iLAW
iLAW
  • Tìm luật sư
    • Tư vấn pháp luật
      • Bài viết pháp luật
        • Câu hỏi pháp luật
          • Biểu mẫu
          • Dịch vụ pháp lý
          • Đặt câu hỏi miễn phí
          • Đăng nhập
          }

          Lê Thị Thu Hương

          Tổng cộng: 724

          Lê Thị Thu Hương
          Gọi 989656682
          • bi lua gat vay tien tren mang

            cho em hoi van de cua em la em muon tien tren online vi em tung quan ko nghi ra duoc cach va em coi quang ba ram ro tren ko gian mang.ho noi giup do dong bao xa que huong de co von dautu mo tiem ,nha hang,mua nha ,v,v,v em bi gat tu nam 2024 cho den nay em co nho 1 luat su khac ma ho chan lam duoc tich su gi ca,ma cu keu em goi tienve hoai de dong phi den noi bay gio em can kiet ko co noi so tien de dong tiep em moi di tim luat su tren mang de co the giup em lay lai duoc so tien da mat ko,thank .em mat len den 300 ngan USD That qua khung doi voi em,em yeu cau xem luat su co the giup em trong tinh the nguy kich nay ko em rat biet on,thank hien em dang o nuoc ngoai ko biet cach nao co the lien lac voi luat su tren phone de noi ro su viec va can ke hon,em co de lai so cell phone cua em va email mong anh nhan duoc tin cua em phan hoi cho em biet nhe thank you Luat su nhieu

            Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời

            • 20/10/2026

            bi lua gat vay tien tren mang

            Chào bạn,

            Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:

            1. Về dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản

            Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung, hành vi sử dụng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định pháp luật.

            Trường hợp bạn được giới thiệu, quảng cáo về dịch vụ hỗ trợ vay vốn trực tuyến, sau đó được yêu cầu chuyển tiền để thực hiện các thủ tục nhưng không nhận được khoản vay như thỏa thuận thì vụ việc có thể có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

            Theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500 triệu đồng trở lên thuộc trường hợp có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

            Tuy nhiên, việc xác định tội danh, giá trị tài sản bị chiếm đoạt và trách nhiệm hình sự phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ và kết quả xác minh của cơ quan có thẩm quyền.

            2. Về việc người được giới thiệu là luật sư liên tục yêu cầu chuyển tiền

            Theo Điều 26 Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012, việc cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư phải được thực hiện thông qua hợp đồng dịch vụ pháp lý bằng văn bản, trừ các trường hợp luật định. Hợp đồng phải thể hiện nội dung dịch vụ, thời hạn thực hiện, quyền và nghĩa vụ của các bên, mức thù lao và các khoản chi phí có liên quan.

            Đồng thời, điểm đ khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư nghiêm cấm luật sư nhận, đòi hỏi các khoản tiền hoặc lợi ích khác ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý.

            Theo thông tin bạn cung cấp, luật sư đã nhiều lần yêu cầu chuyển tiền nhưng chưa giải quyết được vụ việc. Trước mắt, cần xác minh tư cách hành nghề của người này, nội dung hợp đồng dịch vụ pháp lý, các khoản tiền đã thanh toán và công việc thực tế đã thực hiện.

            Nếu có căn cứ xác định luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật sư vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng, bạn có thể yêu cầu giải quyết tranh chấp, hoàn trả khoản tiền theo thỏa thuận và quy định pháp luật. Trường hợp có dấu hiệu vi phạm quy định về hành nghề luật sư, bạn có thể gửi đơn đến Đoàn Luật sư hoặc cơ quan quản lý có thẩm quyền để đề nghị xem xét.

            Nếu người này có hành vi giả mạo tư cách luật sư hoặc sử dụng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tiền, bạn có thể tố giác đến cơ quan có thẩm quyền để được xác minh, xử lý theo quy định pháp luật.

            Theo đó, nên tạm dừng việc chuyển thêm tiền cho các cá nhân, tổ chức đang yêu cầu nộp phí để giải ngân khoản vay hoặc thu hồi tiền, cho đến khi xác minh được tư cách pháp lý, căn cứ thu phí và nội dung công việc.

            Đồng thời, cần thu thập, lưu giữ toàn bộ tài liệu bao gồm thông tin các bên nhận tiền, sao kê tài khoản ngân hàng, chứng từ chuyển tiền, tin nhắn, thư điện tử, hợp đồng, giấy tờ liên quan đến khoản vay và các tài liệu giao dịch với người được giới thiệu là luật sư. Liên hệ với ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đã thực hiện giao dịch để thông báo dấu hiệu gian lận và đề nghị kiểm tra khả năng tra soát, thu hồi giao dịch hoặc áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định.

            Theo Điều 144, Điều 145 và Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cá nhân có quyền tố giác hành vi có dấu hiệu tội phạm đến cơ quan có thẩm quyền. Cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm phải tiếp nhận và xử lý theo quy định.

            Do bạn hiện đang ở nước ngoài, cần xác định địa điểm thực hiện giao dịch, quốc gia nơi mở tài khoản nhận tiền và thông tin về các đối tượng liên quan để xác định thẩm quyền giải quyết. Trường hợp vụ việc xảy ra tại nước ngoài, bạn nên trình báo cơ quan thực thi pháp luật có thẩm quyền tại quốc gia nơi xảy ra sự việc. Nếu vụ việc có yếu tố liên quan đến Việt Nam, bạn có thể gửi đơn tố giác kèm tài liệu, chứng cứ đến cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam để được tiếp nhận, xem xét theo quy định.

            Việc có thể thu hồi được tiền hay không còn phụ thuộc vào kết quả xác minh và khả năng áp dụng các biện pháp xử lý theo pháp luật.

            Để có cơ sở tư vấn hướng giải quyết cụ thể hơn, bạn vui lòng cung cấp thêm một số thông tin sau:

            1.     Hiện tại bạn đang sinh sống tại quốc gia nào? Các cá nhân, tổ chức đã giới thiệu dịch vụ cho vay và nhận tiền của bạn có ở Việt Nam hay không?

            2.     Số tiền 300.000 USD được chuyển qua tài khoản ngân hàng, dịch vụ chuyển tiền quốc tế hay tiền điện tử? Bạn chuyển vào tài khoản tại quốc gia nào và hiện còn lưu giữ chứng từ chuyển tiền không?

            3.     Bạn đã trình báo sự việc đến cơ quan Công an hoặc cơ quan có thẩm quyền tại quốc gia nơi đang sinh sống chưa? Nếu đã trình báo, vụ việc hiện đang được giải quyết ở giai đoạn nào?

            4.     Đối với việc tìm đến Luật sư, bạn có ký hợp đồng dịch vụ pháp lý không? Tổng số tiền bạn đã thanh toán cho họ là bao nhiêu?

            Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

            Công ty Luật TNHH T2H

            Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

            VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

            Tel: 02422429900 – 0989656682

            E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

            Trân trọng!

             

          • Phương án xử lý sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký SHTT

            Xin chào! Luật sư. Bên e đang vướng vụ việc liên quan đến SHTT nhờ luật sư giúp: Bên e nhập lô hàng từ trung quốc về Việt Nam và làm thủ tục khai báo lên cơ quan hải quan thì bị thông báo là nhãn hiệu này đã được đăng ký SHTT ở Việt Nam thuộc quyền của công ty bên Mỹ. giá trị lô hàng 1,7 tỷ và trước đó cũng đã nhập về rồi. Phía bên trung quốc có cung cấp các chứng từ: - Giấy đăng ký sở hữu nhân hiệu ở trung quốc - Hợp đồng mua bán - tờ khai hải quan - C/O form E - Giấy ủy quyền sử dụng thương hiệu - hoá đơn, giấy vận đơn, phiếu đóng gói packing list... Toàn bộ các chứng từ đều thể hiện thương hiệu và không có cố tình làm giải thương hiệu. Xin luật sư tư vấn về vụ việc này có liên quan đến hình sự, hành chính và hướng xử lý. Xin cảm ơn luật sư

            Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời

            • 19/10/2026

            Phương án xử lý sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký SHTT

            Chào bạn,

            Căn cứ thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin tư vấn sơ bộ như sau:

            1. Về tính hợp pháp của việc nhập khẩu hàng hóa

            Theo khoản 5 Điều 124 và khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ, nhập khẩu hàng hóa mang dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam có thể cấu thành hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật.

            Tuy nhiên, điểm b khoản 2 Điều 125 Luật Sở hữu trí tuệ cũng quy định về trường hợp chủ sở hữu không có quyền ngăn cấm việc lưu thông, nhập khẩu sản phẩm đã được chủ sở hữu hoặc người có quyền hợp pháp đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài.

            Do đó, việc đối tác Trung Quốc cung cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, giấy ủy quyền sử dụng nhãn hiệu, hợp đồng mua bán và chứng từ nhập khẩu là những tài liệu cần xem xét để xác định nguồn gốc hàng hóa và quyền sử dụng nhãn hiệu.

            Tuy nhiên, việc nhãn hiệu được đăng ký tại Trung Quốc không là điều kiện làm phát sinh quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam. Cần xác định mối quan hệ pháp lý giữa chủ sở hữu nhãn hiệu tại Trung Quốc và chủ sở hữu nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam, cũng như phạm vi quyền sử dụng được chuyển giao.

            2. Về nguy cơ xử lý hành chính và hình sự

            Theo khoản 2 Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ, hàng hóa giả mạo nhãn hiệu được xác định căn cứ vào dấu hiệu gắn trên hàng hóa, bao bì hàng hóa và quyền sử dụng hợp pháp đối với nhãn hiệu đang được bảo hộ.

            Trường hợp xác định có hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, doanh nghiệp có thể bị xử lý vi phạm hành chính theo Điều 11 hoặc Điều 12 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi các văn bản có liên quan.

            Đối với trách nhiệm hình sự, Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung, quy định về Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự phải căn cứ vào hành vi cố ý xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định.

            Do đó, mặc dù lô hàng có trị giá 1,7 tỷ đồng, chưa thể kết luận doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm hình sự nếu chưa xác định đầy đủ bản chất hàng hóa, yếu tố lỗi và các điều kiện pháp luật có liên quan.

            3. Đề xuất:

            Nên đề nghị cơ quan hải quan làm rõ căn cứ nghi ngờ hàng hóa xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tình trạng xử lý lô hàng và cung cấp các quyết định liên quan (nếu có).

            Đồng thời, cần kiểm tra hiệu lực, phạm vi bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam; xác minh chủ sở hữu nhãn hiệu tại Trung Quốc; đối chiếu giấy ủy quyền và các chứng từ chứng minh nguồn gốc hàng hóa.

            Trường hợp có căn cứ xác định hàng hóa được nhập khẩu hợp pháp, có thể gửi văn bản giải trình kèm tài liệu chứng minh để đề nghị cơ quan hải quan xem xét tiếp tục thực hiện thủ tục nhập khẩu.

            Ngược lại, nếu có căn cứ xác định hàng hóa xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, doanh nghiệp cần xem xét phương án làm việc với chủ sở hữu nhãn hiệu, nhà cung cấp Trung Quốc và cơ quan có thẩm quyền để giải quyết lô hàng theo quy định pháp luật.

            Để có cơ sở đề xuất phương án xử lý phù hợp, bạn vui lòng cung cấp thêm các thông tin sau:

            1.     Nhãn hiệu đang bị cơ quan hải quan xem xét là nhãn hiệu nào? Hàng hóa nhập khẩu thuộc loại sản phẩm gì?

            2.     Chủ sở hữu nhãn hiệu tại Trung Quốc và công ty Mỹ đang được bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam có phải cùng một chủ thể, công ty liên kết hoặc có quan hệ chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu với nhau không?

            3.     Giấy ủy quyền do công ty Trung Quốc cung cấp được cấp bởi chủ thể nào, có nội dung cho phép xuất khẩu hoặc sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam hay chỉ giới hạn trong lãnh thổ Trung Quốc?

            4.     Cơ quan hải quan mới thông báo hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hay đã ban hành quyết định tạm dừng làm thủ tục hải quan, tạm giữ hàng hóa hoặc lập biên bản vi phạm hành chính?

            5.     Doanh nghiệp đã nhập khẩu nhãn hiệu này bao nhiêu lần, các lô hàng trước đã được thông quan và đưa ra thị trường chưa?

            Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

            Công ty Luật TNHH T2H

            Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

            VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

            Tel: 02422429900 – 0989656682

            E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

            Trân trọng!

             

          • Hỏi về quyền lợi nghỉ việc ngay khi hợp đồng cũ đã hết hạn

            "Chào Luật sư, tôi tên là Như. Tôi ký Hợp đồng cộng tác thử nghiệm từ 17/08/2026 đến 16/10/2026. Hợp đồng đã hết hạn vào ngày 16/10, nhưng ngày 17/10 tôi vẫn đi làm theo yêu cầu và đã hoàn thành chấm công, báo cáo buổi dạy đầy đủ. Hiện tại hai bên chưa ký hợp đồng mới. Tôi muốn dừng công việc ngay lập tức mà không muốn làm hết tháng. Nhờ luật sư tư vấn: 1. Tôi có quyền nghỉ ngay mà không cần báo trước 15 ngày theo điều khoản của hợp đồng cũ không? 2. Làm sao để tôi đảm bảo nhận đủ lương thử nghiệm và ngày làm việc phát sinh mà không bị phía lớp học phạt tiền vì nghỉ đột xuất?"

            Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời

            • 19/10/2026

            Hỏi về quyền lợi nghỉ việc ngay khi hợp đồng cũ đã hết hạn

            Chào bạn,

            Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:

            Thứ nhất, về quyền chấm dứt công việc khi hợp đồng đã hết hạn

            Theo khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019, trường hợp thỏa thuận có nội dung về việc làm có trả công, tiền lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động, không phụ thuộc vào tên gọi của hợp đồng.

            Trường hợp hợp đồng của bạn được xác định là hợp đồng lao động xác định thời hạn, theo điểm a khoản 2 Điều 20 Bộ luật Lao động năm 2019, khi hợp đồng hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới. Trong thời gian chưa ký hợp đồng mới, quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên được thực hiện theo hợp đồng đã giao kết. Do đó, việc bạn tiếp tục làm việc ngày 17/10/2026 cần được xem xét theo quy định này.

            Tuy nhiên, theo điểm c khoản 1 Điều 35 Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhưng phải báo trước ít nhất 03 ngày làm việc, trừ trường hợp được nghỉ không cần báo trước theo khoản 2 Điều 35.

            Vì vậy, nếu quan hệ giữa bạn và lớp học được xác định là quan hệ lao động thì điều khoản yêu cầu báo trước 15 ngày không được áp dụng để hạn chế quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng theo thời hạn luật định.

            Trường hợp hợp đồng thực chất là hợp đồng thử việc, cần đối chiếu Điều 27 Bộ luật Lao động năm 2019. Theo đó, trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng mà không cần báo trước và không phải bồi thường. Tuy nhiên, quyền này chỉ áp dụng trong thời gian thử việc, nên cần làm rõ quan hệ giữa hai bên sau ngày 16/10/2026.

            Ngược lại, nếu đây là hợp đồng cung ứng dịch vụ theo pháp luật dân sự thì việc chấm dứt hợp đồng và điều khoản báo trước 15 ngày phải được xem xét theo nội dung thỏa thuận, Điều 428 và Điều 521 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trường hợp hợp đồng được tiếp tục thực hiện theo Điều 521 thì các điều khoản đã thỏa thuận có thể tiếp tục được áp dụng.

            Thứ hai, về quyền nhận tiền lương và việc áp dụng khoản phạt khi nghỉ việc

            Theo Điều 94 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động có nghĩa vụ trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động.

            Đồng thời, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, các bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ những trường hợp được kéo dài theo quy định pháp luật.

            Do đó, nếu quan hệ giữa bạn và lớp học là quan hệ lao động, bạn có quyền yêu cầu thanh toán tiền lương trong thời gian thử nghiệm từ ngày 17/8/2026 đến ngày 16/10/2026 và tiền lương đối với ngày làm việc phát sinh 17/10/2026.

            Đối với việc phạt tiền khi nghỉ việc, khoản 2 Điều 127 Bộ luật Lao động năm 2019 nghiêm cấm hành vi phạt tiền, cắt lương thay việc xử lý kỷ luật lao động.

            Tuy nhiên, nếu người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì vẫn có thể phát sinh nghĩa vụ bồi thường theo Điều 40 Bộ luật Lao động năm 2019.

            Trường hợp quan hệ giữa hai bên là hợp đồng dịch vụ theo Bộ luật Dân sự năm 2015, việc thanh toán thù lao được thực hiện theo thỏa thuận và Điều 515, Điều 519 Bộ luật Dân sự. Trách nhiệm phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại (nếu có) phải được xác định theo thỏa thuận hợp pháp và quy định pháp luật có liên quan.

            Theo đó:

            Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, trước hết bạn nên gửi thông báo bằng văn bản đến đơn vị quản lý lớp học, xác nhận Hợp đồng cộng tác thử nghiệm có thời hạn từ ngày 17/8/2026 đến ngày 16/10/2026 đã hết thời hạn thỏa thuận; bạn đã hoàn thành công việc ngày 17/10/2026 theo yêu cầu của đơn vị và không có nguyện vọng tiếp tục hợp tác.

            Về thời điểm chấm dứt công việc, cần xem xét các trường hợp sau:

            - Trường hợp thứ nhất: Nếu hợp đồng thực chất là hợp đồng thử việc riêng biệt, đã kết thúc thời gian thử việc và các bên chưa xác lập quan hệ lao động tiếp theo, bạn có cơ sở thông báo không tiếp tục hợp tác. Tuy nhiên, cần làm rõ việc tiếp tục giảng dạy ngày 17/10/2026 có làm phát sinh quan hệ hợp đồng mới hay không.

            - Trường hợp thứ hai: Nếu hợp đồng được xác định là hợp đồng lao động xác định thời hạn dưới 12 tháng và việc tiếp tục làm việc ngày 17/10/2026 thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 20 Bộ luật Lao động năm 2019, bạn có thể thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng theo điểm c khoản 1 Điều 35 Bộ luật này, với thời hạn báo trước ít nhất 03 ngày làm việc, trừ trường hợp được đơn phương chấm dứt không cần báo trước theo khoản 2 Điều 35.

            Trường hợp muốn chấm dứt sớm hơn thời hạn báo trước, bạn có thể đề nghị hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng theo khoản 3 Điều 34 Bộ luật Lao động năm 2019.

            - Trường hợp thứ ba: Nếu đây là hợp đồng dịch vụ theo Bộ luật Dân sự năm 2015 thì cần xem xét nội dung thỏa thuận, tình trạng hoàn thành công việc, việc tiếp tục cung ứng dịch vụ ngày 17/10/2026 và điều khoản chấm dứt hợp đồng để xác định nghĩa vụ báo trước, trách nhiệm pháp lý có liên quan.

            Về tiền lương, thù lao, bạn có quyền yêu cầu đơn vị thanh toán đầy đủ các khoản tương ứng với công việc đã hoàn thành từ ngày 17/8/2026 đến ngày 16/10/2026 và khoản thanh toán đối với công việc phát sinh ngày 17/10/2026. Bạn cần lưu giữ hợp đồng, bảng chấm công, báo cáo buổi dạy, tin nhắn giao việc và các tài liệu liên quan.

            Tóm lại, bạn có quyền đề nghị chấm dứt công việc và yêu cầu thanh toán đầy đủ tiền lương, thù lao đối với thời gian đã làm việc. Tuy nhiên, việc có được nghỉ ngay mà không phải báo trước hoặc bồi thường hay không còn phụ thuộc vào bản chất hợp đồng, các thỏa thuận đã giao kết và tình trạng thực hiện hợp đồng sau ngày 16/10/2026.

            Để có cơ sở tư vấn chính xác hơn, bạn vui lòng cung cấp nội dung điều khoản chấm dứt hợp đồng, báo trước 15 ngày và điều khoản phạt vi phạm trong Hợp đồng đã ký kết.

            Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

            Công ty Luật TNHH T2H

            Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

            VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

            Tel: 02422429900 – 0989656682

            E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

            Trân trọng!

             

          • Đòi nợ

            Bản án đã có QĐ thi hành án, chấp hành viên nói bên bị có tài sản chắc chắn đòi được. Họ xin tiền công đã đồng ý cho theo đề nghị của CHC nhưng Vẫn ko tiến triển gì. Vậy tôi phải làm gì tiếp theo? Xin tư vấn. Chân thành cảm ơn.

            Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời

            • 19/10/2026

            Đòi nợ

            Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Theo như thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin được đưa ra tư vấn sơ bộ như sau:

            Thứ nhất, gửi văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự đẩy nhanh việc tổ chức thi hành án.

            Người được thi hành án nên gửi đơn đến cơ quan thi hành án dân sự đang thụ lý hồ sơ, đề nghị:

            • Thông báo tình trạng và kết quả tổ chức thi hành án đến thời điểm hiện tại.

            • Làm rõ kết quả xác minh tài sản, thu nhập và các điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

            • Xem xét áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế và xử lý tài sản theo quy định nếu xác định người phải thi hành án có điều kiện nhưng không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ.

            Cần lưu ý rằng việc Chấp hành viên nhận định người phải thi hành án có tài sản chưa đồng nghĩa với việc chắc chắn thu hồi được tiền. Còn phải xác minh quyền sở hữu, tình trạng pháp lý của tài sản, nghĩa vụ bảo đảm, thứ tự thanh toán và khả năng xử lý tài sản trên thực tế.

            Thứ hai, khiếu nại nếu Chấp hành viên chậm tổ chức thi hành án hoặc không thực hiện nhiệm vụ theo quy định.

            Theo Điều 96 Luật Thi hành án dân sự số 2025, đương sự có quyền khiếu nại quyết định, hành vi về thi hành án dân sự nếu có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

            Do đó, nếu đã nhiều lần đề nghị nhưng hồ sơ vẫn không được giải quyết, người được thi hành án có thể xem xét khiếu nại đến người có thẩm quyền theo quy định của Luật. Đơn cần nêu rõ quá trình làm việc, các lần yêu cầu, nội dung đã cam kết hoặc trả lời và những việc chưa được thực hiện.

            Lưu ý: thời hiệu khiếu nại lần đầu theo khoản 2 Điều 96 được phân biệt theo loại quyết định, hành vi: thông thường là 15 ngày đối với quyết định, hành vi trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc cưỡng chế; 10 ngày đối với biện pháp bảo đảm; và 30 ngày đối với biện pháp cưỡng chế cùng các quyết định, hành vi sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế. Cần xác định chính xác hành vi bị khiếu nại để tính thời hiệu.

            Thứ ba, làm rõ khoản “tiền công” mà người được thi hành án đã đồng ý chi trả.

            Đây là tình tiết cần hỏi lại trước khi kết luận. Nếu đó là phí thi hành án, chi phí xác minh hoặc chi phí cưỡng chế hợp pháp thì cần xác định căn cứ thu, mức thu và chứng từ tương ứng.

            Ngược lại, nếu đây là khoản tiền trả riêng cho Chấp hành viên để đổi lấy việc xử lý hồ sơ thì không nên tiếp tục thỏa thuận hoặc chi trả ngoài quy định. Việc đã đồng ý chi trả khoản tiền này không thay thế nghĩa vụ tổ chức thi hành án theo pháp luật. Cần làm rõ bản chất khoản tiền, người nhận, nội dung thỏa thuận và chứng cứ liên quan trước khi tư vấn cách xử lý.

            Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

            Công ty Luật TNHH T2H

            Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

            VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

            Tel: 02422429900 – 0989656682

            E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

            Trân trọng!

          • Khởi kiện con nợ ra tòa

            Con nợ ở phường Vĩnh hiệp TP rạch giá năm 2020 có làm hợp đồng vay tiền 2ti1 đến hạn trả là tháng 10 năm 2022 có ky tên và lan tay nhưng từ đó đến nay không trả lãi và vốn nay con nợ bỏ trốn khỏi địa phương.toi muốn khởi kiện để có bản án treo trên đầu vợ chồng người vay

            Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời

            • 19/10/2026

            Khởi kiện con nợ ra tòa

            Chào bạn cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Theo như thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin được đưa ra tư vấn sơ bộ như sau:

            1. Về quan hệ pháp luật và giá trị chứng cứ

            Đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Điều 463 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015. Hợp đồng vay tiền giữa cá nhân với cá nhân không bắt buộc phải công chứng, chứng thực mới có hiệu lực; việc hai bên đã lập văn bản, bên vay ký tên và điểm chỉ (lăn tay) là chứng cứ khá vững để chứng minh quan hệ vay nợ và nghĩa vụ trả nợ khi khởi kiện.

            2. Về thời hiệu khởi kiện 

            Khoản nợ đến hạn từ tháng 10/2022, đến nay đã hơn 3 năm nên cần làm rõ điểm này trước tiên. Về nguyên tắc, Điều 429 BLDS 2015 quy định thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền bị xâm phạm, tức nếu tính thông thường thì đến nay thời hiệu đối với hợp đồng này đã hết. 

            Tuy nhiên, thực tiễn xét xử hiện nay xác định khác đối với riêng phần nợ gốc: theo khoản 2 Điều 155 BLDS, thời hiệu khởi kiện không áp dụng đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, và Tòa án nhân dân tối cao cùng thực tiễn xét xử các vụ án đòi nợ đều xác định yêu cầu đòi lại tiền nợ gốc là một dạng yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu nên không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Một vụ việc đã được rút kinh nghiệm cho thấy dù hợp đồng tín dụng đã hết thời hiệu khởi kiện, Tòa án vẫn thụ lý, giải quyết với quan hệ tranh chấp “đòi lại tài sản (nợ gốc)” mà không phụ thuộc vào việc bị đơn có yêu cầu áp dụng thời hiệu hay không. Nói cách khác: phần tiền gốc 2,1 tỷ, bạn có quyền khởi kiện đòi lại bất cứ lúc nào, không bị giới hạn bởi mốc 3 năm.

            Riêng phần lãi vay, do gắn với quan hệ hợp đồng nên về nguyên tắc vẫn chịu thời hiệu 3 năm; nếu phía bị đơn (hoặc người đại diện) yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa sơ thẩm ra bản án, phần lãi phát sinh đã quá 3 năm có nguy cơ không được chấp nhận. Vì vậy nên khởi kiện sớm, và khi tính toán số tiền lãi yêu cầu, nên cân nhắc giới hạn trong 3 năm gần nhất để tránh rủi ro bị bác một phần yêu cầu.

            Theo Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) 2015, trường hợp người bị kiện không có nơi cư trú ổn định, thay đổi chỗ ở mà không thông báo nhằm che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ, Thẩm phán không được trả lại đơn khởi kiện mà vẫn phải xác định đây là hành vi cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung. Khi không tống đạt trực tiếp được, Tòa sẽ niêm yết công khai tại nơi cư trú cuối cùng và có thể xét xử vắng mặt bị đơn theo đúng trình tự tố tụng. 

            4. Về việc muốn bản án cho cả 2 vợ chồng

            Đây là điểm cần làm rõ thêm. Theo Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, khoản vay sẽ là nghĩa vụ chung, hai vợ chồng liên đới trả nợ nếu: nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, hoặc do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Nếu hợp đồng chỉ do một người (chồng hoặc vợ) ký và khoản tiền dùng cho mục đích cá nhân, không liên quan đến gia đình, thì về nguyên tắc chỉ người đó phải trả, người còn lại không đương nhiên liên đới – trừ khi chứng minh được khoản vay đã phục vụ nhu cầu chung. Vì vậy, ai là người đứng tên ký hợp đồng và mục đích sử dụng khoản vay là yếu tố quyết định để xác định có thể khởi kiện/yêu cầu cả hai vợ chồng cùng chịu trách nhiệm hay không. 

            5. Hướng xử lý hình sự song song (nếu đủ căn cứ)

            Việc vay tiền bằng hợp đồng rồi bỏ trốn sau khi đến hạn có thể có dấu hiệu của tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017), vì điều luật này xử lý hành vi vay, mượn tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó. Với số tiền 2,1 tỷ, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì khung hình phạt cao nhất của tội danh này lên tới 20 năm tù. Đây là một hướng độc lập với vụ kiện dân sự – bạn có thể làm đơn tố giác gửi công an nơi con nợ cư trú cuối cùng để được xem xét song song. Tuy vậy cần lưu ý: việc có khởi tố hình sự hay không phụ thuộc vào chứng cứ thể hiện ý thức chiếm đoạt (bỏ trốn nhằm trốn tránh nghĩa vụ) chứ không đơn thuần chỉ vì không trả được nợ đúng hạn, nên đây là yếu tố cơ quan điều tra sẽ đánh giá, không phải điều có thể tự khẳng định trước.

            Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

            Công ty Luật TNHH T2H

            Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

            VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

            Tel: 02422429900 – 0989656682

            E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

            Trân trọng!

          • Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

            Điều kiện để được xem là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

            Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời

            • 16/10/2026

            Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

            Chào bạn,

            Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:

            Về điều kiện xác định doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

            Theo khoản 22 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2025:

            “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông.”

            Đồng thời, khoản 19 Điều 3 Luật này quy định nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.

            Như vậy, doanh nghiệp được xác định là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông, thông qua việc thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp theo quy định pháp luật.

            Pháp luật không quy định tỷ lệ sở hữu vốn tối thiểu để xác định doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Do đó, doanh nghiệp có nhà đầu tư nước ngoài sở hữu 1%, 30%, 51% hoặc 100% vốn điều lệ đều được xác định là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

            Về tỷ lệ sở hữu vốn và điều kiện thực hiện hoạt động đầu tư

            Theo khoản 1 Điều 20 Luật Đầu tư năm 2025, tổ chức kinh tế phải đáp ứng điều kiện và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện các hoạt động đầu tư được quy định tại Điều này nếu thuộc một trong các trường hợp:

            -        Có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài đối với công ty hợp danh;

            -        Có tổ chức kinh tế thuộc trường hợp nêu trên nắm giữ trên 50% vốn điều lệ;

            -        Có nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế thuộc trường hợp thứ nhất cùng nắm giữ trên 50% vốn điều lệ.

            Theo khoản 2 Điều 20 Luật này, tổ chức kinh tế không thuộc các trường hợp nêu trên thực hiện điều kiện và thủ tục đầu tư theo quy định đối với nhà đầu tư trong nước khi thực hiện các hoạt động đầu tư quy định tại khoản này.

            Ngoài ra, việc nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp, góp vốn, mua cổ phần hoặc mua phần vốn góp phải đáp ứng các điều kiện tiếp cận thị trường và quy định pháp luật có liên quan theo Điều 8, Điều 19 và Điều 21 Luật Đầu tư năm 2025.

            Do đó, Doanh nghiệp được xác định là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông, không phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp tối thiểu. Tuy nhiên, tỷ lệ sở hữu vốn nước ngoài có ý nghĩa trong việc xác định điều kiện và thủ tục đầu tư mà doanh nghiệp phải thực hiện theo quy định pháp luật.

            Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

            Công ty Luật TNHH T2H

            Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

            VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

            Tel: 02422429900 – 0989656682

            E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

            Trân trọng!

          • Tổ chức kinh tế có được giao đất làm dự án hạ tầng khu công nghiệp không?

            Tổ chức kinh tế có được giao đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp

            Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời

            • 16/10/2026

            Tổ chức kinh tế có được giao đất làm dự án hạ tầng khu công nghiệp không?

            Chào bạn,

            Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:

            1. Về hình thức sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp

            Theo khoản 2 Điều 202 Luật Đất đai năm 2024:

            “Nhà nước cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp.”

            Đồng thời, khoản 1 Điều 120 Luật Đất đai năm 2024 quy định về hình thức Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê hoặc thu tiền thuê đất hằng năm.

            Như vậy, tổ chức kinh tế được Nhà nước xem xét cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật, không thuộc trường hợp được Nhà nước giao đất để thực hiện loại dự án này.

            Riêng trường hợp quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 202 Luật Đất đai năm 2024, Nhà nước có thể giao đất hoặc cho thuê đất đối với đơn vị sự nghiệp công lập để đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp tại các địa bàn được quy định khi không thu hút được nhà đầu tư.

            2. Về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất

            Theo điểm b khoản 1 Điều 121 Luật Đất đai năm 2024, việc chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp thuộc trường hợp phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

            Do đó, trường hợp diện tích đất dự kiến thực hiện dự án đang có mục đích sử dụng khác với mục đích đất khu công nghiệp thì phải xác định loại đất hiện tại để xem xét có thuộc trường hợp phải được phép chuyển mục đích sử dụng đất theo Điều 121 Luật Đất đai năm 2024 hay không.

            Việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất phải đáp ứng các căn cứ, điều kiện theo Điều 116, Điều 122 Luật Đất đai năm 2024 và các quy định có liên quan tại Nghị quyết số 254/2025/QH15.

            Đồng thời, việc quản lý, sử dụng đất khu công nghiệp phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo khoản 1 Điều 202 Luật Đất đai năm 2024.

            Trường hợp tổ chức kinh tế có nhu cầu thực hiện dự án, cần xác định cụ thể nguồn gốc, hiện trạng pháp lý, mục đích sử dụng đất, quy hoạch và hồ sơ pháp lý của dự án để thực hiện thủ tục đầu tư, thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất (nếu thuộc trường hợp phải xin phép) theo quy định.

            Do đó, Tổ chức kinh tế có thể được Nhà nước cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, nhưng không được giao đất theo cơ chế áp dụng đối với dự án này. Việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất được xem xét riêng trên cơ sở loại đất hiện có, quy hoạch và các điều kiện pháp luật có liên quan.

            Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

            Công ty Luật TNHH T2H

            Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

            VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

            Tel: 02422429900 – 0989656682

            E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

            Trân trọng!

             

          • Tuyển dụng viên chức Điều dưỡng năm 2020 có được cộng dồn 13 năm làm Hộ sinh trước đó để xếp lương không?

            Kính chào các Luật sư, tôi xin được tư vấn về việc xếp lương viên chức y tế theo Nghị định 161/2018/NĐ-CP với các mốc thời gian cụ thể như sau: • Từ 2005 - 04/2018 (13 năm): Tôi làm Hộ sinh trung cấp tại Trạm y tế xã, đóng BHXH bắt buộc liên tục. Tháng 4/2018, tôi thôi việc theo nguyện vọng (hợp pháp, đúng quy trình). • Tháng 10/2018: Tôi tốt nghiệp trình độ Điều dưỡng Cao đẳng. • Năm 2019 (1 năm): Tôi làm Hợp đồng Điều dưỡng (diện dân sự) tại một Bệnh viện Quân đội, có đóng BHXH bắt buộc. • Tháng 01/2020: Tôi trúng tuyển viên chức chức danh Điều dưỡng tại một Bệnh viện đa khoa huyện. Vướng mắc hiện tại: Khi ra quyết định viên chức vào tháng 01/2020, Phòng Tổ chức cán bộ của Bệnh viện huyện chỉ tính nối tiếp lương cho 1 năm làm Điều dưỡng hợp đồng (năm 2019), còn từ chối cộng dồn 13 năm làm Hộ sinh trước đó (2005 - 2018) với lý do Hộ sinh và Điều dưỡng là hai chuyên ngành khác nhau. Do đó, tôi bị xếp vào Điều dưỡng hạng IV, Bậc 1 (mức lương khởi điểm). Câu hỏi xin tư vấn: 1. Đối chiếu với Khoản 5 Điều 19 Nghị định 161/2018/NĐ-CP và Thông tư 13/2018/TT-BNV, lập luận "khác tên chuyên ngành" của bệnh viện để cắt bỏ 13 năm đóng BHXH làm Hộ sinh của tôi có đúng quy định pháp luật không? (Khi cả hai chức danh đều thuộc chung Thông tư liên tịch 26/2015/TTLT-BYT-BNV và có tính chất chăm sóc y tế tương đương). 2. Tôi cần nộp đơn kiến nghị đến cấp nào (Bệnh viện hay Sở Y tế) để được giải quyết quy đổi bậc lương đúng và truy lĩnh phần lương bị thiếu từ năm 2020 đến nay? Tôi xin chân thành cảm ơn các Luật sư!

            Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời

            • 15/10/2026

            Tuyển dụng viên chức Điều dưỡng năm 2020 có được cộng dồn 13 năm làm Hộ sinh trước đó để xếp lương không?

            Chào bạn,

            Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:

            Chào bạn,

            Căn cứ thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin tư vấn như sau:

            1. Về việc cộng dồn 13 năm công tác với chức danh Hộ sinh để xếp lương viên chức Điều dưỡng

            Tại thời điểm bạn được tuyển dụng viên chức tháng 01/2020, việc xác định thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc để xếp lương được thực hiện theo khoản 4 Điều 14 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 7 Điều 2 Nghị định số 161/2018/NĐ-CP.

            Theo đó, trường hợp người được tuyển dụng, tiếp nhận vào viên chức được bố trí làm việc theo đúng ngành, nghề đào tạo hoặc theo đúng chuyên môn nghiệp vụ trước đây đã đảm nhiệm thì thời gian công tác có đóng BHXH bắt buộc trước ngày tuyển dụng được tính làm căn cứ xếp lương theo chức danh nghề nghiệp phù hợp với vị trí việc làm được tuyển dụng. Trường hợp thời gian đóng BHXH không liên tục mà chưa nhận trợ cấp BHXH một lần thì được cộng dồn.

            Đối chiếu với trường hợp của bạn, chức danh Hộ sinh hạng IV (mã số V.08.06.16) và Điều dưỡng hạng IV (mã số V.08.05.13) là hai chức danh nghề nghiệp khác nhau theo Điều 2 Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV.

            Tuy nhiên, việc hai chức danh có tên gọi và mã số khác nhau không phải là căn cứ loại trừ toàn bộ thời gian công tác trước đây. Cơ quan có thẩm quyền cần xem xét chuyên môn nghiệp vụ, nhiệm vụ thực tế đã đảm nhiệm, trình độ đào tạo và yêu cầu của vị trí việc làm được tuyển dụng.

            Do đó, chưa đủ cơ sở khẳng định việc bệnh viện không tính 13 năm công tác với chức danh Hộ sinh là đúng hoặc trái pháp luật khi chưa xem xét hồ sơ tuyển dụng, mô tả vị trí việc làm và các tài liệu liên quan.

            2. Về việc xếp lương Điều dưỡng hạng IV, bậc 1 năm 2020

            Theo điểm c khoản 1 Điều 15 Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV, chức danh nghề nghiệp Điều dưỡng hạng IV được áp dụng hệ số lương viên chức loại B.

            Đặc biệt, điểm c khoản 2 Điều 15 Thông tư này quy định trường hợp có trình độ cao đẳng Điều dưỡng được xếp bậc 2, hệ số lương 2,06 của chức danh nghề nghiệp Điều dưỡng hạng IV sau khi hết thời gian tập sự và được cấp có thẩm quyền quyết định bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp.

            Ngoài ra, khoản 5 Điều 20 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP, được bổ sung bởi khoản 11 Điều 2 Nghị định số 161/2018/NĐ-CP, quy định trường hợp người được tuyển dụng có thời gian công tác đóng BHXH bắt buộc, được bố trí làm việc theo đúng ngành, nghề đào tạo hoặc chuyên môn nghiệp vụ trước đây đã đảm nhiệm và đáp ứng thời gian công tác theo quy định thì không phải thực hiện chế độ tập sự.

            Như vậy, bạn đã có bằng cao đẳng Điều dưỡng từ tháng 10/2018 và có thời gian làm công việc Điều dưỡng, đóng BHXH bắt buộc trong năm 2019. Đây là cơ sở để đề nghị bệnh viện xem xét việc miễn tập sự và xác định lại bậc lương khi bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp năm 2020.

            Trường hợp đã đủ điều kiện được bổ nhiệm và hưởng lương theo trình độ cao đẳng Điều dưỡng nhưng bệnh viện vẫn xếp bậc 1, hệ số 1,86 thì có cơ sở đề nghị xem xét, điều chỉnh việc xếp lương theo điểm c khoản 2 Điều 15 Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV.

            Đối với thời gian làm Điều dưỡng năm 2019, việc tính thời gian này để xác định bậc lương và thời điểm nâng bậc lương tiếp theo phải căn cứ vào thời gian đóng BHXH được tính, hồ sơ tuyển dụng và quyết định xếp lương cụ thể.

            3. Về thủ tục đề nghị xem xét lại việc xếp lương và truy lĩnh tiền lương

            Bạn có thể xem xét gửi Đơn đề nghị rà soát, điều chỉnh việc xếp lương viên chức đến Giám đốc bệnh viện nơi đang công tác hoặc đơn vị có thẩm quyền quản lý viên chức sau khi tổ chức lại.

            Kèm theo đơn là hồ sơ công tác giai đoạn 2005–2018, văn bằng chuyên môn, tài liệu xác nhận thời gian đóng BHXH, hợp đồng làm việc năm 2019, quyết định tuyển dụng, quyết định bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp, quyết định xếp lương và các quyết định nâng bậc lương từ năm 2020 đến nay.

            Trường hợp bệnh viện không có thẩm quyền quyết định điều chỉnh hoặc kết quả giải quyết chưa phù hợp, bạn có thể gửi văn bản kiến nghị đến cơ quan có thẩm quyền quản lý viên chức cấp trên, bao gồm Sở Y tế nếu bệnh viện thuộc phạm vi quản lý của Sở, để đề nghị kiểm tra, xem xét theo thẩm quyền.

            Nếu kết quả rà soát xác định việc xếp lương trước đây không đúng quy định, bạn có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh quyết định xếp lương, xác định lại thời điểm nâng bậc lương và giải quyết khoản chênh lệch tiền lương, phụ cấp phát sinh theo quy định pháp luật.

            Đối với yêu cầu truy lĩnh tiền lương từ năm 2020 đến nay, cần căn cứ vào kết quả xác định việc xếp lương không đúng, thời điểm được điều chỉnh và các quy định pháp luật có liên quan. Việc điều chỉnh bậc lương không đồng nghĩa với việc đương nhiên được truy lĩnh toàn bộ khoản chênh lệch trong mọi trường hợp.

            è Bạn có cơ sở đề nghị cơ quan có thẩm quyền rà soát việc không tính 13 năm công tác với chức danh Hộ sinh và việc xếp lương Điều dưỡng hạng IV, bậc 1 năm 2020. Tuy nhiên, để xác định chính xác quyền lợi, cần kiểm tra quyết định tuyển dụng, quyết định bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp, hệ số lương được xếp và hồ sơ quá trình công tác có đóng BHXH.

            Để có cơ sở tư vấn chính xác hơn, bạn vui lòng cung cấp thêm một số thông tin sau:

            1.     Trong giai đoạn 2005–04/2018, bạn làm Hộ sinh theo hợp đồng lao động hay đã được tuyển dụng vào viên chức? Khi thôi việc, bạn có nhận BHXH một lần không?

            2.     Trong 13 năm làm Hộ sinh, bạn có thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn của Điều dưỡng không?

            3.     Năm 2019, bạn làm Điều dưỡng hợp đồng tại Bệnh viện Quân đội cụ thể từ tháng nào đến tháng nào?

            4.     Khi trúng tuyển viên chức tháng 01/2020, vị trí tuyển dụng yêu cầu trình độ trung cấp hay cao đẳng Điều dưỡng?

            5.     Sau khi trúng tuyển, bạn có phải thực hiện chế độ tập sự không?

            6.     Việc bệnh viện từ chối cộng dồn 13 năm công tác với chức danh Hộ sinh đã được trả lời bằng văn bản hay chỉ trao đổi trực tiếp? Hiện tại bạn đang hưởng bậc lương và hệ số lương bao nhiêu?

            Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

            Công ty Luật TNHH T2H

            Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

            VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

            Tel: 02422429900 – 0989656682

            E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

            Trân trọng!

             

          • Làm thời vụ bị nợ lương

            em có đi làm ở công ty bánh kẹo kinh đô được 3 tháng (t6+t7+t8), nhưng em làm thời vụ, ko tuyển trực tiếp từ cty mà qua nhà thầu. Em có đi làm đầy đủ, 2 tháng đầu thì cty và nhà thầu có trả lương cho em nhưng toàn trả chậm. Đến gần cuối t8 e ko đi làm nữa và e có báo nhà thầu và cty e xin nghỉ làm. Thì nhà thầu có bảo lương t8 của e sẽ đến 15/9 mới trả. 15/9 e gọi điện hỏi thì lại bảo cuối tháng. Cuối tháng e gọi thì lại ko nghe máy, nhắn tin cũng ko trả lời. Đầu t10 e gọi thì bảo 15/10 sẽ trả nhưng đến hnay vẫn chưa thấy gì. E có nhắn và trình bày với bên cty kinh đô thì họ cũng chỉ nói chung chung là đang làm việc với nhà thầu để trả lương cho e. E muốn hỏi anh làm thế nào để mình lấy được lương ạ?

            Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời

            • 15/10/2026

            Làm thời vụ bị nợ lương

            Chào bạn,

            Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:

            1. Về nghĩa vụ thanh toán tiền lương

            Theo khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019, trường hợp các bên có thỏa thuận về việc làm có trả công, tiền lương và có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được xác định là quan hệ lao động, không phụ thuộc vào tên gọi của thỏa thuận.

            Đồng thời, theo Điều 94 và Điều 97 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động có nghĩa vụ trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động.

            Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định, trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, các bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền liên quan đến quyền lợi của mỗi bên. Một số trường hợp được kéo dài thời hạn thanh toán nhưng không quá 30 ngày.

            Như vậy, nếu bạn đã chấm dứt quan hệ lao động vào cuối tháng 8/2026 thì việc đến ngày 15/10/2026 vẫn chưa được thanh toán tiền lương tháng 8 là không phù hợp với quy định về thời hạn thanh toán tiền lương.

            2. Về trách nhiệm của nhà thầu và Công ty Kinh Đô

            Do bạn được tuyển dụng thông qua nhà thầu, cần xác định quan hệ pháp lý giữa nhà thầu, Công ty Kinh Đô và người lao động.

            Trường hợp nhà thầu là doanh nghiệp cho thuê lại lao động thì căn cứ Điều 52 và Điều 56 Bộ luật Lao động năm 2019, doanh nghiệp cho thuê lại lao động có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả lương cho người lao động theo quy định.

            Trường hợp Công ty Kinh Đô sử dụng lao động thông qua người cai thầu hoặc người trung gian tương tự thì theo khoản 2 Điều 100 Bộ luật Lao động năm 2019, nếu người trung gian không trả hoặc trả không đầy đủ tiền lương và không bảo đảm các quyền lợi khác của người lao động, người sử dụng lao động là chủ chính phải chịu trách nhiệm trả lương và bảo đảm quyền lợi cho người lao động.

            Do đó, cần làm rõ hình thức sử dụng lao động để xác định trách nhiệm của từng bên, không mặc nhiên loại trừ trách nhiệm của Công ty Kinh Đô.

            Để yêu cầu thanh toán tiền lương tháng 8/2026:

            Thứ nhất, thu thập tài liệu, chứng cứ: Bao gồm tin nhắn tuyển dụng, bảng chấm công, sao kê nhận lương tháng 6 và tháng 7, tin nhắn thông báo nghỉ việc, tin nhắn nhà thầu xác nhận thời hạn thanh toán tiền lương và các tài liệu chứng minh quá trình làm việc tại công ty.

            Thứ hai, gửi văn bản yêu cầu thanh toán: Bạn nên gửi văn bản đến nhà thầu, nêu rõ thời gian làm việc, số tiền lương chưa được thanh toán, các lần cam kết thanh toán và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trong thời hạn cụ thể. Đồng thời, gửi văn bản đến Công ty Kinh Đô để đề nghị xác minh quan hệ sử dụng lao động, phối hợp giải quyết.

            Thứ ba, đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết: Trường hợp nhà thầu tiếp tục không thực hiện nghĩa vụ, bạn có thể gửi đơn phản ánh đến Sở Nội vụ nơi phát sinh vụ việc để đề nghị kiểm tra, xem xét hành vi vi phạm pháp luật lao động.

            Theo khoản 2 và khoản 5 Điều 23 Nghị định số 283/2026/NĐ-CP, hành vi trả lương không đúng hạn, không trả hoặc trả không đủ tiền lương có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, đồng thời áp dụng biện pháp buộc trả đủ tiền lương và khoản tiền lãi theo quy định.

            Thứ tư, yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động: Nếu các bên không thỏa thuận được, bạn có thể gửi đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp lao động đến Sở Nội vụ hoặc cơ quan chuyên môn về nội vụ thuộc UBND cấp xã có thẩm quyền để được cử hòa giải viên lao động theo Điều 75 Nghị định số 129/2025/NĐ-CP.

            Trường hợp hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải mà hòa giải viên không tiến hành hòa giải, bạn có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo Điều 188 Bộ luật Lao động năm 2019.

            Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

            Công ty Luật TNHH T2H

            Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

            VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

            Tel: 02422429900 – 0989656682

            E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

            Trân trọng!

          • Xử lý thế nào khi nhà lân cận thi công gây nứt tường?

            Nhà bên cạnh xây dựng làm nứt tường nhà tôi, tôi phải làm gì?

            Luật sư Lê Thị Thu Hương đã trả lời

            • 15/10/2026

            Xử lý thế nào khi nhà lân cận thi công gây nứt tường?

            Chào bạn,

            Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:

            “Điều 174. Nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng

            Khi xây dựng công trình, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải tuân theo pháp luật về xây dựng, bảo đảm an toàn, không được xây vượt quá độ cao, khoảng cách mà pháp luật về xây dựng quy định và không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản là bất động sản liền kề và xung quanh”.

            Căn cứ Điều 174 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi xây dựng công trình, chủ sở hữu phải tuân thủ quy định pháp luật về xây dựng, bảo đảm an toàn và không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu bất động sản liền kề.

            Đồng thời, theo Điều 584 và Điều 605 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp việc thi công xây dựng gây thiệt hại cho nhà ở liền kề thì chủ thể có trách nhiệm phải bồi thường theo quy định pháp luật. Nếu người thi công có lỗi trong việc để công trình gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường.

            Theo Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, thiệt hại được bồi thường bao gồm tài sản bị hư hỏng, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại và các thiệt hại khác theo quy định pháp luật.

            Theo đó, nếu có căn cứ xác định việc thi công của nhà bên cạnh là nguyên nhân gây nứt tường nhà bạn thì bạn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, bao gồm chi phí sửa chữa, khắc phục những hư hỏng thực tế.

            Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình:

            - Thứ nhất, chụp ảnh, quay video hiện trạng các vết nứt, ghi nhận thời điểm phát sinh hư hỏng và thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh tình trạng nhà ở trước khi công trình liền kề thi công.

            - Thứ hai, liên hệ chủ sở hữu công trình bên cạnh để yêu cầu phối hợp kiểm tra hiện trạng, lập biên bản ghi nhận thiệt hại và thỏa thuận phương án khắc phục, bồi thường.

            - Thứ ba, trường hợp có tranh chấp về nguyên nhân hoặc mức độ thiệt hại, bạn có thể đề nghị đơn vị có chuyên môn thực hiện kiểm định, đánh giá hiện trạng để xác định nguyên nhân gây nứt tường và chi phí khắc phục.

            - Thứ tư, nếu bên thi công không hợp tác hoặc tiếp tục thi công gây mất an toàn, bạn có thể gửi đơn phản ánh, đề nghị UBND cấp xã nơi có công trình kiểm tra, xử lý theo thẩm quyền. Trường hợp không thỏa thuận được về bồi thường, bạn có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết.

            Ngoài ra, theo Điều 51 Luật Xây dựng năm 2025 và Điều 10 Nghị định số 207/2026/NĐ-CP, việc thi công xây dựng phải bảo đảm an toàn cho công trình và các công trình liền kề, lân cận. Trường hợp xuất hiện dấu hiệu mất an toàn, bạn cần kịp thời yêu cầu chủ công trình thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn và đề nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xử lý.

            Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

            Công ty Luật TNHH T2H

            Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

            VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

            Tel: 02422429900 – 0989656682

            E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

            Trân trọng!

             

          • First
          • 1
          • 2
          • 3
          • 4
          • 5
          • ...
          • Last

          Đánh giá (Rating) của iLAW

          1. Hệ thống Đánh giá (Rating) trên iLAW hoạt động như thế nào

          iLAW đưa ra Đánh giá (Rating) dựa trên các thông tin do Luật sư cung cấp trong trang cá nhân của Luật sư và các thông tin mà iLAW thu thập được (ví dụ, các thông tin do Đoàn Luật sư, Liên đoàn Luật sư hoặc các Sở tư pháp công bố...). Thêm vào đó, thuật toán thông minh (Smart Agorithm) trên hệ thống iLAW cũng nhận diện và tự động cập nhật thường xuyên những thay đổi (tăng hoặc giảm) của Đánh giá (Rating). 

          2. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến Đánh giá (Rating) của iLAW

          Kinh nghiệm và bằng cấp

          Số năm kinh nghiệm hành nghề của Luật sư, học vấn, bằng cấp chuyên môn hoặc các bằng cấp trong các lĩnh vực liên quan mà Luật sư đạt được.

          Thành tựu trong nghề nghiệp

          Các giải thưởng, vinh danh, bằng khen…của cá nhân Luật sư hoặc của văn phòng/công ty nơi Luật sư làm việc.

          Danh tiếng và uy tín trong nghề

          Mức độ tích cực của các Nhận xét (reviews) và đánh giá sao (từ 1 sao đến 5 sao) chất lượng dịch vụ pháp lý từ khách hàng cũ và Đánh giá của luật sư đồng nghiệp đối với Luật sư.

          Đóng góp cho nghề

          Luật sư có xuất bản các sách chuyên ngành pháp lý, các bài viết, chia sẻ quan điểm pháp lý trên các báo, tạp chí, các tham luận, trình bày tại các hội thảo chuyên ngành pháp lý...

          Đóng góp cho cộng đồng

          Luật sư tích cực tham gia trả lời miễn phí các Câu hỏi của khách hàng, chia sẻ miễn phí các thông tin pháp lý hữu ích, các biểu mẫu, mẫu hợp đồng cho khách hàng trên iLAW.

          3. Các mức độ của Đánh giá (Rating) của iLAW

          Kết quả Đánh giá (Rating) trên hệ thống iLAW được chia làm 04 mức độ tương ứng, phản ánh thông tin toàn diện về Luật sư và chất lượng cũng như uy tín của dịch vụ pháp lý mà Luật sư cung cấp:

          10 - 9.0: Xuất sắc 

          8.9 - 8.0: Rất tốt 

          7.9 - 7.0: Tốt 

          6.9 - 6.0: Trung bình

          • Về chúng tôi
          • Điều khoản sử dụng
          • Dành cho người dùng
          • Dành cho Luật sư
          • Chính sách bảo mật
          • Nội quy trang Nhận xét
          • Đánh giá của iLAW

          Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Pháp Lý Thông Minh

          Tầng 6,7 Toà nhà Friendship, số 31 Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

          Điện thoại: (028) 7303 2868

          Email: cskh@i-law.vn

          GCNĐKKD số 0314107106 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TPHCM cấp ngày 10/11/2016

          iLAW chỉ cung cấp thông tin và nền tảng công nghệ để bạn sử dụng thông tin đó. Chúng tôi không phải là công ty luật và không cung cấp dịch vụ pháp lý. Bạn nên tham vấn ý kiến Luật sư cho vấn đề pháp lý mà bạn đang cần giải quyết. Vui lòng tham khảo Điều khoản sử dụng và Chính sách bảo mật khi sử dụng website.

          © iLAW Inc. All Rights Reserved 2019