Lê Tuấn Anh
Tổng cộng: 148
-
THỦ TỤC CẤP SỔ HỒNG LẦN ĐẦU NHƯNG BỊ CHỒNG LẤN TOẠ ĐỘ VỚI NHÀ BÊN CẠNH ĐÃ CÓ SỔ HỒNG
Nhà tôi đang muốn đăng ký cấp sổ hồng lần đầu và đã có bản vẽ năm 2017 (đã được duyệt bởi Văn phòng đăng ký đất đai Quận Thủ Đức cũ). Tuy nhiên, khi nộp hồ sơ cùng bản vẽ đó thì lại bị thông báo PHẦN ĐẤT ĐỀ NGHỊ CẤP SỔ LẠI CÓ MỘT PHẦN THUỘC THỬA ĐẤT NHÀ BÊN CẠNH ĐÃ ĐƯỢC CẤP SỔ. Khi lên trực tiếp phòng địa chính (ở UBND phường) thì lại được chỉ ra trên hệ thống là chống lấn toạ độ trên bản đồ với nhà bên cạnh. Câu hỏi: NAY TÔI NÊN PHẢI LÀM TỪNG BƯỚC CỤ THỂ NHƯ THẾ NÀO ĐỂ THÀNH CÔNG ĐƯỢC CẤP SỔ HỒNG LẦN ĐẦU? Tôi xin cảm ơn Quý luật sư!
Luật sư Lê Tuấn Anh đã trả lời
THỦ TỤC CẤP SỔ HỒNG LẦN ĐẦU NHƯNG BỊ CHỒNG LẤN TOẠ ĐỘ VỚI NHÀ BÊN CẠNH ĐÃ CÓ SỔ HỒNG
Chào bạn,
Theo thông tin bạn cung cấp thì theo Điều 26 Luật Đất đai 2024:
“Điều 26. Quyền chung của người sử dụng đất
1. Được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai.
...
5. Được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình.
...
8. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.”
Vậy nên, trường hợp của bạn mặc dù chưa được cấp sổ nhưng vẫn có quyền được Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp đối với phần đất mình đang sử dụng. Việc cần làm trước tiên là kiểm tra ranh giới thực tế, hồ sơ cấp sổ của nhà bên cạnh, dữ liệu bản đồ để xác định chồng lấn do sai tọa độ. Bạn nên làm lần lượt như sau:
- Yêu cầu thông báo bằng văn bản từ nơi tiếp nhận hồ sơ: phần nào bị chồng lấn, diện tích chồng lấn là bao nhiêu, dựa trên bản đồ và hồ sơ nào, đồng thời nêu rõ lý do tại sao hồ sơ của bạn chưa giải quyết được.
- Sau đó, bạn cần thu thâp các giấy tờ chứng mình nguồn gốc đất: giấy tờ mua bán, chuyển nhượng đất (nếu có), biên lai nộp thuế sử dụng đất hàng năm, xác nhận của chính quyền địa phương về việc sử dụng đất ổn định, lâu dài, xác nhận của các hàng xóm xung quanh về xác nhận quá trình sử dụng đất.
- Tiếp theo, bạn nên nộp đơn yêu cầu đo đạc lại thửa đất để thực hiện đo lường thực tế. Nếu kết quả đo đạc cho thấy thực tế có chồng lấn ranh giới, bạn nên chủ động làm việc với chủ nhà bên cạnh để thương lượng đi đến thống nhất dựa trên hiện trạng thực tế và chứng cứ giấy tờ. Khi không đạt được thỏa thuận, bạn nộp đơn yêu cầu hòa giải tại cơ sở.
- Nếu hòa giải không thành thì có thể nộp đơn khiếu nại lên UBND hoặc khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền để giải quyết.
Trong suốt quá trình làm việc, bạn nhớ giữ mọi văn bản và phiếu nhận hồ sơ có ghi ngày tháng; nếu cơ quan chậm hoặc từ chối trả lời, bạn có quyền yêu cầu trả lời bằng văn bản hoặc khiếu nại.
Nếu bạn muốn tư vấn cụ thể hơn về vấn đề này, hãy liên hệ trực tiếp với Luật sư để trình bày sự việc.
Số điện thoại: 0919.989.876 (Luật sư Tuấn Anh).
Luật sư chờ phản hồi từ bạn.
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình:
Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp với luật sư qua số điện thoại 091 998 9876
- Luật sư tư vấn miễn phí;
- Luật sư tư vấn hướng giải quyết, nhận định pháp lý;
- Phí dịch vụ luật sư công khai, minh bạch.
NHẤN ĐỂ GỌI LUẬT SƯ: 091 998 9876
- Địa chỉ: Số 203 Cộng Hoà, phường Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Điện thoại: 091 998 9876
- Website: https://luậtsư.net/
-
Diện tích hưởng ưu đãi đối với người có công
Theo nghị định 131/2021/NĐ-CP, người có công được nhà nược tăng Huân chương kháng chiến được giảm 70% tiền SDĐ đối với diện tích trong hạn mức. Vậy tôi hỏi diện dích trong hạn mức ở đây chỉ tính phần diện tích xin chuyển đổi thực tế lần này chứ không cộng dồn diện tích đất ở đã có trước? Ví dụ: Tôi là người được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến, hiện tôi có thưởng đất rộng 250m2 trong đó có 150m2 là đất ở và 100m2 là đất CLN, vậy giời tôi xin chuyển 100m2 đất CLN lên đất ở thì toàn bộ diện tích 100m2 trên có được giảm 70% không? (Biết rằng hạn mức giao đất ở tại địa phương là 160m2). Xin cảm ơn luật sư.
Luật sư Lê Tuấn Anh đã trả lời
Diện tích hưởng ưu đãi đối với người có công
Chào bạn,
Về chế độ giảm tiền sử dụng đất đối với người được tặng Huân chương kháng chiến
Theo điểm c khoản 3 Điều 105 Nghị định 131/2021/NĐ-CP
“Giảm 70% tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở khi Nhà nước giao đất ở, chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở, công nhận quyền sử dụng đất ở, khi được mua nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước đối với các đối tượng sau:
c) Người được tặng hoặc người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước” trước cách mạng tháng Tám năm 1945, người được tặng hoặc người trong gia đình được tặng Huân chương kháng chiến.”
Ngoài ra, khoản 1 Điều 17 Nghị định 103/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 5 Điều 1 Nghị định 291/2025/NĐ-CP, quy định
“Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng được miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 18, Điều 19 Nghị định này chỉ được miễn hoặc giảm một lần tiền sử dụng đất đối với diện tích đất trong hạn mức giao đất ở khi được Nhà nước giao đất để làm nhà ở hoặc được phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất khác sang đất ở hoặc được công nhận vào mục đích đất ở theo quy định của pháp luật về đất đai.”
Theo khoản 4 Điều 19 Nghị định 103/2024/NĐ-CP về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất
“Giảm tiền sử dụng đất đối với đất ở trong hạn mức giao đất ở (bao gồm giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận cho người đang sử dụng đất) đối với người có công với cách mạng mà thuộc diện được giảm tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về người có công.”
Như vậy, Huân chương kháng chiến thuộc nhóm được giảm 70%, và mức giảm này áp dụng cả khi chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở.
Về diện tích “trong hạn mức”: có phải trừ 150m2 đất ở đã có không?
Khoản 3 Điều 105 Nghị định 131/2021/NĐ-CP chỉ quy định giảm tiền sử dụng đất “trong hạn mức giao đất ở khi chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở”. Điều khoản này và Điều 19 Nghị định 103/2024/NĐ-CP không có quy định phải cộng phần đất ở đang sử dụng vào hạn mức rồi trừ ra. Hạn mức ở đây được đối chiếu với phần diện tích được phép chuyển mục đích.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 6 Nghị định 50/2026/NĐ-CP
“Hạn mức giao đất ở để tính tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất được xác định như sau:
a) Hạn mức giao đất ở để tính tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều này là hạn mức giao đất ở do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định theo quy định của pháp luật về đất đai được áp dụng tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”
Trường hợp của bạn: 100m2 xin chuyển nhỏ hơn hạn mức giao đất ở 160m2, nên toàn bộ 100m2 nằm trong hạn mức và được giảm 70%. Phần giảm tính trên số tiền sử dụng đất phải nộp khi chuyển mục đích.
Bạn muốn tư vấn cụ thể hãy liên hệ trực tiếp với Luật sư trình bày sự việc cụ thể. Số điện thoại Luật sư 0919.989.876 (Luật sư Tuấn Anh).
Luật sư chờ phản hồi từ bạn
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình:
Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp với luật sư qua số điện thoại 091 998 9876
- Luật sư tư vấn miễn phí;
- Luật sư tư vấn hướng giải quyết, nhận định pháp lý;
- Phí dịch vụ luật sư công khai, minh bạch.
NHẤN ĐỂ GỌI LUẬT SƯ: 091 998 9876
- Địa chỉ: Số 203 Cộng Hoà, phường Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Điện thoại: 091 998 9876
- Website: https://luậtsư.net/
-
Đặt cọc
Dạ con chào cô chú, hiện tại con có thuê nhà và đặt cọc trước với số tiền là 4tr và chưa ký bất kỳ hợp đồng nào con xin lấy lại tiền cọc ngay trong ngày nhưng bên môi giới lại đòi 2tr tiền phí, cho con hỏi việc này có đúng luật ko ạ và có cách nào để con lấy lại toàn bộ tiền cọc ko ạ
Luật sư Lê Tuấn Anh đã trả lời
Đặt cọc
Chào bạn,
Bên môi giới không thể tự ý giữ 2 triệu đồng và gọi đó là “phí môi giới” nếu trước đó bạn chưa đồng ý trả khoản phí này. Tuy nhiên, việc chưa ký hợp đồng thuê nhà không có nghĩa bạn chắc chắn được nhận lại toàn bộ 4 triệu đồng tiền cọc.
Theo Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, tiền đặt cọc nhằm bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Nếu bạn đã đặt cọc để giữ nhà, sau đó tự mình không tiếp tục thuê thì có thể mất tiền cọc, trừ khi hai bên có thỏa thuận khác.
Ngược lại, nếu khoản 4 triệu đồng chỉ là tiền giữ chỗ, hai bên có thỏa thuận được hoàn lại khi bạn không thuê, hoặc việc không ký hợp đồng xuất phát từ phía chủ nhà thì bạn có cơ sở yêu cầu hoàn tiền.
Đối với khoản 2 triệu đồng phí môi giới, cần xem trước khi giao tiền bạn và môi giới có thỏa thuận về khoản phí này hay không. Thỏa thuận có thể được thể hiện qua tin nhắn, lời nói hoặc hình thức khác theo Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015. Vì vậy, không phải cứ chưa ký hợp đồng thuê nhà là môi giới không được nhận phí; quan trọng là hai bên đã thỏa thuận về phí như thế nào.
Bạn nên lưu lại tin đăng, tin nhắn, nội dung chuyển khoản và toàn bộ trao đổi với môi giới. Đồng thời, yêu cầu môi giới xác định rõ:
- 4 triệu đồng đang được xác định là tiền cọc hay tiền giữ chỗ;
- 2 triệu đồng là khoản phí gì;
- Trước đó bạn có thỏa thuận trả khoản phí này hay không;
- Ai là người đang giữ 4 triệu đồng.
Nếu không có thỏa thuận về phí 2 triệu đồng, bạn có quyền yêu cầu giải thích căn cứ thu khoản tiền này và yêu cầu hoàn trả số tiền không có căn cứ.
Để xác định bạn có thể đòi lại toàn bộ 4 triệu đồng hay không, cần xem chính xác nội dung chuyển khoản, tin nhắn thỏa thuận đặt cọc và lý do bạn không tiếp tục thuê nhà.
Bạn muốn tư vấn cụ thể hãy liên hệ trực tiếp với Luật sư trình bày sự việc cụ thể. Số điện thoại Luật sư 0919.989.876 (Luật sư Tuấn Anh).
Luật sư chờ phản hồi từ bạn.
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình:
Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp với luật sư qua số điện thoại 091 998 9876
- Luật sư tư vấn miễn phí;
- Luật sư tư vấn hướng giải quyết, nhận định pháp lý;
- Phí dịch vụ luật sư công khai, minh bạch.
NHẤN ĐỂ GỌI LUẬT SƯ: 091 998 9876
- Địa chỉ: Số 203 Cộng Hoà, phường Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Điện thoại: 091 998 9876
- Website: https://luậtsư.net/
-
tố cáo
Cho em hỏi xíu có con kia nó tố cáo em là người ẩn danh chửi nó nhưng nó không có bằng chứng nhưng công an họ vẫn mời e lên làm việc Cụ thể là em lên công an thì họ lấy lời khai và em đi về Thì cho em hỏi em có thể tố ngược lại nó về tội vu khống không ạ
Luật sư Lê Tuấn Anh đã trả lời
tố cáo
Chào bạn,
Khi nào đủ yếu tố cấu thành Tội vu khống
Khoản 1 Điều 156 Bộ luật Hình sự
“a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.”
Hành vi vu khống đòi hỏi người tố cáo phải biết rõ sự thật là bạn không thực hiện hành vi nhưng vẫn cố ý bịa đặt, loan truyền điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc tố cáo bạn trước cơ quan nhà nước.
Có thể tố cáo ngược lại không?
Trường hợp người đó chỉ nghi ngờ và báo Công an xác minh, sau khi Công an mời bạn lên làm việc và xác định không có bằng chứng/không đủ căn cứ, Công an sẽ ra quyết định không khởi tố vụ án.
Nếu bạn có bằng chứng chứng minh người đó cố ý bịa đặt câu chuyện để vu khống bạn nhằm làm mất uy tín, ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, bạn có quyền làm Đơn tố giác tội phạm về Tội vu khống gửi Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an cấp tỉnh nơi xảy ra hành vi.
Bạn muốn tư vấn cụ thể hãy liên hệ trực tiếp với Luật sư trình bày sự việc cụ thể. Số điện thoại Luật sư 0919.989.876 (Luật sư Tuấn Anh).
Luật sư chờ phản hồi từ bạn.
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình:
Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp với luật sư qua số điện thoại 091 998 9876
- Luật sư tư vấn miễn phí;
- Luật sư tư vấn hướng giải quyết, nhận định pháp lý;
- Phí dịch vụ luật sư công khai, minh bạch.
NHẤN ĐỂ GỌI LUẬT SƯ: 091 998 9876
- Địa chỉ: Số 203 Cộng Hoà, phường Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Điện thoại: 091 998 9876
- Website: https://luậtsư.net/
-
Đặt cọc
Nhờ LS tư vấn ạ. Nhà e có bán mảnh đất năm 2022 có làm hợp đồng đặt cọc ở phòng công chứng, bên mua đã trả 2/3 số tiền còn 1/3 số tiền chưa trả giờ làm thế nào để lấy nốt số tiền kia ạ
Luật sư Lê Tuấn Anh đã trả lời
Đặt cọc
Chào bạn,
Trước hết, bạn cần kiểm tra hợp đồng để xác định:
(i) thời hạn thanh toán 1/3 còn lại;
(ii) khoản 2/3 đã nhận là tiền đặt cọc hay tiền thanh toán;
(iii) hai bên đã ký hợp đồng chuyển nhượng và sang tên chưa;
(iv) có điều khoản phạt vi phạm, hủy hợp đồng hay không.
Theo khoản 1 Điều 440 Bộ luật Dân sự
“Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địa điểm và mức tiền được quy định trong hợp đồng.”
Theo khoản 1 Điều 357 Bộ luật Dân sự
“Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.”
Nếu không có thỏa thuận thì lãi suất là 10%/năm theo khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự. Nếu hợp đồng có điều khoản phạt vi phạm thì áp dụng Điều 418.
Phương án 01: Thương lượng, gửi văn bản yêu cầu thanh toán
Bạn gửi văn bản yêu cầu bên mua thanh toán phần còn thiếu, ấn định thời hạn cụ thể (ví dụ 07 – 15 ngày), có thể kèm lãi chậm trả và lưu lại chứng cứ giao nhận. Nếu bên mua thừa nhận nợ hoặc hẹn trả, hãy lập thành văn bản.
Phương án 02: Khởi kiện tại tòa án
Tranh chấp về bất động sản thuộc thẩm quyền Tòa án nơi có bất động sản (điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015); từ 01/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực đảm nhận phần lớn thẩm quyền của Tòa án cấp huyện trước đây.
Nếu hết thời hạn mà bên mua vẫn không thanh toán, tùy nội dung hợp đồng bạn có thể căn cứ Điều 422, Điều 423 và Điều 428 Bộ luật Dân sự để đơn phương chấm dứt hoặc hủy bỏ hợp đồng.
Việc xử lý tiền cọc theo khoản 2 Điều 328
“...nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc...”
Bên đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng thì mất cọc, còn phần tiền đã thanh toán sẽ xử lý theo thỏa thuận và hậu quả hủy bỏ hợp đồng tại Điều 427.
Lưu ý về thời hiệu
Theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng là 03 năm kể từ ngày người có quyền biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Vì hợp đồng ký từ năm 2022, bạn cần xác định ngay thời điểm đến hạn thanh toán.
Bạn muốn tư vấn cụ thể hãy liên hệ trực tiếp với Luật sư trình bày sự việc cụ thể. Số điện thoại Luật sư 0919.989.876 (Luật sư Tuấn Anh).
Luật sư chờ phản hồi từ bạn.
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình:
Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp với luật sư qua số điện thoại 091 998 9876
- Luật sư tư vấn miễn phí;
- Luật sư tư vấn hướng giải quyết, nhận định pháp lý;
- Phí dịch vụ luật sư công khai, minh bạch.
NHẤN ĐỂ GỌI LUẬT SƯ: 091 998 9876
- Địa chỉ: Số 203 Cộng Hoà, phường Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Điện thoại: 091 998 9876
- Website: https://luậtsư.net/
-
giao thông
mình có vô tình gây ra tai nạn (mình ôt) và họ xe máy ,thì sau khi sảy ra tai nạn mình và gd đã đưa nạn nhân đi viện và chăm sóc suốt 20 ngày từ tuyến huyện gd họ yc chuyển lên tỉnh luôn túc trực ko bỏ ngày nào, mọi chi phí từ viện ăn uống đồ đoàn sữa thuốc men gd mình lo cả ,và gd nạn nhân cũng có yc là sau khi về nhà muốn gd mình hỗ trợ 1 chút ,thì mình có hỏi cụ thể là bn thì gd cứ 5lần 7 lượt bảo tuỳ lòng hảo tâm,vì nói nv gd mình rất áy náy nhiều thì ko có mà ít thì họ thiệt, nhà mình muốn xuống thăm và đưa tiền theo thủ tục dân tộc là đưa gà lợn làm vía (nhà mình cũng đã làm) và gd nạn nhân cứ cố tình kéo dây kéo chạc lúc bảo bận lúc bảo ko ở nhà nên gd mình rất khó khăn suốt 2 tháng trời từ bv về cứ cách 2-3 hôm là đem thúc ăn bánh trái qua thăm nay làm vía xong nhà mình thăm hỏi 10tr đồng và gd nạn nhân đòi mình 50tr (trc đó cứ bảo lòng hảo tâm) và gd quá bất ngờ ,họ vây lại bắt gd tôi phải nói rõ ngày tháng khất hẹn đưa 50tr đến gửi họ để họ ghi âm, và tình trạng sức khoẻ theo như tái khám ở bv tất cả đã ổn (gãy 3 x sươn và dập lách độ 2) đã bình thường tuy nhiên di chứng vẫn đau nhưng ko thiệt hại % thương tật nào . gd tôi có mong muốn xin nạn nhân giảm bớt nhưng họ nhất quyết ko cho .chưa kể sau 20 ngày ở bv về 3 ngày sau họ kêu quá mệt chúng tôi lại phải đưa nạn nhân đi viện và túc trực suốt 1 ngày đêm và kq là họ bị u xơ tử cung, thoái hoá đốt sống , và rối loạn tuần hoàn não , cao huyết áp .nên gd tôi xin đc về nhà họ biết bệnh thế cũng đồng ý .vì mẹ tôi ng chi chăm cũng rất mệt 20 ngày ko ăn ngủ đc sụt hẳn 5kg .nghĩ họ cũng hiểu cho nên ctoi về . ngày sảy ra tai nạn 2 gd đã kí cam kết cùng công an là 2 bên cùng thoả thuận ko kiện cáo ,nhưng họ đưa ra mức tiền 50tr ko cho chúng tôi xin xỏ gì , vậy trường hợp trên gd tôi có nhờ c an hay pháp luật hỗ trợ xử lý đc ko ạ
Luật sư Lê Tuấn Anh đã trả lời
giao thông
Chào bạn,
Về trách nhiệm hình sự
Điều 260 Bộ luật Hình sự chỉ đặt ra trách nhiệm hình sự khi hành vi vi phạm quy định an toàn giao thông gây hậu quả thuộc các trường hợp luật định.
Ví dụ, gây thương tích cho một người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên có thể thuộc điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Vì vậy, nếu nạn nhân hiện không có tỷ lệ tổn thương cơ thể thuộc trường hợp Điều 260 và không có tình tiết khác, vụ việc có thể chủ yếu được giải quyết về bồi thường dân sự.
Theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự
“Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”
Theo khoản 1 Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015
Phương tiện giao thông cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ, nên chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu phải bồi thường kể cả khi không có lỗi, trừ trường hợp luật định tại khoản 3 Điều này.
Tuy nhiên, mức bồi thường phải căn cứ vào thiệt hại thực tế và quy định pháp luật, không phải do một bên tự đưa ra.
Cụ thể, khoản 1 Điều 590 Bộ luật Dân sự, thiệt hại về sức khỏe gồm: chi phí hợp lý cứu chữa và phục hồi, thu nhập thực tế bị mất, chi phí hợp lý và thu nhập bị mất của người chăm sóc.
Theo khoản 2 Điều 590, tổn thất tinh thần do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở tại thời điểm giải quyết.
Do đó, không có căn cứ để mặc nhiên xác định gia đình bạn phải trả đúng 50 triệu đồng nếu nạn nhân không chứng minh được khoản thiệt hại tương ứng.
Khi vụ việc tai nạn giao thông xảy ra, Công an đã lập biên bản và ghi nhận cam kết tự thỏa thuận.
Trường hợp bên nạn nhân cố tình gài bẫy ghi âm, đe dọa, ép buộc hoặc sách nhiễu đòi tiền vượt quá thiệt hại thực tế, bạn hoàn toàn có thể trình báo/nhờ Cơ quan Công an hỗ trợ giải quyết.
Bạn muốn tư vấn cụ thể hãy liên hệ trực tiếp với Luật sư trình bày sự việc cụ thể. Số điện thoại Luật sư 0919.989.876 (Luật sư Tuấn Anh).
Luật sư chờ phản hồi từ bạn.
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình:
Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp với luật sư qua số điện thoại 091 998 9876
- Luật sư tư vấn miễn phí;
- Luật sư tư vấn hướng giải quyết, nhận định pháp lý;
- Phí dịch vụ luật sư công khai, minh bạch.
NHẤN ĐỂ GỌI LUẬT SƯ: 091 998 9876
- Địa chỉ: Số 203 Cộng Hoà, phường Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Điện thoại: 091 998 9876
- Website: https://luậtsư.net/
-
ly hôn
Tôi đã kết hôn được 6 năm và có 2 người con. Bé trai 6 tuổi và bé gái 3 tuổi. Năm nay tôi 24 tuổi và chồng 26 tuổi. Điều đặc biệt là tôi và chồng lấy nhau khi kinh tế chưa ổn định, mới ra trường đi xin việc nên hiện tại không gây duẹng được tài sản chung hay nợ chung nào cần tranh chấp. Tuy nhiên trong thời gian chung sống, suốt 6 năm thì chiếm 5 năm tôi lo phần lớn về kinh tế, từ sinh đẻ, tiền học, bỉm sữa, ăn uống gia đình,......thậm chí còn lo cho cả bố mẹ và các em chồng rất nhiều vật dụng, tiền bạc, nội thất, làm đẹp,...... Tôi còn mở quán trà sữa cho chồng bán, nhưng đã dẹp sau 4 tháng mở cửa. Ước tính tài sản tôi lo riêng cho nhà chồng đã là vài trăm triệu. Hiện tại tôi đã cạn kiệt tiền do 6 năm chi tiêu quá nhiều, tôi chỉ còn bàn tay trắng và chưa công việc ổn định. Thế nhưng vẫn có một vài khoản thu và sao kê ngân hàng phát sinh rằng tôi vẫn có chút thu nhập. Chỉ là không cố định. Chồng tôi thì mới bắt đầu hơn 1 năm nay là có thu nhập ổn định, lương cứng và còn có lương thưởng, chế độ,......ổn định hơn tôi. Tôi không có đám cưới, không được bất kì của hồi môn hay quà cưới gì từ nhà chồng, không được lo lắng và tuy không có công việc ổn định nhưng phần lớn kinh tế 6 năm hôn nhân lại đến từ tôi. Sau đó tôi có ngoại tình tầm 1 năm nay và nhà chồng tôi có biết. Họ lấy lý do đó đàn áp tôi. Tôi muốn hỏi trong trường hợp này: tôi có giành được quyền nuôi con không, tòa sẽ phán xét thế nào.
Luật sư Lê Tuấn Anh đã trả lời
ly hôn
Chào bạn,
Về quyền nuôi con
Theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, hai vợ chồng được thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con. Nếu không thỏa thuận được, Tòa án quyết định căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con.
“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”
Bé gái 3 tuổi: Theo khoản 3 Điều 81, con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ khi mẹ không đủ điều kiện. Bạn cần kiểm tra chính xác ngày sinh của con để xác định có còn dưới 36 tháng tại thời điểm Tòa giải quyết hay không.
Bé trai 6 tuổi: Chưa đủ 07 tuổi nên chưa bắt buộc xem xét nguyện vọng của con (khoản 2 Điều 81). Tòa sẽ đánh giá toàn diện điều kiện nuôi dưỡng của cả hai bên; bạn nên tính đến việc hai con được giao cho cùng một người để không tách anh em.
Tòa án thường xem xét: người đã trực tiếp chăm sóc con (bạn đã lo phần lớn 6 năm qua), điều kiện kinh tế và chỗ ở, thời gian chăm sóc, tình cảm, môi trường sống và tư cách đạo đức của mỗi bên.
Về thu nhập và việc ngoại tình
Về kinh tế: Chồng bạn có thu nhập ổn định hơn là lợi thế của anh ấy, nhưng Tòa không bắt buộc người mẹ phải có thu nhập cao hơn người cha mà xem ai bảo đảm tốt nhất sự phát triển của con. Bạn có sao kê ngân hàng chứng minh có thu nhập; phần chênh lệch có thể được bù bằng nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi (Điều 82, Điều 110, Điều 116).
Về ngoại tình: Đây là vi phạm nghĩa vụ chung thủy (Điều 19) và có thể ảnh hưởng đến đánh giá của Tòa, kể cả khi chia tài sản (khoản 2 Điều 59). Tuy nhiên, ngoại tình không phải yếu tố duy nhất hay tự động làm bạn mất quyền nuôi con nếu không ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, giáo dục con. Tòa ưu tiên giao con cho người đã trực tiếp chăm sóc con tốt nhất từ trước đến nay.
Bạn nên chuẩn bị chứng cứ chứng minh bạn là người chăm sóc chính (học phí, khám bệnh, xác nhận của trường, hàng xóm) và nơi ở ổn định cho con.
Bạn muốn tư vấn cụ thể hãy liên hệ trực tiếp với Luật sư trình bày sự việc cụ thể. Số điện thoại Luật sư 0919.989.876 (Luật sư Tuấn Anh).
Luật sư chờ phản hồi từ bạn.
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình:
Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp với luật sư qua số điện thoại 091 998 9876
- Luật sư tư vấn miễn phí;
- Luật sư tư vấn hướng giải quyết, nhận định pháp lý;
- Phí dịch vụ luật sư công khai, minh bạch.
NHẤN ĐỂ GỌI LUẬT SƯ: 091 998 9876
- Địa chỉ: Số 203 Cộng Hoà, phường Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Điện thoại: 091 998 9876
- Website: https://luậtsư.net/
-
ly hôn
Ls tư vấn giúp dùm em Em liên hệ chồng nn đồng thuận ly hôn nhưng không hợp tác nên đành ly hôn đơn phương . Liệu những bằng chứng bằng hình ảnh ( bị chồng tđvl , chồng dắt người phụ nữ khác về nhà , tin nhắn chồng thừa nhận say sỉn , ... ) thì có ích cho hồ sơ của em không ạ ? Em đã li thân được 3 năm hơn , có 1 con chung do em nuôi hoàn toàn không nhận bất kỳ chu cấp nào từ chồng ạ
Luật sư Lê Tuấn Anh đã trả lời
ly hôn
Chào bạn,
Về căn cứ ly hôn
Theo khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
“Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.”
Theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”
Việc bạn đã sống ly thân hơn 03 năm là tình tiết có lợi để chứng minh tình trạng hôn nhân trầm trọng.
Về chứng cứ của bạn
Hình ảnh bị bạo lực, hình ảnh chồng dẫn người phụ nữ khác về nhà, tin nhắn chồng thừa nhận say xỉn… có ích cho hồ sơ nếu xác thực và liên quan đến vụ án. Hình ảnh, tin nhắn là dữ liệu điện tử, được xem là chứng cứ nếu thu thập hợp pháp, còn nguyên vẹn và có thể kiểm chứng (Điều 93, 94, 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015). Bạn nên sao lưu, lập vi bằng nếu cần và ghi rõ nguồn gốc.
Chồng dẫn người khác về nhà thể hiện vi phạm nghĩa vụ chung thủy quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
“Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.”
Về bạo lực gia đình, nên bổ sung biên bản của công an, giấy khám bệnh, lời khai nhân chứng (Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022).
Về con chung và cấp dưỡng
Theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, cha mẹ thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con; nếu không thỏa thuận được, Tòa án quyết định căn cứ quyền lợi về mọi mặt của con; con từ đủ 07 tuổi thì phải xem xét nguyện vọng; con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ khi mẹ không đủ điều kiện hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác (khoản 2, khoản 3).
Việc bạn đã trực tiếp nuôi con hơn 03 năm là lợi thế cần chứng minh. Bạn nên chuẩn bị tài liệu về nơi ở, công việc, thu nhập, thời gian chăm sóc, chi phí nuôi con, việc học và sinh hoạt của con.
Chồng không trực tiếp nuôi con vẫn có nghĩa vụ cấp dưỡng theo Điều 82, Điều 107, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình.
Mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thì Tòa án quyết định căn cứ thu nhập, khả năng thực tế của người cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của con theo Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình.
Nếu có yêu cầu chia tài sản, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình quy định Tòa xem xét công sức đóng góp và lỗi của mỗi bên; lao động chăm sóc gia đình được ghi nhận như lao động tạo thu nhập.
Bạn muốn tư vấn cụ thể hãy liên hệ trực tiếp với Luật sư trình bày sự việc cụ thể. Số điện thoại Luật sư 0919.989.876 (Luật sư Tuấn Anh).
Luật sư chờ phản hồi từ bạn.
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình:
Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp với luật sư qua số điện thoại 091 998 9876
- Luật sư tư vấn miễn phí;
- Luật sư tư vấn hướng giải quyết, nhận định pháp lý;
- Phí dịch vụ luật sư công khai, minh bạch.
NHẤN ĐỂ GỌI LUẬT SƯ: 091 998 9876
- Địa chỉ: Số 203 Cộng Hoà, phường Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Điện thoại: 091 998 9876
- Website: https://luậtsư.net/
-
tài sản hôn nhân
Trước khi kết hôn bố mẹ chồng e cho chồng e 2 miếng đất và sau đó sang tên cho chồng em theo hình thức cho tặng . Sau đó chúng em kết hôn,chồng em làm nhà trên 1 miếng đất và em có bỏ tiền xây cùng và miếng còn lại em đem xây nhà trọ bằng tiền của em gửi cho(em làm việc ở nước ngoài) và chồng em cờ bạc nên em trả nợ cho rất nhiều nên chồng em đã chuyển nhượng 1 miếng đất nhà trọ đứng tên riêng của e theo hình thức cho tặng ,còn miếng nhà ở đứng tên chung 2 vợ chồng nhưng đã thế chấp vay ngân hàng lấy tiền trả nợ cho anh í .Vậy e có 2 câu hỏi muốn hỏi nhờ anh chị giải thích giúp e với ! 1.Miếng đất đứng tên chung 2 vợ ck đang vay thế chấp ngân hàng giờ chồng e muốn sang tên 1 mình em nốt để e gánh trả nợ 10 năm còn lại vì anh í hết khả năng trả nợ thì làm cách nào để có thể thay đổi tên 1 mình em chủ sở hữu miếng đất đó riêng khi sổ đỏ vẫn trong ngân hàng ?Và khi làm giấy tờ ck em có phải kí từ chối tài sản luôn ko ạ? 2. Miếng nhà trọ thứ 2 em đã đứng tên riêng nhưng bọn em chưa kí từ chối tài sản chỉ sang tên bìa cho e sau 2 lần làm cho tặng( lần 1 đứng tên chung,lần 2 cho nốt phần còn lại) thì miếng đất này e có được toàn quyền sử dụng riêng như mua bán ,cho tặng mà không cần có chữ kí của ck ko ạ? trường hợp chồng e vẫn hư đốn cờ bạc gái gú nếu ly hôn thì miếng đất này em có được tòa xử e được quyền sử dụng riêng không hay vẫn phải chia cho ck em ạ ? Em cảm ơn !
Luật sư Lê Tuấn Anh đã trả lời
tài sản hôn nhân
Chào bạn,
Xác định tính chất tài sản
Hai miếng đất bố mẹ chồng tặng cho chồng trước khi kết hôn là tài sản riêng của chồng theo khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình.
Phần bạn bỏ tiền xây dựng (thu nhập lao động của bạn trong thời kỳ hôn nhân) là tài sản chung (khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình). Khi ly hôn, công sức đóng góp được xem xét theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình. Nếu không có chứng cứ chứng minh là tài sản riêng thì tài sản đang tranh chấp được coi là tài sản chung (khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình).
Miếng đất đứng tên chung 2 vợ chồng đang thế chấp ngân hàng, chồng muốn sang tên một mình bạn
Đây là tài sản chung, nên việc định đoạt bất động sản phải có thỏa thuận bằng văn bản của hai vợ chồng quy định tại khoản 2 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình
“2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:
a) Bất động sản”
Do đất đang thế chấp, bên thế chấp chỉ được chuyển nhượng, tặng cho tài sản thế chấp khi được bên nhận thế chấp (ngân hàng) đồng ý quy định tại khoản 7 Điều 320 và khoản 5 Điều 321 Bộ luật Dân sự
“Thông báo cho bên nhận thế chấp về các quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp, nếu có; trường hợp không thông báo thì bên nhận thế chấp có quyền hủy hợp đồng thế chấp tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp.”
“Được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh, nếu được bên nhận thế chấp đồng ý hoặc theo quy định của luật.”
Miếng đất nhà trọ đã đứng tên riêng bạn
Nếu hợp đồng ghi tặng cho riêng bạn, hoặc phần quyền của chồng được chia cho bạn bằng văn bản thỏa thuận chia tài sản chung hợp lệ, thì phần đó là tài sản riêng của bạn
Theo khoản 1 Điều 40 và khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình
“Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.”
“1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.”
Do đó, bạn có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt (mua bán, tặng cho) mà không cần chữ ký của chồng theo khoản 1 Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình.
“Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.”
Bạn muốn tư vấn cụ thể hãy liên hệ trực tiếp với Luật sư trình bày sự việc cụ thể. Số điện thoại Luật sư 0919.989.876 (Luật sư Tuấn Anh).
Luật sư chờ phản hồi từ bạn.
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình:
Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp với luật sư qua số điện thoại 091 998 9876
- Luật sư tư vấn miễn phí;
- Luật sư tư vấn hướng giải quyết, nhận định pháp lý;
- Phí dịch vụ luật sư công khai, minh bạch.
NHẤN ĐỂ GỌI LUẬT SƯ: 091 998 9876
- Địa chỉ: Số 203 Cộng Hoà, phường Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Điện thoại: 091 998 9876
- Website: https://luậtsư.net/
-
Quan hệ tình dục với người dưới 16 tuổi có đi tù không
Em muốn hỏi về trường hợp là năm em 15 tuổi có quan hệ tình dục với bạn trai 16 tuổi và em đã có thai, cả hai đều tự nguyện. Nhưng gia đình bạn trai không nhận thai và có ngôn ngừ làm ảnh hưởng đến danh dự em thì trong trường hợp này bạn trai có đi tù không ạ?
Luật sư Lê Tuấn Anh đã trả lời
Quan hệ tình dục với người dưới 16 tuổi có đi tù không
Chào bạn,
Theo thông tin bạn cung cấp, khi xảy ra sự việc bạn 15 tuổi, bạn trai 16 tuổi, hai bên hoàn toàn tự nguyện và không có hành vi ép buộc.
Về trách nhiệm hình sự của bạn trai
Điều 142 Bộ luật Hình sự
“Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ;”
Trường hợp này áp dụng khi có hành vi trái ý muốn của nạn nhân, hoặc khi nạn nhân dưới 13 tuổi; không phù hợp với trường hợp hai bên tự nguyện.
Điều 145 Bộ luật Hình sự
“Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”
Trường hợp này chủ thể là người đủ 18 tuổi trở lên. Bạn trai mới 16 tuổi nên không thuộc chủ thể của tội này.
Vì vậy, nếu đúng như thông tin trên, bạn trai khả năng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, kết luận sẽ khác nếu có yếu tố dùng vũ lực, đe dọa, cưỡng ép, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ, hoặc nếu bạn trai thực tế đã đủ 18 tuổi tại thời điểm quan hệ. Bạn cần xác định chính xác ngày, tháng, năm sinh của hai bên và hoàn cảnh sự việc.
Về các vấn đề dân sự và hôn nhân gia đình
Bạn chưa đủ tuổi kết hôn: theo Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình
“Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;”
Đứa trẻ sinh ra có quyền được xác định cha, mẹ theo Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình. Nếu bạn trai không nhận, bạn (hoặc người đại diện hợp pháp) có thể yêu cầu Tòa án xác định cha cho con (xét nghiệm ADN). Sau đó cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng cho con theo Điều 82, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình.
“Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.”
Việc gia đình bạn trai nói xấu, bịa đặt hoặc lan truyền thông tin sai sự thật về bạn cần được xem xét độc lập. Bạn có quyền yêu cầu chấm dứt, cải chính và bồi thường theo khoản 5 Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015
“Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.”
Nếu nghiêm trọng còn có thể xem xét Điều 155 Tội làm nhục người khác hoặc Điều 156 Tội vu khống Bộ luật Hình sự.
Bạn muốn tư vấn cụ thể hãy liên hệ trực tiếp với Luật sư trình bày sự việc cụ thể. Số điện thoại Luật sư 0919.989.876 (Luật sư Tuấn Anh).
Luật sư chờ phản hồi từ bạn
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình:
Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp với luật sư qua số điện thoại 091 998 9876
- Luật sư tư vấn miễn phí;
- Luật sư tư vấn hướng giải quyết, nhận định pháp lý;
- Phí dịch vụ luật sư công khai, minh bạch.
NHẤN ĐỂ GỌI LUẬT SƯ: 091 998 9876
- Địa chỉ: Số 203 Cộng Hoà, phường Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Điện thoại: 091 998 9876
- Website: https://luậtsư.net/
