
Nguyễn Tấn Đạt
Tổng cộng: 3
-
Nhờ làm thủ tục mua đất ở Thủ Đức
Chào anh! Em muốn mua lô đất ở thủ đức, em nhờ văn phòng bên mình làm giúp em các thủ tục giấy tờ cũng như xét qui hoạch, lúc đặt cọc, đến lúc sang tên xong thì chi phí bao nhiêu ạ? Em cảm ơn!
Luật sư Nguyễn Tấn Đạt đã trả lời
Nhờ làm thủ tục mua đất ở Thủ Đức
Chào bạn, để có thể tư vấn chính xác thì bạn cần cung cấpcho luật sư thông tin cụ thể về lô đất (vị trí, giá tiền, …). Bạn có thể điệnthoại số 0963573838 để nhận được câu trả lời chính xác nhất.
-
Xây dựng nhà ở
Chào các anh chị ạ: Em có vấn đề muốn hỏi về luật và hình thức phạt khi sai phạm trong khi xây dựng ạ. Em xây nhà có giấy phép xây dựng, trong giấy phép và thiết kế thì chỉ được xây là 3 tầng 1 tum. Nhưng em lại xây thêm 1 phòng thờ nhỏ nữa và có thêm ô thông tầng
Luật sư Nguyễn Tấn Đạt đã trả lời
Xây dựng nhà ở
Dựa trên nội dung bạn cung cấp, Luật sư xin tư vấn cho trường hợp của bạn như sau:
Thứ nhất: Đối với hành vi xây dựng nhà không đúng so với Giấy phép xây dựng của bạn sẽ bị xử lý vi phạm theo khoản 4 Điều 15 Nghị định 139/2017/NĐ-CP như sau:
Xử phạt đối với hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình sai nội dung giấy phép xây dựng được cấp (trừ trường hợp quy định tại điểm a, điểm b, điểm c khoản 7 Điều này) đối với trường hợp cấp phép xây dựng mới như sau:
a) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với xây dựng nhà ở riêng lẻ tại đô thị;
b) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với xây dựng nhà ở riêng lẻ trong khu bảo tồn, khu di tích lịch sử - văn hóa hoặc xây dựng công trình khác không thuộc trường hợp quy định tại điểm a, điểm c khoản này;
c) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với xây dựng công trình có yêu cầu phải lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng hoặc lập dự án đầu tư xây dựng
Theo như thông tin bạn cung cấp, thì bạn không thuộc các trường hợp quy định tại điểm a, điểm b, điểm c, khoản 7 Điều 15 như sau:
+ Xây dựng công trình không phù hợp với quy hoạch xây dựng được duyệt;
+ Xây dựng công trình vi phạm chỉ giới xây dựng;
+ Xây dựng công trình sai cốt xây dựng;
Do đó, bạn có thể bị xử phạt hành chính với mức xử phạt từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Nếu hành vi vi phạm của bạn đã kết thúc, thì ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính bạn còn bị áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trìnhxây dựng vi phạm. (Căn cứ điểm d khoản 10, Điều 15 Nghị định 139/2017/NĐ-CP và Điều 4 Thông tư 03/2018/TT-BXD).
Nếu nhà bạn đang trong quá trình xây dựng thì ngoài xử phạt hành chính, gia đình bạn còn bị xử lý theo khoản 12 Điều 15 Nghị định 139/2017/NĐ-CP và Điều 5 Thông tư 03/2018/TT-BXD như sau:
a) Lập biên bản vi phạm hành chính và yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm dừng thi công xây dựng công trình;
b) Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm phải làm thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh hoặc cấp giấy phép xây dựng;
c) Hết thời hạn quy định tại điểm b khoản này, tổ chức, cá nhân vi phạm không xuất trình với người có thẩm quyền xử phạt giấy phép xây dựng hoặc giấy phép xây dựng được điều chỉnh thì bị áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm.
Trên đây là nội dung tư vấn của Luật sư dựa trên thông tin bạn cung cấp, gửi bạn để giải đáp thắc mắc của mình.
Trân trọng.
Mọi thắc mắc liên quan đến các vấn đề nêu trên anh/chị vui lòng liên hệ:
- Luật sư Nguyễn Tấn Đạt.
- Công ty Luật TNHH 1TV Nguyễn Tâm & Partners
- Điện thoại: 096.357.3838
- Email: lsnguyentandat@gmail.com
-
Ly hôn đơn phương
Chào luật sư. Em có 1 cô bạn năm nay 18 tuổi. Cô ấy đã đăng ký kết hôn và có 1 bé 7 tháng tuổi. Khi đang mang thai thì chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn. Sau khi sinh thì đi đăng ký kết hôn và tổ chức đám cưới. Nhưng đám cưới thì chú rể trốn. Gia đình nhà trai cũng không
Luật sư Nguyễn Tấn Đạt đã trả lời
Ly hôn đơn phương
Dựa trên nội dung bạn cung cấp, Luật sư xin tư vấn cho trường hợp của bạn như sau:
- Thứ nhất, về hôn nhân: Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định vấn đề ly hôn đơn phương tại Điều 51 và Điều 56 cụ thể như sau:
Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.
Bên cạnh đó, Điều 88 về Xác định cha, mẹ của Luật này quy định:
1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.
Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.
2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.
Như vậy, bạn của bạn sinh con trong thời kỳ hôn nhân nên đứa trẻ được xác định là con chung của vợ chồng. Nếu chồng có sự vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, thì trong trường hợp này, người vợ có đủ căn cứ để yêu cầu Tòa án giải quyết đơn ly hôn.
- Thứ hai, về tranh chấp quyền nuôi con: Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn quy định như sau:
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Như vậy, trong trường hợp này, bạn của bạn đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi nên nếu xảy ra tranh chấp quyền nuôi con thì cô ấy vẫn được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con (trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con).
Trên đây là nội dung tư vấn của Luật sư dựa trên thông tin bạn cung cấp, gửi bạn để giải đáp thắc mắc của mình.
Trân trọng.
Mọi thắc mắc liên quan anh/chị vui lòng liên hệ:
Luật sư Nguyễn Tấn Đạt
Điện thoại: 096.357.3838
Email: lsnguyentandat@gmail.com