là khoản tiền được cá nhân tặng cho bạn, thì khoản 5–10 tỷ đồng này không thuộc thu nhập chịu thuế TNCN.

            Việc sau đó bạn sử dụng số tiền này để mua nhà là một giao dịch khác. Các khoản thuế, phí khi mua và đăng ký nhà đất sẽ thực hiện theo quy định đối với chính giao dịch mua bán nhà đất đó.

            Trường hợp: Nếu giao dịch chuyển tiền nhưng thực tế hai bên thống nhất cùng mua nhà, sau này phải hoàn trả tiền hoặc người chuyển tiền vẫn có quyền lợi đối với căn nhà thì không nên lập hợp đồng tặng cho chỉ để hợp thức hóa việc chuyển tiền, mà cần lập đúng loại thỏa thuận phù hợp với bản chất giao dịch.

            Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

            Công ty Luật TNHH T2H

            Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

            VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

            Tel: 02422429900 – 0989656682

            E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

            Trân trọng!

          • First
          • 1
          • 2
          • 3
          • 4
          • 5
          • ...
          • Last

          Đánh giá (Rating) của iLAW

          1. Hệ thống Đánh giá (Rating) trên iLAW hoạt động như thế nào

          iLAW đưa ra Đánh giá (Rating) dựa trên các thông tin do Luật sư cung cấp trong trang cá nhân của Luật sư và các thông tin mà iLAW thu thập được (ví dụ, các thông tin do Đoàn Luật sư, Liên đoàn Luật sư hoặc các Sở tư pháp công bố...). Thêm vào đó, thuật toán thông minh (Smart Agorithm) trên hệ thống iLAW cũng nhận diện và tự động cập nhật thường xuyên những thay đổi (tăng hoặc giảm) của Đánh giá (Rating). 

          2. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến Đánh giá (Rating) của iLAW

          Kinh nghiệm và bằng cấp

          Số năm kinh nghiệm hành nghề của Luật sư, học vấn, bằng cấp chuyên môn hoặc các bằng cấp trong các lĩnh vực liên quan mà Luật sư đạt được.

          Thành tựu trong nghề nghiệp

          Các giải thưởng, vinh danh, bằng khen…của cá nhân Luật sư hoặc của văn phòng/công ty nơi Luật sư làm việc.

          Danh tiếng và uy tín trong nghề

          Mức độ tích cực của các Nhận xét (reviews) và đánh giá sao (từ 1 sao đến 5 sao) chất lượng dịch vụ pháp lý từ khách hàng cũ và Đánh giá của luật sư đồng nghiệp đối với Luật sư.

          Đóng góp cho nghề

          Luật sư có xuất bản các sách chuyên ngành pháp lý, các bài viết, chia sẻ quan điểm pháp lý trên các báo, tạp chí, các tham luận, trình bày tại các hội thảo chuyên ngành pháp lý...

          Đóng góp cho cộng đồng

          Luật sư tích cực tham gia trả lời miễn phí các Câu hỏi của khách hàng, chia sẻ miễn phí các thông tin pháp lý hữu ích, các biểu mẫu, mẫu hợp đồng cho khách hàng trên iLAW.

          3. Các mức độ của Đánh giá (Rating) của iLAW

          Kết quả Đánh giá (Rating) trên hệ thống iLAW được chia làm 04 mức độ tương ứng, phản ánh thông tin toàn diện về Luật sư và chất lượng cũng như uy tín của dịch vụ pháp lý mà Luật sư cung cấp:

          10 - 9.0: Xuất sắc 

          8.9 - 8.0: Rất tốt 

          7.9 - 7.0: Tốt 

          6.9 - 6.0: Trung bình

          • Về chúng tôi
          • Điều khoản sử dụng
          • Dành cho người dùng
          • Dành cho Luật sư
          • Chính sách bảo mật
          • Nội quy trang Nhận xét
          • Đánh giá của iLAW

          Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Pháp Lý Thông Minh

          Tầng 6,7 Toà nhà Friendship, số 31 Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

          Điện thoại: (028) 7303 2868

          Email: cskh@i-law.vn

          GCNĐKKD số 0314107106 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TPHCM cấp ngày 10/11/2016

          iLAW chỉ cung cấp thông tin và nền tảng công nghệ để bạn sử dụng thông tin đó. Chúng tôi không phải là công ty luật và không cung cấp dịch vụ pháp lý. Bạn nên tham vấn ý kiến Luật sư cho vấn đề pháp lý mà bạn đang cần giải quyết. Vui lòng tham khảo Điều khoản sử dụng và Chính sách bảo mật khi sử dụng website.

          © iLAW Inc. All Rights Reserved 2019