iLAW
iLAW
  • Tìm luật sư
    • Tư vấn pháp luật
      • Bài viết pháp luật
        • Câu hỏi pháp luật
          • Biểu mẫu
          • Dịch vụ pháp lý
          • Đặt câu hỏi miễn phí
          • Đăng nhập
          }

          Nguyễn Thanh Hải

          Tổng cộng: 1865

          Nguyễn Thanh Hải
          Gọi 0522385888
          • Chụp màn hình tin nhắn/ ghi âm cuộc gọi/ ghi âm cuộc trò chuyện có được coi là bằng chứng không?

            Chào luật sư ạ. Chuyện là em đang ở một nhà trọ có nguy cơ bùng cọc cao. Em có thể hỏi chủ trọ về một và nội dung trước khi chuyển đi và chụp màn hình/ ghi âm lại phòng khi họ lật lọng được không ạ? Những điều khoản này cần được ghi trong hợp đồng không ạ? Nếu họ lật lọng thì em nên báo cáo với cơ quan chức năng nào? Em xin cảm ơn.

            Luật sư Nguyễn Thanh Hải đã trả lời

            • 19/08/2026

            Chụp màn hình tin nhắn/ ghi âm cuộc gọi/ ghi âm cuộc trò chuyện có được coi là bằng chứng không?

            Chào bạn,

            Vấn đề bạn hỏi luật sư trả lời như sau:

            Trong trường hợp bạn thuê phòng trọ và lo ngại chủ nhà có thể không thực hiện đúng cam kết về tiền cọc khi bạn trả phòng, việc chủ động lưu giữ tin nhắn, chụp màn hình hoặc ghi âm nội dung trao đổi là rất cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình.

            1. Chụp màn hình tin nhắn, ghi âm cuộc gọi có thể được sử dụng làm chứng cứ không?

            Có. Theo Bộ luật Tố tụng dân sự, chứng cứ có thể được thể hiện dưới nhiều dạng, trong đó có dữ liệu điện tử và các tài liệu, đồ vật khác được pháp luật công nhận. Tuy nhiên, việc một file ghi âm hoặc ảnh chụp màn hình có giá trị chứng minh đến đâu còn phụ thuộc vào nguồn gốc, tính xác thực, tính liên quan và toàn bộ hoàn cảnh thu thập chứng cứ.

            Do đó, nếu chủ trọ nhắn tin xác nhận chẳng hạn: “Khi em trả phòng đúng hạn, không làm hư hỏng tài sản thì anh/chị sẽ hoàn lại toàn bộ tiền cọc”, bạn nên giữ nguyên cuộc trò chuyện, không chỉ chụp một vài đoạn riêng lẻ.

            Đối với ghi âm, nên lưu file gốc, không chỉnh sửa, cắt ghép; đồng thời lưu lại thông tin về thời điểm, người tham gia và nội dung cuộc trao đổi để thuận lợi cho việc chứng minh sau này.

            2. Những thỏa thuận về tiền cọc và điều kiện hoàn cọc có nhất thiết phải ghi trong hợp đồng không?

            Luật sư khuyến nghị nên ghi rõ trong hợp đồng thuê nhà, đặc biệt là các nội dung:

            • Số tiền đặt cọc;
            • Mục đích của tiền cọc;
            • Thời hạn thuê;
            • Trường hợp nào được hoàn cọc;
            • Thời điểm chủ nhà phải hoàn cọc;
            • Những trường hợp chủ nhà được khấu trừ tiền cọc;
            • Cách xác định tiền sửa chữa, tiền điện, nước và các khoản còn thiếu;
            • Trường hợp một bên chấm dứt hợp đồng trước hạn thì xử lý tiền cọc như thế nào.

            Bộ luật Dân sự quy định về đặt cọc tại Điều 328; vì vậy, thỏa thuận càng cụ thể thì càng hạn chế được tranh chấp khi kết thúc việc thuê.

            Nếu hợp đồng đã ký nhưng hai bên sau đó có thỏa thuận khác bằng tin nhắn hoặc phương tiện điện tử, bạn vẫn nên yêu cầu chủ trọ xác nhận rõ ràng bằng văn bản/tin nhắn thay vì chỉ thỏa thuận miệng.

            3. Nếu chủ trọ “lật lọng”, không trả tiền cọc thì phải làm gì?

            Trước hết, bạn nên thực hiện theo trình tự:

            Bước 1: Gửi yêu cầu hoàn trả tiền cọc bằng văn bản hoặc tin nhắn, nêu rõ số tiền, thời hạn yêu cầu thanh toán và căn cứ thỏa thuận.

            Bước 2: Lưu giữ toàn bộ chứng cứ: hợp đồng thuê, biên nhận chuyển tiền cọc, sao kê ngân hàng, tin nhắn, email, ghi âm, hình ảnh tình trạng phòng khi bàn giao, biên bản bàn giao và các khoản thanh toán điện nước.

            Bước 3: Nếu hai bên không tự giải quyết được, đây về bản chất thường là tranh chấp dân sự/hợp đồng thuê nhà. Bạn có thể cân nhắc yêu cầu hòa giải hoặc khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bộ luật Tố tụng dân sự là cơ sở pháp lý về trình tự giải quyết tranh chấp dân sự tại Tòa án.

            Riêng nếu chủ trọ có hành vi vi phạm pháp luật khác như đe dọa, cưỡng đoạt, cố ý hủy hoại tài sản hoặc có dấu hiệu tội phạm thì hướng xử lý sẽ khác và có thể cần trình báo cơ quan công an.

            4. Một lưu ý rất quan trọng

            Nếu bạn đang có nguy cơ mất cọc, đừng chỉ hỏi chủ trọ qua điện thoại. Tốt nhất hãy nhắn tin theo hướng yêu cầu họ xác nhận cụ thể, ví dụ:

            “Em dự kiến trả phòng ngày …, phòng không có hư hỏng và em đã thanh toán đầy đủ tiền điện nước. Anh/chị xác nhận giúp em số tiền cọc … đồng sẽ được hoàn lại vào ngày … nhé?”

            Nếu chủ trọ trả lời xác nhận, bạn đã tạo thêm một tài liệu rất hữu ích để chứng minh thỏa thuận giữa hai bên.

            Luật Nhà ở năm 2023 hiện là văn bản pháp luật về nhà ở có hiệu lực từ ngày 01/01/2025.

            Tóm lại: Bạn có thể chụp màn hình tin nhắn và ghi âm nội dung trao đổi để lưu giữ làm chứng cứ; tuy nhiên, tốt nhất vẫn là đưa các điều khoản về tiền cọc và điều kiện hoàn cọc vào hợp đồng hoặc một thỏa thuận bằng văn bản có thể xác định được nội dung và chủ thể. Khi tranh chấp xảy ra, cần xem xét toàn bộ chứng cứ chứ không chỉ một ảnh chụp hoặc một đoạn ghi âm riêng lẻ.

            Nếu bạn cần thông tin thêm về dịch vụ tư vấn, vui lòng gọi tổng đài i-Law để được giải đáp.

            Nếu bạn vừa lòng với nội dung trả lời, vui lòng đánh giá câu trả lời để ủng hộ Luật sư Nguyễn Thanh Hải.


          • cháu hị tạm giam 3 tháng

            cháu em nó đi chung với băng nhóm chém ngta . nó k chém chỉ đi theo mà nay bắt tạm giam nó 3 tháng. vậy có xử đi tù nửa kh ạ

            Luật sư Nguyễn Thanh Hải đã trả lời

            • 18/08/2026

            cháu hị tạm giam 3 tháng

            Chào bạn,

            Với trường hợp bạn trình bày, luật sư tư vấn như sau:

            Việc cháu bạn bị tạm giam 03 tháng không đồng nghĩa với việc chắc chắn sẽ bị phạt tù. Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong quá trình điều tra, không phải là hình phạt. Theo Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn tạm giam để điều tra đối với tội phạm nghiêm trọng có thể đến 03 tháng; trong trường hợp đủ căn cứ, thời hạn này còn có thể được gia hạn theo luật định.

            1. Cháu không trực tiếp chém người thì có bị xử lý hình sự không?

            Có thể có, nhưng không phải cứ đi cùng nhóm là đương nhiên bị đi tù.

            Cơ quan điều tra sẽ phải làm rõ cháu bạn tham gia với vai trò gì. Nếu cháu biết trước nhóm sẽ đi đánh/chém người mà vẫn cùng tham gia, hỗ trợ, cổ vũ, chở người, mang hung khí, giúp sức..., thì có khả năng bị xem xét trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm.

            Ngược lại, nếu cháu không biết mục đích của nhóm, không tham gia việc đánh chém, không giúp sức và không có sự thống nhất ý chí phạm tội, thì chỉ riêng việc đi cùng nhóm chưa đủ để kết luận cháu là đồng phạm.

            Đặc biệt cần phân biệt rất rõ giữa người trực tiếp thực hành hành vi chém và người giúp sức hoặc cùng thực hiện tội phạm. Mức độ trách nhiệm của từng người phải được đánh giá theo vai trò, mức độ tham gia và các tình tiết cụ thể của vụ án.

            2. Nếu vụ án là tội cố ý gây thương tích

            Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định nhiều mức hình phạt khác nhau tùy theo tỷ lệ tổn thương cơ thể, hung khí, số người bị hại, tính chất có tổ chức...

            Vì vậy, không thể nhìn vào việc "bị tạm giam 3 tháng" để kết luận cháu sẽ bị tù bao nhiêu năm.

            Ngay cả khi bị xác định là đồng phạm, Tòa án cũng phải xem xét vai trò và mức độ tham gia của từng người, chứ không phải tất cả những người trong nhóm đều chịu hình phạt giống nhau.

            3. Gia đình nên làm ngay việc gì?

            Gia đình nên tìm hiểu chính xác:

            • Cháu bị khởi tố về tội danh nào?
            • Quyết định khởi tố có xác định cháu là đồng phạm hay không?
            • Cháu bị xác định là người thực hành, giúp sức hay vai trò khác?
            • Cháu có trực tiếp cầm dao/mã tấu hoặc đánh người không?
            • Cháu có biết trước việc nhóm đi chém người không?
            • Người bị hại bị thương tích bao nhiêu %?
            • Có bao nhiêu người tham gia và ai trực tiếp gây thương tích?
            • Cháu bao nhiêu tuổi, có tiền án tiền sự không?

            Đặc biệt, nếu cháu thực sự chỉ đi theo mà không biết nhóm có ý định chém người, đây là vấn đề rất quan trọng để luật sư xem hồ sơ và xây dựng hướng bảo vệ.

            Gia đình nên mời luật sư tham gia ngay từ giai đoạn điều tra, thay vì chờ đến khi Viện kiểm sát truy tố hoặc Tòa án xét xử. Khi có hồ sơ, luật sư mới có thể đánh giá chính xác khả năng cháu có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay có căn cứ đề nghị thay đổi biện pháp tạm giam.

            Nếu bạn cung cấp thêm tuổi của cháu, quyết định khởi tố ghi tội gì, thương tích của người bị chém bao nhiêu %, và cháu đã làm gì tại hiện trường, tôi có thể phân tích cụ thể khả năng cháu có bị đi tù hay không và nếu có thì khung hình phạt có thể ở mức nào.

            Nếu bạn cần luật sư, hãy liên hệ i-Law để được tư vấn.

            Nếu bạn vừa ý với nội dung tư vấn, vui lòng để lại nhận xét trên diễn đàn để luật sư có thêm động lực hỗ trợ cộng đồng.


          • Lừa đảo tiền trên mạng

            Tôi tham gia vào một nhóm tiếp thị liên kết và bấm vào quay trúng thưởng và được giải nhất và được họ hướng dẫn nội dung phải nộp 6.000.000 VNĐ để kích hoạt tài khoản mới cho để nhận thưởng nhưng do tôi bấm nhầm mã họ lại bắt tôi nộp thêm 12.000.000 VNĐ nữa. sau đó tôi lại bấm sai số tài khoản họ lại hướng dẫn tôi nộp thêm 40.000.000 VNĐ nữa để khắc phục sau khi khắc phục xong lại bắt chuyển 90.000.000 VNĐ nữa mới nhận đc, sau khi chuyển khoản 90tr xong họ nói số tiền chị lớn phải nộp tiền thuế rồi mới được rút.Nhưng do tôi không có tiền nên tôi không nộp nữa. Sau đó tôi lên facebook C.ty Luật TNHH MTV Nam Sơn để hộ trở và thu hồi tiền gốc giúp tôi. Hóa ra tôi cũng bị lừa nộp hết khoản này đến khoản khác. Họ nói sẽ cộng dồn tiền nộp và tiền gốc. mỗi lần một số tiền gốc cứ tăng lên.

            Luật sư Nguyễn Thanh Hải đã trả lời

            • 17/08/2026

            Lừa đảo tiền trên mạng

            Chào bạn,

            Với trường hợp bạn trình bày, luật sư tư vấn như sau:

            1. Bạn có dấu hiệu đã bị một nhóm đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản

            Theo nội dung bạn cung cấp, thủ đoạn của các đối tượng có dấu hiệu khá điển hình:

            • Dụ bạn tham gia nhóm tiếp thị liên kết;
            • Thông báo bạn “trúng giải nhất” để tạo lòng tin;
            • Yêu cầu nộp 6 triệu đồng để kích hoạt tài khoản;
            • Sau đó lấy lý do bạn nhập sai mã, sai tài khoản để yêu cầu tiếp tục chuyển 12 triệu đồng, 40 triệu đồng, 90 triệu đồng;
            • Khi bạn đã chuyển số tiền lớn thì tiếp tục đưa ra lý do phải nộp thuế mới được rút tiền;
            • Đồng thời, khi bạn tìm người hỗ trợ thu hồi tiền, lại xuất hiện một bên tự nhận là công ty luật và yêu cầu tiếp tục nộp tiền, hứa “cộng dồn tiền đã nộp và tiền gốc”.

            Đây là dấu hiệu rất đáng ngờ của mô hình lừa đảo theo kiểu “nộp tiền để nhận tiền”, sau đó liên tục phát sinh các khoản phí/thuế/khắc phục lỗi giả tạo.

            Về hình sự, tùy kết quả xác minh phương thức, thủ đoạn cụ thể và vai trò của từng người, hành vi có thể bị xem xét về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 hoặc tội danh khác có liên quan. Điều 174 quy định hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản từ 2 triệu đồng trở lên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự; mức hình phạt tăng nặng theo giá trị tài sản chiếm đoạt.

            Nếu các đối tượng sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt thì cơ quan điều tra cũng sẽ xem xét dấu hiệu của Điều 290 Bộ luật Hình sự – Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, tùy thuộc vào cách thức phạm tội cụ thể.

            2. Đặc biệt lưu ý: đừng chuyển thêm tiền cho bất kỳ ai để “thu hồi tiền”

            Chi tiết bạn nói rằng sau khi lên Facebook tìm Công ty Luật TNHH MTV Nam Sơn để nhờ thu hồi tiền thì tiếp tục được yêu cầu nộp tiền và số “tiền gốc” được thông báo ngày càng tăng là vấn đề cần đặc biệt cảnh giác.

            Nếu bên này yêu cầu bạn:

            “Chuyển thêm tiền để mở hồ sơ”, “phí luật sư”, “phí thu hồi”, “phí giải ngân”, “tiền đối ứng”, “thuế”, “tiền xác minh”, “tiền bảo hiểm”... rồi mới trả lại tiền,

            thì không nên tiếp tục chuyển tiền cho đến khi xác minh độc lập được tư cách pháp lý, hợp đồng dịch vụ, người đại diện và cơ chế thu hồi tiền thực tế.

            Thực tế, nạn nhân của lừa đảo trên mạng rất dễ trở thành mục tiêu của “lừa đảo lần hai”: sau khi biết người đó đã mất tiền, đối tượng khác tiếp tục giả danh luật sư, công ty luật, cơ quan công an, ngân hàng hoặc đơn vị thu hồi tài sản để hứa lấy lại tiền nhưng yêu cầu nộp thêm tiền.

            3. Việc cần làm ngay

            Bạn nên dừng toàn bộ việc chuyển tiền và bảo toàn chứng cứ.

            Đặc biệt cần lưu lại:

            1. Toàn bộ tin nhắn với nhóm tiếp thị liên kết;
            2. Tên Facebook, Zalo, Telegram, WhatsApp hoặc tài khoản mạng xã hội của những người liên hệ;
            3. Link nhóm, link website/app mà họ hướng dẫn;
            4. Toàn bộ nội dung thông báo “trúng thưởng”;
            5. Các hướng dẫn chuyển tiền;
            6. Tất cả số tài khoản ngân hàng mà bạn đã chuyển tiền đến;
            7. Sao kê ngân hàng/biên lai của từng giao dịch;
            8. Nội dung trao đổi về khoản 6 triệu, 12 triệu, 40 triệu, 90 triệu và khoản “thuế” tiếp theo;
            9. Toàn bộ trao đổi với người/công ty nhận hỗ trợ thu hồi tiền;
            10. Thông tin Facebook của Công ty Luật TNHH MTV Nam Sơn mà bạn đã liên hệ;
            11. Hợp đồng dịch vụ, giấy giới thiệu, phiếu thu hoặc bất kỳ giấy tờ nào mà bên “thu hồi tiền” cung cấp.

            Không xóa tin nhắn, không xóa nhóm, không chặn tài khoản ngay, vì những dữ liệu này có thể là chứng cứ quan trọng để cơ quan điều tra truy tìm đối tượng.

            4. Cần tố giác ngay, không nên chỉ yêu cầu ngân hàng hoàn tiền

            Theo Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự, cá nhân có quyền tố giác về tội phạm với cơ quan có thẩm quyền; tố giác có thể thực hiện bằng lời hoặc bằng văn bản. Điều 145 quy định cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.

            Bạn nên làm đơn tố giác tội phạm, trình bày toàn bộ diễn biến theo trình tự thời gian và đặc biệt lập bảng:

            Lần

            Số tiền

            Thời điểm

            Tài khoản nhận

            Lý do họ đưa ra

            1

            6.000.000

            ...

            ...

            Kích hoạt tài khoản

            2

            12.000.000

            ...

            ...

            Nhập sai mã

            3

            40.000.000

            ...

            ...

            Khắc phục sai tài khoản

            4

            90.000.000

            ...

            ...

            Điều kiện để rút tiền

            5

            ...

            ...

            ...

            Thuế/chi phí khác

            Tổng số tiền bạn thực tế đã chuyển cần được xác định chính xác bằng sao kê ngân hàng.

            5. Đồng thời phải báo ngay cho ngân hàng

            Nếu các giao dịch mới xảy ra gần đây, bạn cần liên hệ ngay ngân hàng nơi bạn mở tài khoản, cung cấp sao kê và thông báo đây là giao dịch liên quan đến nghi vấn lừa đảo, đề nghị ngân hàng hỗ trợ theo quy trình xử lý giao dịch nghi ngờ/lừa đảo và phối hợp với ngân hàng nhận tiền khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

            Tuy nhiên, cần hiểu rằng ngân hàng không có nghĩa vụ đương nhiên hoàn lại tiền chỉ vì khách hàng trình báo bị lừa. Khả năng thu hồi phụ thuộc rất lớn vào việc tiền còn trong tài khoản nhận hay đã bị rút/chuyển tiếp và kết quả xác minh, phong tỏa của cơ quan có thẩm quyền.

            6. Trường hợp của bạn nên tố giác cả hai nhóm đối tượng nếu có căn cứ

            Nếu nhóm “tiếp thị liên kết” là nhóm đầu tiên lừa bạn và sau đó một người/công ty khác tiếp tục yêu cầu bạn chuyển tiền để “thu hồi tiền”, bạn nên trình bày cả hai sự việc trong đơn tố giác, không nên bỏ qua nhóm thứ hai.

            Cơ quan điều tra sẽ xác minh xem:

            • Hai nhóm có liên quan với nhau hay không;
            • Người đứng sau các tài khoản ngân hàng là ai;
            • Các tài khoản nhận tiền được sử dụng cho mục đích gì;
            • Có đường dây hoặc nhóm đối tượng tổ chức lừa đảo hay không;
            • Người tự nhận là đơn vị hỗ trợ thu hồi tiền có thực sự là đơn vị hợp pháp hay tiếp tục thực hiện hành vi gian dối.

            Kết luận

            Với những gì bạn trình bày, khả năng rất cao bạn đang gặp một vụ lừa đảo qua mạng theo phương thức liên tục yêu cầu nạn nhân chuyển thêm tiền để được nhận khoản tiền/giải thưởng không có thật.

            Bạn không nên cố nộp thêm tiền để “gỡ” số tiền đã mất. Càng chuyển thêm, thiệt hại càng lớn và không có căn cứ bảo đảm rằng bạn sẽ được nhận lại tiền.

            Hướng xử lý phù hợp nhất hiện nay là:

            Dừng chuyển tiền → bảo toàn toàn bộ chứng cứ → lập bảng tổng hợp các giao dịch → báo ngay ngân hàng → làm đơn tố giác tội phạm và cung cấp toàn bộ chứng cứ cho cơ quan có thẩm quyền.

            Nếu bạn cung cấp thêm ảnh chụp toàn bộ đoạn chat, số tài khoản đã chuyển tiền, nội dung Facebook của “Công ty Luật TNHH MTV Nam Sơn” và tổng số tiền thực tế đã chuyển, luật sư có thể giúp bạn đánh giá riêng vụ này và xác định dấu hiệu của từng hành vi, đồng thời hướng dẫn cách lập hồ sơ tố giác để tăng khả năng cơ quan công an tiếp nhận, xác minh và truy tìm dòng tiền.

            Nếu bạn cần luật sư, hãy liên hệ i-Law để được tư vấn.

            Nếu bạn vừa ý với nội dung tư vấn, vui lòng để lại nhận xét trên diễn đàn để luật sư có thêm động lực hỗ trợ cộng đồng.


          • Chấm dứt hợp đồng trước thời hạn

            Tôi ký hợp đồng từ ngày 1/5/2026 đến 30/4/2027 . Tạp vụ bếp ở khách sạn. Sau khoản thời gian dài với cường độ khách rất nhiều , tôi không mắt sai sót trong công việc, không đi trễ về sớm, không nghỉ không lý do… thì mọi chuyện không có gì xảy ra. Gần hết mùa cao điểm đu lịch, hết pháo hoa …. Ngày 15/8/2026 người quản lý gọi tôi và nói tôi viết đơn xin thôi việc đi , lý do là đuổi không thích tôi làm việc cùng họ. Như vậy cho phép tôi được hỏi , nếu họ cương quyết buộc tôi nghỉ việc thì tôi phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của tôi

            Luật sư Nguyễn Thanh Hải đã trả lời

            • 17/08/2026

            Chấm dứt hợp đồng trước thời hạn

            Chào bạn,

            Với trường hợp bạn trình bày, luật sư tư vấn như sau:

            1. Công ty không thể chỉ vì “không thích bạn” mà buộc bạn viết đơn xin thôi việc

            Bạn ký HĐLĐ xác định thời hạn từ 01/5/2026 đến 30/4/2027. Theo thông tin bạn cung cấp, trong quá trình làm việc bạn không vi phạm kỷ luật, không tự ý nghỉ việc, không đi trễ về sớm và không có sai sót đáng kể.

            Việc người quản lý ngày 15/8/2026 yêu cầu bạn “viết đơn xin thôi việc” vì không thích bạn làm việc cùng họ về nguyên tắc không phải là căn cứ hợp pháp để buộc bạn chấm dứt HĐLĐ.

            Theo Điều 34 Bộ luật Lao động 2019, một trong những trường hợp chấm dứt HĐLĐ là hai bên thỏa thuận chấm dứt. Do đó, nếu bạn không muốn nghỉ thì không nên ký đơn xin thôi việc hoặc giấy thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ chỉ vì bị gây áp lực.

            2. Nếu công ty muốn đơn phương cho bạn nghỉ, họ phải có căn cứ luật định

            Điều 36 Bộ luật Lao động 2019 quy định các trường hợp người sử dụng lao động được đơn phương chấm dứt HĐLĐ, chẳng hạn người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo tiêu chí đánh giá hợp lệ; bị ốm đau, tai nạn trong thời gian luật định; do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất theo điều kiện luật định...

            Trong trường hợp của bạn, lý do được quản lý đưa ra là “không thích bạn làm việc cùng họ”. Đây không phải là một căn cứ độc lập được Điều 36 quy định.

            Nếu công ty lấy lý do không hoàn thành công việc để cho bạn nghỉ thì công ty còn phải căn cứ vào tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động, chứ không thể tùy ý nói rằng bạn làm việc không đạt yêu cầu.

            Ngoài ra, nếu công ty muốn xử lý bạn bằng hình thức sa thải, thì cũng phải có căn cứ thuộc Điều 125 Bộ luật Lao động 2019 và thực hiện đúng trình tự xử lý kỷ luật lao động. Việc “quản lý không thích” bạn không phải là căn cứ sa thải.

            3. Việc quan trọng nhất lúc này: tuyệt đối không tự ý nghỉ việc

            Nếu bạn không muốn nghỉ, bạn nên tiếp tục thể hiện rõ rằng:

            Bạn không tự nguyện xin nghỉ việc và vẫn sẵn sàng tiếp tục thực hiện HĐLĐ đến hết thời hạn.

            Nếu quản lý nói bằng miệng rằng “từ ngày mai không cần đi làm nữa”, bạn không nên tự hiểu đó là cho nghỉ hợp pháp rồi ở nhà.

            Bạn nên yêu cầu công ty xác nhận bằng văn bản/email/tin nhắn về việc cho bạn nghỉ và lý do nghỉ.

            Nếu công ty không cho vào làm, bạn nên có chứng cứ thể hiện rằng bạn đã có mặt hoặc đã thông báo sẵn sàng đi làm nhưng công ty không bố trí công việc.

            Điều này rất quan trọng bởi nếu sau này tranh chấp, công ty có thể đưa ra lập luận rằng bạn tự ý bỏ việc.

            4. Nếu công ty đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật

            Điều 39 Bộ luật Lao động 2019 xác định việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ không đúng quy định tại Điều 36, 37 là đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật.

            Khi đó, theo Điều 41 Bộ luật Lao động 2019, về nguyên tắc người sử dụng lao động phải:

            • Nhận người lao động trở lại làm việc theo HĐLĐ đã giao kết;
            • Trả tiền lương cho những ngày người lao động không được làm việc;
            • Đóng BHXH, BHYT, BHTN cho thời gian không được làm việc;
            • Trả thêm cho người lao động ít nhất 02 tháng tiền lương theo HĐLĐ.

            Ngoài ra, tùy trường hợp và phương án giải quyết, người lao động và người sử dụng lao động có thể thỏa thuận các khoản bồi thường/quyền lợi khác theo Điều 41.

            5. Tôi khuyên bạn xử lý ngay như sau

            Từ ngày 15/8/2026, bạn nên:

            Thứ nhất: Không viết “đơn xin thôi việc” nếu thực tế bạn không tự nguyện nghỉ.

            Thứ hai: Nếu công ty yêu cầu ký bất kỳ giấy tờ nào, đọc kỹ nội dung. Đặc biệt không ký giấy có nội dung như “tự nguyện xin nghỉ”, “hai bên thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ”, “không có khiếu nại gì về sau” nếu bạn không thực sự đồng ý.

            Thứ ba: Lưu giữ toàn bộ chứng cứ: HĐLĐ, bảng chấm công, bảng lương, tin nhắn Zalo/SMS, email, thông báo của quản lý và các tài liệu chứng minh quá trình làm việc của bạn.

            Thứ tư: Nếu công ty không bố trí công việc, nên gửi một văn bản/email ngắn xác nhận rằng bạn không xin nghỉ việc và vẫn sẵn sàng làm việc theo HĐLĐ, đồng thời đề nghị công ty thông báo chính thức nếu có quyết định chấm dứt HĐLĐ.

            Thứ năm: Nếu công ty thực sự ra quyết định chấm dứt HĐLĐ, cần xem chính xác lý do, căn cứ pháp luật, thời hạn báo trước và thủ tục để xác định công ty chấm dứt đúng hay trái pháp luật.

            Kết luận

            Với những thông tin bạn cung cấp, bạn không có nghĩa vụ phải viết đơn xin thôi việc chỉ vì quản lý “không thích” bạn.

            Đặc biệt, vì HĐLĐ của bạn còn thời hạn đến 30/4/2027, nếu công ty muốn cho bạn nghỉ trước thời hạn thì phải có căn cứ pháp luật và thực hiện đúng thủ tục. Nếu không, việc chấm dứt có thể bị xác định là đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật, khi đó bạn có quyền yêu cầu bảo vệ các quyền lợi theo Điều 41 Bộ luật Lao động 2019.

            Nếu bạn cần luật sư, hãy liên hệ i-Law để được tư vấn.

            Nếu bạn vừa ý với nội dung tư vấn, vui lòng để lại nhận xét trên diễn đàn để luật sư có thêm động lực hỗ trợ cộng đồng.


          • Cần tư vấn luật hình sự

            Em cần liên hệ để em dễ trình bày

            Luật sư Nguyễn Thanh Hải đã trả lời

            • 12/08/2026

            Cần tư vấn luật hình sự

            Chào bạn,

            Bạn cần liên hệ một văn phòng luật sư hoặc thổng đài i-Law để được hỗ trợ.

          • Bạo lực mạng

            Dạ Luật Sư cho con hỏi ạ. Hiện tại con đang bị 1 nhóm người bạo lực mạng, công khai danh tính của con làm ảnh hưởng tới cuộc sống hiện tại rất nhiều ạ. Con có sai trong mối quan hệ tìm hiểu, và mấy bạn đó tụ tập lại rồi chèo lái, thêm chuyện rồi đăng lên hội nhóm, trang cá nhân công kích con. Cho con hỏi thì trường hợp như vậy thì có bị xử lí không ạ?

            Luật sư Nguyễn Thanh Hải đã trả lời

            • 12/08/2026

            Bạo lực mạng

            Chào bạn,

            Với trường hợp bạn trình bày, luật sư tư vấn như sau:

            1. Việc bạn có sai trong mối quan hệ trước đó không có nghĩa người khác được quyền công khai thông tin và tập thể công kích bạn

            Pháp luật không quy định rằng một người “có lỗi trong chuyện tình cảm” thì sẽ mất quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín và đời tư.

            Theo Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Người bị đưa thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín có quyền yêu cầu bác bỏ thông tin, gỡ bỏ/cải chính thông tin và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu có căn cứ.

            Nếu nhóm người này còn đăng hình ảnh của bạn, cần xem xét thêm Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015 về quyền của cá nhân đối với hình ảnh. Về nguyên tắc, việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý, trừ các trường hợp ngoại lệ luật định.

            2. Nếu họ đăng thông tin sai sự thật, thêm chuyện, xuyên tạc để công kích bạn thì có thể bị xử lý

            Bạn mô tả rằng nhóm người này:

            • Tập hợp lại để công kích bạn;
            • Đưa câu chuyện lên các hội nhóm/trang cá nhân;
            • “Chèo lái, thêm chuyện”;
            • Công khai danh tính;
            • Làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống hiện tại của bạn.

            Nếu chứng minh được nội dung họ đăng là sai sự thật, xuyên tạc, vu khống hoặc xúc phạm danh dự, nhân phẩm, thì có thể phát sinh trách nhiệm pháp lý.

            Đáng chú ý, từ 01/7/2026, Nghị định 174/2026/NĐ-CP đã có hiệu lực, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin. Vì vậy, với hành vi xảy ra hiện nay cần áp dụng quy định hiện hành, không nên máy móc viện dẫn Nghị định 15/2020/NĐ-CP như trước đây.

            3. Nặng hơn, có thể bị xử lý hình sự về Tội làm nhục người khác hoặc Tội vu khống

            Tùy nội dung cụ thể, hành vi có thể được xem xét theo:

            Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 – Tội làm nhục người khác

            nếu họ dùng lời nói, hình ảnh, bài viết... nhằm xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của bạn.

            Hoặc:

            Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 – Tội vu khống

            nếu họ bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bạn.

            Việc nhiều người cùng tham gia, liên tục đăng bài, chia sẻ, bình luận, công khai danh tính hoặc sử dụng mạng xã hội để thực hiện hành vi có thể là những tình tiết cần cơ quan chức năng xem xét khi đánh giá mức độ vi phạm.

            Tuy nhiên, không phải cứ đăng bài nói xấu là đương nhiên cấu thành tội phạm. Cơ quan có thẩm quyền sẽ phải xem nội dung cụ thể, mức độ xúc phạm, tính đúng/sai của thông tin, mục đích, hậu quả và chứng cứ.

            4. Bạn cần làm ngay: bảo toàn chứng cứ trước khi yêu cầu họ xóa

            Đây là việc quan trọng nhất.

            Đừng vội nhắn tin chửi lại hoặc tranh cãi với cả nhóm.

            Hãy lưu:

            • Ảnh chụp toàn bộ bài đăng;
            • Link bài đăng;
            • Tên tài khoản;
            • Ảnh đại diện;
            • Ngày giờ đăng;
            • Toàn bộ nội dung bài viết;
            • Bình luận;
            • Lượt chia sẻ;
            • Những người tiếp tục đăng lại;
            • Tin nhắn riêng nếu có;
            • Các nội dung công khai danh tính, số điện thoại, nơi làm việc, hình ảnh...;
            • Nếu có người gửi cho bạn bài đăng, lưu cả tin nhắn người đó gửi.

            Tốt nhất quay màn hình từ lúc mở trang cá nhân/hội nhóm → vào bài viết → kéo toàn bộ nội dung → mở bình luận → thể hiện tên tài khoản và thời gian, để chứng cứ có tính liên tục tốt hơn.

            Nếu nội dung nghiêm trọng, có thể cân nhắc lập vi bằng đối với nội dung trên mạng để tăng giá trị chứng minh.

            5. Sau khi bảo toàn chứng cứ, yêu cầu chấm dứt và gỡ bỏ

            Bạn có thể gửi một yêu cầu chính thức cho người đăng và quản trị viên nhóm:

            Yêu cầu chấm dứt việc đăng tải, chia sẻ thông tin liên quan đến tôi; gỡ bỏ các nội dung xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín và hình ảnh của tôi; không tiếp tục phát tán hoặc bình luận xúc phạm.

            Không nên viết theo kiểu đe dọa hay chửi lại họ.

            Mục đích là tạo thêm chứng cứ cho thấy bạn đã yêu cầu chấm dứt nhưng họ vẫn cố tình tiếp tục.

            6. Nếu họ không dừng lại, bạn có thể trình báo Công an

            Bạn có thể làm đơn trình báo/tố giác gửi cơ quan Công an có thẩm quyền, kèm toàn bộ chứng cứ.

            Trong đơn nên trình bày theo trình tự:

            Ai → đăng gì → đăng ở đâu → khi nào → nội dung nào sai → nội dung nào xúc phạm → có bao nhiêu người tham gia → hậu quả đối với bạn → bạn đã yêu cầu gỡ nhưng họ xử lý thế nào.

            Đặc biệt, nếu có nội dung bịa đặt bạn thực hiện hành vi phạm pháp, ngoại tình, lừa đảo, cướp chồng/vợ, quan hệ bất chính... thì cần lưu nguyên văn nội dung đó vì đây có thể là chứng cứ quan trọng để xem xét dấu hiệu vu khống.

            7. Bạn cũng có thể yêu cầu bồi thường dân sự

            Nếu hành vi của họ gây thiệt hại thực tế cho bạn, có thể xem xét yêu cầu bồi thường theo Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015, trong đó thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm có thể bao gồm:

            • Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;
            • Thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút;
            • Thiệt hại khác theo quy định;
            • Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần.

            Mức bồi thường cụ thể phụ thuộc vào thiệt hại thực tế và mức độ xâm phạm.

            8. Một điểm rất quan trọng: đừng cố chứng minh rằng mình “hoàn toàn không có lỗi”

            Trong trường hợp này, bạn không nhất thiết phải chứng minh mình là người hoàn toàn đúng trong mối quan hệ tình cảm.

            Hãy tách hai vấn đề:

            Bạn có thể đã sai trong một mối quan hệ → đó là câu chuyện giữa bạn và người liên quan.

            nhưng:

            Người khác có quyền lấy câu chuyện đó để bịa đặt, xuyên tạc, xúc phạm, công khai thông tin cá nhân và tổ chức một chiến dịch công kích bạn hay không → đây là một vấn đề pháp lý hoàn toàn khác.

            Nếu thông tin họ đăng là sự thật và việc đưa thông tin đó thuộc trường hợp pháp luật cho phép, việc xử lý sẽ khác. Nhưng nếu họ thêm thắt, bịa đặt, xúc phạm, công khai thông tin cá nhân nhằm hạ nhục bạn, thì việc bạn từng có sai lầm trong quan hệ tình cảm không phải là giấy phép để họ xâm phạm quyền nhân thân của bạn.

            Kết luận

            Có, hành vi bạn mô tả có thể bị xử lý, nhưng phải căn cứ vào nội dung cụ thể họ đã đăng.

            Tôi khuyên bạn đừng đôi co trên mạng. Hãy làm theo thứ tự:

            Bảo toàn chứng cứ → xác định từng tài khoản/người đăng → yêu cầu gỡ bỏ/chấm dứt → nếu không chấm dứt thì trình báo Công an → tùy tính chất, yêu cầu xử phạt hành chính, xử lý hình sự và/hoặc khởi kiện yêu cầu bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín và bồi thường.

            Nếu bạn gửi cho luật sư ảnh chụp các bài đăng/bình luận mà nhóm người đó đang công kích bạn (có thể che số điện thoại, địa chỉ và thông tin riêng tư không cần thiết), luật sư có thể giúp bạn phân loại từng nội dung: cái nào chỉ là ý kiến/chuyện tình cảm, cái nào là xúc phạm, cái nào có dấu hiệu vu khống và cái nào đủ căn cứ để yêu cầu xử lý.

            Nếu bạn cần luật sư, hãy liên hệ i-Law để được tư vấn.

            Nếu bạn vừa ý với nội dung tư vấn, vui lòng để lại nhận xét trên diễn đàn để luật sư có thêm động lực hỗ trợ cộng đồng.


          • Tai nạn lao động

            Tôi có người nhà làm sơn bị tai nạn lao động chết. Tuy nhiên, người nhà tôi không có hợp đồng lao động với bên đại diện thi công (là người trực tiếp gọi người nhà tôi đi làm), tuy nhiên người đại diện thi công này có ký hợp đồng lao động với bên chủ thầu. Giờ cả 2 bên đều đùn đẩy không ai chịu trách nhiệm với gia đình. Vậy theo quy định của pháp luật, bên nào đang sai, và bên nào sẽ có trách nhiệm chi trả cho người nhà tôi.

            Luật sư Nguyễn Thanh Hải đã trả lời

            • 12/08/2026

            Tai nạn lao động

            Chào bạn,

            Với trường hợp bạn trình bày, luật sư tư vấn như sau:

            Đây là vụ việc tai nạn lao động chết người, nhưng người đã trực tiếp gọi người nhà bạn đi làm lại không ký hợp đồng lao động với người đã mất. Tuy nhiên, không thể chỉ dựa vào việc “không có hợp đồng” để kết luận không bên nào phải chịu trách nhiệm.

            Điểm cần làm rõ là ai thực tế thuê, giao việc, quản lý, điều hành và bảo đảm an toàn cho người lao động tại công trình.

            1. Không có hợp đồng bằng văn bản không đồng nghĩa với không có quan hệ lao động

            Theo Điều 13 Bộ luật Lao động 2019, nếu hai bên có thỏa thuận về việc làm có trả công, tiền lương và có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì có thể được xác định là hợp đồng lao động, dù hai bên gọi bằng tên khác hoặc không lập thành văn bản trong trường hợp pháp luật cho phép.

            Do đó, cần chứng minh:

            • Ai trực tiếp gọi người nhà bạn đi làm;
            • Ai thỏa thuận tiền công;
            • Ai giao công việc sơn;
            • Ai bố trí địa điểm, thời gian làm việc;
            • Ai quản lý, giám sát;
            • Ai trả tiền công;
            • Người này làm việc cho ai;
            • Công việc được thực hiện trong công trình của chủ thầu nào.

            Không nên chấp nhận ngay lập luận của hai bên rằng:

            “Không ký hợp đồng nên chúng tôi không có trách nhiệm.”

            2. Người đại diện thi công có thể phải chịu trách nhiệm nếu chính người này thuê và quản lý người đã mất

            Thông tin bạn cung cấp rất đáng chú ý:

            “Người đại diện thi công là người trực tiếp gọi người nhà tôi đi làm, nhưng người đại diện thi công này có ký hợp đồng lao động với bên chủ thầu.”

            Điều này đặt ra hai khả năng.

            Trường hợp 1: Người đại diện thi công thực tế là người trực tiếp thuê, giao việc, trả công và quản lý người đã mất.

            → Có cơ sở xem xét xác định người này là người sử dụng lao động, hoặc ít nhất là chủ thể có trách nhiệm trực tiếp liên quan đến việc bảo đảm an toàn lao động.

            Trường hợp 2: Người này chỉ là nhân viên/đại diện của chủ thầu, được chủ thầu giao nhiệm vụ tuyển người, tổ chức thi công.

            → Khi đó cần xem xét trách nhiệm của chính chủ thầu, vì người đại diện thực hiện công việc nhân danh hoặc trong phạm vi công việc được chủ thầu giao.

            Vì vậy, không thể chỉ nhìn vào việc ai ký hợp đồng với ai mà xác định trách nhiệm.

            3. Chủ thầu cũng không đương nhiên được miễn trách nhiệm

            Nếu chủ thầu nhận thi công công trình và người đại diện thi công là người của chủ thầu, được chủ thầu giao nhiệm vụ tổ chức thi công, thì phải xác minh:

            • Chủ thầu có biết việc tuyển người nhà bạn không?
            • Ai phân công công việc?
            • Ai quản lý người lao động?
            • Ai chịu trách nhiệm về an toàn tại công trường?
            • Người lao động có được huấn luyện an toàn không?
            • Có trang bị phương tiện bảo hộ không?
            • Có biện pháp phòng ngừa nguy hiểm trong công việc sơn không?

            Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 đặt trách nhiệm bảo đảm an toàn lao động lên người sử dụng lao động; trong trường hợp người lao động bị tai nạn, pháp luật còn quy định trách nhiệm bồi thường/trợ cấp tùy nguyên nhân và mức độ suy giảm khả năng lao động.

            4. Nếu người lao động chết do tai nạn lao động thì thân nhân có quyền yêu cầu bồi thường

            Đây là điểm rất quan trọng.

            Theo quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động, trường hợp người lao động chết do tai nạn lao động, nếu tai nạn không do lỗi của người lao động thì thân nhân được bồi thường theo mức luật định; trường hợp có lỗi của người lao động thì vẫn có cơ chế trợ cấp theo quy định.

            Đối với trường hợp chết do tai nạn lao động, mức bồi thường tối thiểu theo quy định về an toàn, vệ sinh lao động là 30 tháng tiền lương trong trường hợp thuộc diện áp dụng quy định này. Ngoài ra còn phải xem xét các khoản chế độ bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác.

            Nhưng trong vụ này có một vấn đề cần giải quyết trước:

            Ai là người sử dụng lao động thực sự của người đã mất?

            Đây chính là nội dung cần điều tra, xác minh chứ không thể để hai bên tự “đùn đẩy”.

            5. Nếu chủ thầu không đóng BHXH thì vẫn phải xem xét quyền lợi của gia đình

            Nếu xác định người đã mất thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc nhưng người sử dụng lao động không đóng BHXH thì việc không đóng bảo hiểm không làm mất quyền lợi của người lao động/thân nhân.

            Pháp luật có cơ chế buộc người sử dụng lao động phải thanh toán khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà người lao động đáng lẽ được hưởng trong trường hợp thuộc diện tham gia nhưng chưa được đóng bảo hiểm.

            Vì vậy, gia đình cần kiểm tra cả quá trình đóng BHXH của người đã mất, nếu trước đó người này từng làm việc cho doanh nghiệp/chủ sử dụng khác.

            6. Ngoài trách nhiệm dân sự và lao động, có thể có trách nhiệm hình sự

            Do hậu quả là chết người, tôi cho rằng gia đình không nên chỉ giải quyết bằng việc “đòi hai bên hỗ trợ tiền”.

            Cần đề nghị cơ quan Công an xác minh nguyên nhân tai nạn và việc chấp hành quy định an toàn lao động.

            Nếu có người có trách nhiệm đã vi phạm quy định về an toàn lao động, dẫn đến chết người, có thể xem xét Điều 295 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 – Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người.

            Việc có truy cứu hình sự hay không phải căn cứ vào kết quả điều tra cụ thể, không thể kết luận chỉ từ thông tin hiện tại.

            7. Gia đình nên làm gì ngay?

            Tôi khuyên gia đình không nên tiếp tục chờ hai bên tự thỏa thuận, mà cần chủ động làm hồ sơ.

            Thứ nhất: Làm đơn trình báo/tố giác với Công an

            Trong đơn ghi rõ:

            • Họ tên người đã mất;
            • Thời gian, địa điểm xảy ra tai nạn;
            • Công việc đang thực hiện;
            • Ai gọi đi làm;
            • Ai giao việc;
            • Ai quản lý;
            • Ai trả tiền công;
            • Tên chủ thầu;
            • Tên người đại diện thi công;
            • Diễn biến tai nạn;
            • Nguyên nhân nghi ngờ;
            • Hậu quả chết người.

            Đồng thời đề nghị xác minh trách nhiệm của cả người đại diện thi công và chủ thầu, không chỉ xác minh một người.

            Thứ hai: Đề nghị lập hồ sơ tai nạn lao động

            Gia đình cần yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác minh, điều tra vụ tai nạn và lập hồ sơ theo quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015.

            Đặc biệt, cần có tài liệu về:

            • Hiện trường;
            • Biên bản tai nạn;
            • Lời khai người chứng kiến;
            • Hồ sơ y tế;
            • Nguyên nhân tử vong;
            • Điều kiện an toàn tại công trường;
            • Người phụ trách an toàn;
            • Người trực tiếp quản lý công việc.

            Thứ ba: Thu thập chứng cứ về quan hệ lao động

            Gia đình cần giữ:

            • Tin nhắn gọi đi làm;
            • Tin nhắn giao việc;
            • Tin nhắn thỏa thuận tiền công;
            • Sao kê/chuyển khoản tiền công;
            • Số điện thoại của người gọi đi làm;
            • Lời khai người làm cùng;
            • Hình ảnh người đã mất tại công trình;
            • Camera công trình;
            • Hình ảnh hiện trường;
            • Danh sách người lao động;
            • Các giấy tờ của chủ thầu;
            • Hợp đồng giữa chủ thầu và người đại diện thi công nếu có thể thu thập.

            Đừng để camera công trình bị ghi đè dữ liệu. Nếu còn camera, gia đình nên đề nghị cơ quan Công an nhanh chóng thu thập.

            8. Gia đình có thể yêu cầu những khoản nào?

            Sau khi xác định được chủ thể chịu trách nhiệm, cần xem xét tối thiểu các nhóm quyền lợi:

            Một là, chi phí cứu chữa, cấp cứu trước khi chết nếu thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động.

            Hai là, tiền lương/tiền công và các khoản liên quan theo quy định.

            Ba là, khoản bồi thường hoặc trợ cấp do tai nạn lao động chết người.

            Bốn là, các chế độ BHXH liên quan đến tai nạn lao động, tử tuất nếu đủ điều kiện.

            Năm là, trong trường hợp có hành vi gây thiệt hại ngoài quan hệ lao động, còn phải xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Bộ luật Dân sự 2015, bao gồm các khoản thiệt hại thực tế và quyền lợi của thân nhân theo từng trường hợp.

            9. Vậy cuối cùng bên nào phải trả?

            Với dữ kiện hiện tại, chưa thể khẳng định ngay chỉ chủ thầu hoặc chỉ người đại diện thi công phải trả.

            Phải xác định quan hệ thực tế:

            Người trực tiếp thuê → ai trả công → ai giao việc → ai quản lý → ai tổ chức thi công → ai có nghĩa vụ bảo đảm an toàn → nguyên nhân tai nạn → lỗi của từng chủ thể.

            Có thể xảy ra trường hợp chủ thầu là người sử dụng lao động, người đại diện thi công chỉ là người được giao nhiệm vụ; cũng có thể người đại diện thi công là người trực tiếp thuê và sử dụng lao động, từ đó phát sinh trách nhiệm riêng.

            Nếu có lỗi của nhiều chủ thể, trách nhiệm của từng người/doanh nghiệp phải được xác định dựa trên hành vi, nghĩa vụ và mức độ lỗi của từng bên.

            Tôi đặc biệt lưu ý gia đình một việc:

            Không nên ký bất kỳ giấy “cam kết đã giải quyết xong”, “hỗ trợ gia đình”, “không khiếu nại”, “không yêu cầu bồi thường” nào với chủ thầu hoặc người đại diện thi công trước khi luật sư xem nội dung.

            Vụ việc đã có hậu quả chết người, vì vậy cần làm rõ trách nhiệm pháp lý trước, sau đó mới tính đến phương án thương lượng bồi thường.

            Nếu gia đình cung cấp thêm (1) ai là người trả tiền công cho người đã mất, (2) ai trực tiếp giao việc sơn, (3) tai nạn xảy ra tại công trình của ai, (4) nguyên nhân cụ thể dẫn đến tử vong và (5) chủ thầu là cá nhân hay công ty, luật sư có thể phân tích sâu hơn bên nào có tư cách người sử dụng lao động, ai phải bồi thường và gia đình có thể yêu cầu những khoản tiền cụ thể nào.

            Nếu bạn cần luật sư, hãy liên hệ i-Law để được tư vấn.

            Nếu bạn vừa ý với nội dung tư vấn, vui lòng để lại nhận xét trên diễn đàn để luật sư có thêm động lực hỗ trợ cộng đồng.


          • Bị tai nạn lao động không hợp đồng

            Cậu tôi có làm cho một chủ thầu về nhà tiền chế , không có hợp đồng Trong lúc làm việc trên mái tôn trên nóc nhà thì bị điện giật ngày 7/8/2026 sau đó chủ nhà đã gọi cho chủ thầu chở cậu tôi đi bệnh viện ở long xuyên sau đó được chuyển tuyến lên bệnh viện chợ rẩy thì toàn bộ tiền chi phí từ bệnh viện ở long xuyên đến bệnh viện chợ rẩy là do chủ thầu chi trả Sáng 9/8/2026 đã bỏ về và nói chỉ lo tới đó là đủ Cậu tôi bị bỏng nặng , 2 chân cháy đen , 1 ngón tay không giữ được , không thể tự vệ sinh phải đặt ống tiểu Gia đình nghèo còn phải lo cha mẹ già hơn 70t Số tiền điều trị lên đến mấy trăm triệu - Chủ thầu có phải chịu trách nghiệm chi trả , bồi thường đến khi cậu tôi bình phục không ? - Gia đình tôi cần cơ quan nào ? , xin những biên bản bằng chứng gì ? -,... Mong Luật Sư giải đáp thắc gia đình tôi biết ơn rất nhiều

            Luật sư Nguyễn Thanh Hải đã trả lời

            • 12/08/2026

            Bị tai nạn lao động không hợp đồng

            Chào bạn,

            Với trường hợp bạn trình bày, luật sư tư vấn như sau:

            Đây là vụ việc rất nghiêm trọng vì tai nạn xảy ra trong quá trình làm việc, nạn nhân bị bỏng nặng, tổn thương nghiêm trọng đến chân và ngón tay. Việc không ký hợp đồng lao động bằng văn bản không có nghĩa là chủ thầu đương nhiên được miễn trách nhiệm.

            1. Không có hợp đồng bằng văn bản vẫn có thể được xác định là quan hệ lao động

            Theo Điều 13 Bộ luật Lao động 2019, hợp đồng lao động là sự thỏa thuận về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên; trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện việc làm có trả công, tiền lương và có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì vẫn được coi là hợp đồng lao động.

            Vì vậy, nếu cậu bạn:

            • Nhận việc từ chủ thầu;
            • Được chủ thầu phân công công việc;
            • Làm tại công trình của chủ thầu;
            • Nhận tiền công/lương từ chủ thầu;
            • Chịu sự quản lý, điều hành của chủ thầu;

            thì không thể chỉ vì không có giấy hợp đồng mà phủ nhận quan hệ lao động.

            Gia đình cần thu thập ngay chứng cứ chứng minh quan hệ này: tin nhắn giao việc, cuộc gọi, hình ảnh tại công trình, người làm cùng, tiền công, chuyển khoản, lịch làm việc, đồng phục, dụng cụ, người chứng kiến...

            2. Đây có dấu hiệu là tai nạn lao động

            Theo Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.

            Trường hợp cậu bạn đang làm việc trên mái tôn và bị điện giật thì về nguyên tắc có căn cứ rất rõ để yêu cầu xác định là tai nạn lao động, nếu xác minh đúng diễn biến như gia đình trình bày.

            Người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm điều kiện an toàn, huấn luyện an toàn và thực hiện các biện pháp phòng ngừa nguy cơ tai nạn.

            3. Chủ thầu có phải tiếp tục thanh toán toàn bộ chi phí điều trị không?

            Có khả năng phải chịu trách nhiệm, và việc chủ thầu nói “chỉ lo đến đó là đủ” không làm chấm dứt nghĩa vụ pháp lý của họ.

            Theo Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người sử dụng lao động có trách nhiệm:

            • Kịp thời sơ cứu, cấp cứu người lao động;
            • Tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị;
            • Thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định trong những trường hợp luật định;
            • Trả đủ tiền lương cho người lao động trong thời gian nghỉ điều trị;
            • Bồi thường hoặc trợ cấp cho người lao động bị tai nạn lao động theo mức độ lỗi và suy giảm khả năng lao động.

            Đây là nghĩa vụ pháp lý, không phải khoản hỗ trợ tự nguyện của chủ thầu.

            Việc chủ thầu đã trả tiền từ bệnh viện Long Xuyên đến Chợ Rẫy chỉ có thể được xem là một phần trách nhiệm đã thực hiện, không đồng nghĩa với việc họ có quyền dừng mọi trách nhiệm sau ngày 9/8/2026.

            4. Nếu chủ thầu không đóng BHXH thì quyền lợi của cậu bạn vẫn không mất

            Nếu sau khi xác minh, cậu bạn thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc mà chủ thầu không đăng ký, không đóng BHXH thì đây là vi phạm của người sử dụng lao động.

            Đáng chú ý, pháp luật về tai nạn lao động có cơ chế bảo vệ người lao động trong trường hợp thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc nhưng người sử dụng lao động chưa đóng bảo hiểm: người sử dụng lao động phải trả khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà người lao động đáng lẽ được hưởng. Quy định về trách nhiệm này đã được ghi nhận trong pháp luật lao động và an toàn, vệ sinh lao động.

            Do đó, không được để chủ thầu lấy lý do “không có hợp đồng, không đóng bảo hiểm” để phủi trách nhiệm.

            5. Ngoài chi phí điều trị, cậu bạn còn có thể được bồi thường

            Nếu xác định là tai nạn lao động, cần tiến hành giám định mức suy giảm khả năng lao động sau khi tình trạng thương tật ổn định theo quy định.

            Nếu tai nạn không do lỗi của người lao động, người sử dụng lao động phải bồi thường theo mức suy giảm khả năng lao động; trường hợp người lao động có lỗi thì vẫn có chế độ trợ cấp theo luật.

            Đặc biệt, với tình trạng bạn mô tả:

            “2 chân cháy đen, 1 ngón tay không giữ được, không thể tự vệ sinh, phải đặt ống tiểu”

            thì khả năng suy giảm khả năng lao động có thể rất đáng kể. Chưa thể tự kết luận tỷ lệ %, nhưng gia đình tuyệt đối không nên thỏa thuận một khoản tiền bồi thường cuối cùng với chủ thầu khi chưa có hồ sơ y tế đầy đủ và chưa đánh giá mức độ thương tật.

            6. Gia đình cần làm ngay việc gì?

            Tôi khuyên gia đình không chờ chủ thầu nữa, mà thực hiện đồng thời các việc sau.

            Thứ nhất: yêu cầu bệnh viện bảo toàn toàn bộ hồ sơ.

            Xin bản sao:

            • Hồ sơ cấp cứu;
            • Phiếu nhập viện;
            • Giấy chuyển viện;
            • Hồ sơ bệnh án;
            • Phiếu chẩn đoán;
            • Kết quả xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh;
            • Phiếu phẫu thuật/thủ thuật;
            • Giấy xác nhận thương tích;
            • Hóa đơn, chứng từ viện phí;
            • Các giấy tờ thể hiện nguyên nhân tai nạn nếu bệnh viện có ghi nhận.

            Thứ hai: lưu giữ toàn bộ chứng cứ về tai nạn.

            Đặc biệt:

            • Ảnh/video hiện trường;
            • Ảnh mái tôn;
            • Ảnh đường dây điện;
            • Tình trạng công trình;
            • Người chứng kiến;
            • Thông tin chủ nhà;
            • Thông tin chủ thầu;
            • Người cùng làm;
            • Tin nhắn giao việc;
            • Tin nhắn chủ thầu gọi xe đưa đi viện;
            • Chứng từ chủ thầu thanh toán viện phí;
            • Hình ảnh cậu bạn đang làm việc tại công trình.

            Không nên để hiện trường bị sửa chữa hoặc tháo dỡ mà chưa được ghi nhận, chụp ảnh.

            7. Cần báo cơ quan nào?

            Gia đình nên làm đơn trình báo/yêu cầu xác minh tai nạn lao động ngay, gửi đến cơ quan có thẩm quyền về lao động tại địa phương nơi xảy ra tai nạn và Công an nơi xảy ra tai nạn, đặc biệt vì đây là tai nạn điện giật nghiêm trọng.

            Cơ quan có thẩm quyền có thể xác minh:

            • Cậu bạn có phải người lao động của chủ thầu hay không;
            • Ai giao việc;
            • Ai quản lý công việc;
            • Điều kiện an toàn tại công trình;
            • Hệ thống điện có bảo đảm an toàn không;
            • Có được huấn luyện an toàn hay không;
            • Có trang bị phương tiện bảo hộ hay không;
            • Nguyên nhân trực tiếp gây điện giật;
            • Lỗi thuộc về chủ thầu, chủ công trình, người lao động hay các bên khác.

            Pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động yêu cầu tai nạn lao động phải được khai báo, điều tra, lập biên bản, thống kê và báo cáo theo quy định.

            8. Rất quan trọng: đừng chỉ kiện chủ thầu mà bỏ qua chủ nhà/chủ công trình

            Theo thông tin bạn cung cấp, cậu bạn làm nhà tiền chế và bị điện giật trên mái nhà.

            Cần xác minh nguồn điện gây tai nạn thuộc ai quản lý, chẳng hạn:

            • Đường điện của chủ nhà;
            • Đường điện của công trình;
            • Dây điện do chủ thầu kéo;
            • Dây điện của đơn vị khác;
            • Hay do chủ thầu bố trí người lao động làm việc trong vùng nguy hiểm.

            Nếu lỗi liên quan đến chủ nhà/chủ công trình hoặc đơn vị điện, thì có thể phát sinh trách nhiệm của các chủ thể khác ngoài chủ thầu.

            Vì vậy, gia đình không nên ký giấy xác nhận chỉ có chủ thầu chịu hoặc chỉ có chủ nhà chịu trách nhiệm trước khi xác định nguyên nhân tai nạn.

            9. Gia đình có thể yêu cầu những khoản nào?

            Về cơ bản cần xem xét:

            (1) Chi phí y tế:
            Các khoản chi phí thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động theo pháp luật về tai nạn lao động.

            (2) Tiền lương/tiền công trong thời gian điều trị:
            Nếu xác định quan hệ lao động và thuộc trường hợp pháp luật quy định.

            (3) Bồi thường/trợ cấp tai nạn lao động:
            Căn cứ nguyên nhân tai nạn, lỗi và tỷ lệ suy giảm khả năng lao động.

            (4) Chi phí hợp lý khác:
            Cần kiểm tra căn cứ pháp lý và chứng từ cụ thể, chẳng hạn chi phí phục vụ việc điều trị, chăm sóc nếu thuộc trách nhiệm của bên gây thiệt hại.

            (5) Chế độ BHXH về tai nạn lao động:
            Nếu đủ điều kiện; trường hợp chủ sử dụng lao động không đóng BHXH thuộc diện bắt buộc thì phải xem xét trách nhiệm thay thế của chủ sử dụng lao động.

            10. Có thể phát sinh trách nhiệm hình sự không?

            Có thể, nhưng chưa thể kết luận ngay.

            Nếu quá trình xác minh cho thấy chủ thầu hoặc người có trách nhiệm vi phạm nghiêm trọng quy định về an toàn lao động, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, thì có thể xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 295 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 – Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người.

            Do đó, việc báo Công an không chỉ nhằm “đòi tiền”, mà còn để bảo toàn chứng cứ và xác định nguyên nhân, lỗi của các bên.

            Việc gia đình nên làm ngay trong ngày

            Tôi đề nghị gia đình ưu tiên 05 việc:

            1. Không ký giấy cam kết “đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm”.
            2. Yêu cầu bệnh viện cung cấp/bảo lưu toàn bộ hồ sơ bệnh án và chứng từ viện phí.
            3. Chụp, quay và lưu giữ toàn bộ chứng cứ về hiện trường, dây điện, mái nhà và công việc cậu đang thực hiện.
            4. Lập văn bản yêu cầu chủ thầu tiếp tục thực hiện đầy đủ trách nhiệm đối với tai nạn lao động, không chỉ dừng ở khoản đã thanh toán.
            5. Trình báo tai nạn với cơ quan Công an và cơ quan quản lý nhà nước về lao động có thẩm quyền nơi xảy ra tai nạn, yêu cầu xác minh, điều tra và lập hồ sơ tai nạn lao động.

            Với thương tích rất nặng như bạn mô tả, gia đình không nên tự thương lượng miệng với chủ thầu về một con số bồi thường. Trước tiên phải xác định quan hệ lao động, nguyên nhân tai nạn, trách nhiệm của từng bên và mức suy giảm khả năng lao động.

            Nếu gia đình có hình ảnh hiện trường, giấy nhập viện/chuyển viện và bất kỳ tin nhắn nào giữa cậu bạn với chủ thầu, có thể gửi để luật sư xem. Từ đó có thể xác định cụ thể chủ thầu phải chịu những khoản nào, có thể yêu cầu bồi thường bao nhiêu và nên làm đơn gửi cơ quan nào trước.

            Nếu bạn cần luật sư, hãy liên hệ i-Law để được tư vấn.

            Nếu bạn vừa ý với nội dung tư vấn, vui lòng để lại nhận xét trên diễn đàn để luật sư có thêm động lực hỗ trợ cộng đồng.


          • CHIA ĐẤT TÀI SẢN HỘ GIA ĐÌNH

            "Chào Luật sư, Tôi cần tư vấn và thuê Luật sư đại diện tham gia xét xử PHÚC THẨM vụ án Tranh chấp Đất đai Hộ gia đình tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long. Tôi xin tóm tắt đầy đủ vụ việc như sau: 1. Nguồn gốc đất & Hồ sơ pháp lý: • Đất được Tập đoàn sản xuất giao cấp t cho Hộ gia đình gồm 06 nhân khẩu (Mẹ tôi làm Chủ hộ). • Giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho Hộ gia đình, gồm các thửa: o Thửa 204 (có căn nhà): diện tích [807,5m²]. o Thửa 211: diện tích [995 m²]. o Thửa 49: diện tích [4,231,1m²]. 2. Mâu thuẫn & Diễn biến vụ án: - Ba mẹ đã ly hôn • Năm 2024, Ba tôi (Nguyên đơn) tự ý thuê đơn vị đo đạc lập hồ sơ trích đo xin tách Sổ đỏ từng thửa. Ba tôi đã nộp đơn khởi kiện ra Tòa án đòi chia tách Sổ. - Ba tôi: Đất có nguồn gốc phụng thờ Liệt sĩ, nên đòi sở hữu riêng phần đất có căn nhà là thửa 204 ( năm 2024 ông đo đạc chia 1 phần cho anh trai vì anh đã xây nhà dt 252,2m2, còn ông đòi dt 555,3m2 phần có căn nhà), và thửa 211 - Mẹ tôi và 4 người con (Bị đơn/Người liên quan): muốn giử đất chung của hộ. Mẹ con tôi vẫn đồng ý cho ba ở và thờ cúng ls chỉ ko dc tách chia cho cá nhân ông, vẫn giữ tài sản chung của Hộ( vì mục đích ông đòi để bán hoặc tặng cho nkhac ) 3. Phán quyết của Tòa Sơ thẩm (vừa tuyên): • Tòa tuyên chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn: Giao trọn thửa 204 (có nhà) và thửa 211 cho Ba tôi với lý do ưu đãi Liệt sĩ/thờ cúng, buộc Ba tôi thối lại cho Mẹ tôi 97 triệu đồng để lấy căn nhà và đất này. • Mẹ con tôi thì bị Tòa chia/dồn sang thửa 49 4. Nhu cầu hiện tại: • Gia đình đang làm thủ tục nộp Đơn kháng cáo Phúc thẩm • Mẹ con tôi muốn đặt lịch tư vấn trực tiếp để Luật sư nghiên cứu hồ sơ và đại diện tham gia xét xử Phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long Rất mong Luật sư xem qua và tư vấn. Tôi xin cảm ơn!"

            Luật sư Nguyễn Thanh Hải đã trả lời

            • 12/08/2026

            CHIA ĐẤT TÀI SẢN HỘ GIA ĐÌNH

            Chào bạn,

            Với trường hợp bạn trình bày, luật sư tư vấn như sau:

            Đây là vụ án khá phức tạp và có điểm để kháng cáo, đặc biệt ở vấn đề xác định ai là người có quyền đối với quyền sử dụng đất được cấp cho hộ gia đình, cũng như việc Tòa sơ thẩm có đủ căn cứ để giao riêng thửa 204 và 211 cho người cha hay không.

            1. Điểm mấu chốt không phải là “ba là chủ hộ” mà là 06 thành viên nào có quyền đối với đất

            Theo thông tin bạn cung cấp, đất ban đầu được Tập đoàn sản xuất giao cho hộ gia đình 06 nhân khẩu, mẹ là chủ hộ và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng ghi cấp cho hộ gia đình.

            Đây là tình tiết đặc biệt quan trọng.

            Pháp luật đất đai trước đây sử dụng khái niệm “hộ gia đình sử dụng đất”. Khi giải quyết tranh chấp, Tòa án không thể chỉ nhìn vào người đứng tên/chủ hộ mà phải xác định những thành viên có chung quyền sử dụng đất tại thời điểm Nhà nước công nhận/giao đất, căn cứ vào nguồn gốc đất, quá trình giao đất, hồ sơ địa chính và thực tế sử dụng.

            Về nguyên tắc tài sản chung của các thành viên gia đình, Điều 212 Bộ luật Dân sự 2015 quy định việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo thỏa thuận; đối với bất động sản, việc định đoạt phải có sự thỏa thuận của các thành viên thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

            Vì vậy, nếu thực sự có 06 thành viên cùng có quyền sử dụng đất, thì việc một mình người cha yêu cầu Tòa giao riêng hai thửa đất cho mình cần phải được xem xét rất kỹ.

            2. Việc cha mẹ ly hôn không đồng nghĩa toàn bộ đất hộ gia đình trở thành tài sản riêng của người cha

            Đây là điểm tôi cho rằng phía mẹ và các con cần đặc biệt nhấn mạnh khi kháng cáo.

            Nếu quyền sử dụng đất được xác lập cho hộ gia đình 06 người, thì việc cha mẹ ly hôn chỉ giải quyết quan hệ tài sản của vợ chồng trong phạm vi quyền mà mỗi người thực sự có.

            Không thể suy luận:

            “Cha mẹ ly hôn → cha được chia phần đất có nhà → cha được nhận riêng toàn bộ thửa 204 và 211.”

            Muốn giao riêng cho người cha, Tòa phải xác định:

            • Nguồn gốc đất;
            • Thời điểm Nhà nước giao đất;
            • Thành phần hộ tại thời điểm được giao đất;
            • Ai trực tiếp sử dụng đất;
            • Quyền của từng thành viên;
            • Đất là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản chung của các thành viên hộ;
            • Có thỏa thuận phân chia trước đó hay không;
            • Căn cứ pháp luật nào cho phép giao toàn bộ thửa 204 và 211 cho người cha.

            Nếu những vấn đề này chưa được làm rõ thì đây là nội dung rất đáng đưa vào kháng cáo.

            3. Lý do “đất có nguồn gốc phụng thờ liệt sĩ” không đương nhiên làm phát sinh quyền sở hữu riêng của người cha

            Theo thông tin bạn cung cấp, người cha cho rằng đất có nguồn gốc để phụng thờ liệt sĩ, từ đó yêu cầu được nhận thửa 204 có căn nhà và thửa 211.

            Cần tách bạch hai vấn đề:

            Một là quyền sử dụng đất.

            Hai là mục đích sử dụng/thờ cúng liệt sĩ.

            Việc gia đình thống nhất dành nhà, đất để thờ cúng liệt sĩ có thể là một yếu tố cần xem xét khi phân chia hiện vật, nhưng không tự động biến quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thành tài sản riêng của một người.

            Đặc biệt, chính phía mẹ và các con cũng đã thể hiện một phương án rất hợp lý:

            Đồng ý cho người cha tiếp tục ở và thực hiện việc thờ cúng liệt sĩ nhưng không đồng ý việc tách quyền sử dụng đất chung thành tài sản riêng để người cha có thể bán, tặng cho hoặc định đoạt cho người khác.

            Đây là tình tiết nên được trình bày rõ tại cấp phúc thẩm.

            4. Tòa sơ thẩm giao trọn thửa 204 và 211 cho cha nhưng chỉ buộc cha trả 97 triệu đồng là vấn đề cần kiểm tra rất kỹ

            Tôi đặc biệt lưu ý điểm này.

            Nếu tổng giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa 204 và 211 lớn hơn rất nhiều so với 97 triệu đồng, thì cần kiểm tra:

            • Hội đồng định giá đã định giá bao nhiêu?
            • Giá trị quyền sử dụng đất là bao nhiêu?
            • Giá trị căn nhà là bao nhiêu?
            • Tòa xác định phần quyền của từng người thế nào?
            • Vì sao cha được nhận hiện vật có giá trị lớn nhưng chỉ phải thanh toán 97 triệu?
            • Phần quyền của từng người con được tính như thế nào?
            • Thửa 49 được giao cho mẹ và các con có giá trị tương đương hay không?

            Nếu việc phân chia làm cho mẹ và 4 người con nhận phần giá trị thấp hơn đáng kể so với quyền của mình, thì có cơ sở để yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại.

            5. Không nên chỉ kháng cáo với lý do “chúng tôi không đồng ý”

            Đơn kháng cáo nên tập trung vào sai lầm của bản án sơ thẩm.

            Tôi đề xuất phía mẹ và các con xây dựng các nhóm kháng cáo sau:

            Nhóm 1 – Xác định sai chủ thể có quyền sử dụng đất

            Đề nghị Tòa phúc thẩm xác định rõ:

            Quyền sử dụng đất được Nhà nước giao/cấp cho hộ gia đình gồm 06 thành viên, không phải tài sản riêng của người cha.

            Yêu cầu Tòa xác định cụ thể 06 thành viên tại thời điểm được giao đất/cấp giấy chứng nhận, chứ không chỉ căn cứ vào người đứng tên chủ hộ.

            Nhóm 2 – Chưa làm rõ nguồn gốc và quá trình hình thành quyền sử dụng đất

            Đề nghị thu thập:

            • Hồ sơ giao đất của Tập đoàn sản xuất;
            • Danh sách 06 nhân khẩu của hộ tại thời điểm giao đất;
            • Hồ sơ kê khai đăng ký đất đai;
            • Hồ sơ cấp GCNQSDĐ;
            • Sổ hộ khẩu/tài liệu cư trú lịch sử;
            • Hồ sơ địa chính;
            • Các tài liệu thể hiện quá trình quản lý, sử dụng từng thửa.

            Đây có thể là nhóm chứng cứ quan trọng nhất của vụ án.

            Nhóm 3 – Không có căn cứ giao riêng thửa 204 và 211 cho cha

            Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét:

            Người cha có căn cứ pháp lý nào để được nhận toàn bộ thửa 204 và thửa 211, trong khi đất có nguồn gốc được giao cho hộ gia đình 06 người?

            Nếu không chứng minh được quyền riêng của cha thì việc giao riêng hai thửa cho cha cần được xem xét lại.

            Nhóm 4 – Đánh giá chưa đúng ý nghĩa của việc thờ cúng liệt sĩ

            Phía mẹ và các con không phản đối việc thờ cúng.

            Ngược lại, có thể khẳng định:

            “Gia đình thống nhất bảo đảm việc thờ cúng liệt sĩ, nhưng việc thờ cúng không đồng nghĩa với việc chuyển toàn bộ quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thành tài sản riêng của nguyên đơn.”

            Đây là cách lập luận mềm nhưng rất có lợi.

            Nhóm 5 – Phương án chia hiện vật chưa bảo đảm quyền lợi của các đồng chủ thể

            Đề nghị Tòa phúc thẩm xem xét lại toàn bộ:

            • Diện tích;
            • Giá trị từng thửa;
            • Giá trị nhà;
            • Giá trị quyền sử dụng đất;
            • Phần quyền của từng thành viên;
            • Khoản tiền phải thanh toán chênh lệch.

            Không nên chỉ tranh luận về diện tích mà phải chuyển thành bài toán giá trị quyền tài sản của từng người.

            6. Có một vấn đề rất quan trọng: cần kiểm tra thời điểm cấp GCN

            Đây là hồ sơ tôi sẽ yêu cầu xem đầu tiên nếu nhận đại diện phúc thẩm.

            Bởi vì pháp luật đất đai đã thay đổi qua nhiều thời kỳ. Đất của gia đình được giao từ thời điểm nào, GCN cấp năm nào, trên GCN ghi chính xác:

            “Hộ ông...”
            “Hộ bà...”
            hay chỉ ghi tên một cá nhân

            sẽ ảnh hưởng rất lớn đến phương án lập luận.

            Ngoài ra, phải xác định 06 nhân khẩu gồm những ai, tuổi của từng người tại thời điểm Nhà nước giao đất/công nhận quyền sử dụng đất.

            Không thể chỉ nói chung chung “hộ có 06 người”.

            7. Một điểm cần lưu ý về yêu cầu “giữ đất chung, không chia”

            Phía mẹ và các con cần cẩn thận với cách yêu cầu này.

            Nếu pháp luật và chứng cứ xác định đây thực sự là tài sản chung của nhiều người, thì việc “giữ chung vĩnh viễn” không phải lúc nào cũng là phương án mà Tòa buộc phải chấp nhận.

            Theo Điều 212 Bộ luật Dân sự 2015, việc định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình trước hết dựa trên thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần và pháp luật có liên quan.

            Do đó, tại phúc thẩm tôi sẽ không chỉ yêu cầu:

            “Không chia đất.”

            Mà nên xây dựng các yêu cầu theo thứ tự ưu tiên:

            Yêu cầu 1: Hủy/sửa phần bản án giao riêng thửa 204 và 211 cho cha vì chưa xác định đúng quyền của các thành viên hộ.

            Yêu cầu 2: Công nhận quyền của các thành viên có quyền sử dụng đất theo đúng nguồn gốc và chứng cứ.

            Yêu cầu 3: Nếu phải chia thì chia theo đúng phần quyền của từng người, bảo đảm giá trị tương ứng.

            Yêu cầu 4: Bảo đảm khu vực nhà, nơi thờ cúng liệt sĩ được duy trì phù hợp với nguyện vọng và điều kiện thực tế của gia đình.

            Cách yêu cầu này an toàn hơn nhiều so với việc chỉ yêu cầu “đất phải giữ chung”.

            8. Về việc thuê luật sư tham gia phúc thẩm

            Với tình trạng hồ sơ như bạn mô tả, tôi đánh giá đây không phải vụ án nên chỉ làm một lá đơn kháng cáo rồi chờ phiên tòa.

            Luật sư cần nghiên cứu ít nhất:

            1. Bản án sơ thẩm;
            2. Đơn khởi kiện;
            3. Bản tự khai của người cha;
            4. Bản tự khai của mẹ và 4 người con;
            5. GCNQSDĐ của cả 03 thửa;
            6. Hồ sơ giao đất của Tập đoàn sản xuất;
            7. Hồ sơ địa chính;
            8. Hồ sơ đo đạc năm 2024 do người cha tự thuê;
            9. Chứng thư/thẩm định giá;
            10. Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ;
            11. Biên bản hòa giải;
            12. Biên bản phiên tòa sơ thẩm;
            13. Các tài liệu chứng minh nguồn gốc “đất phụng thờ liệt sĩ”.

            Đặc biệt phải đọc phần “Nhận định của Tòa án” và “Quyết định” của bản án sơ thẩm. Chỉ khi nhìn chính xác Tòa dựa vào điều luật và chứng cứ nào để giao 2 thửa đất cho người cha thì mới xây dựng được mũi kháng cáo đủ mạnh.

            Đánh giá sơ bộ của luật sư

            Với dữ kiện hiện tại, tôi chưa đồng ý với cách giải quyết của bản án sơ thẩm nếu đúng là:

            • Đất có nguồn gốc được giao cho hộ 06 nhân khẩu;
            • GCN được cấp cho hộ gia đình;
            • Không có văn bản/thỏa thuận hợp pháp xác lập quyền riêng của người cha;
            • Nhưng Tòa vẫn giao riêng toàn bộ thửa 204 và 211 cho cha;
            • Và căn cứ chủ yếu là yếu tố thờ cúng liệt sĩ/ưu đãi liệt sĩ.

            Tuy nhiên, để kết luận bản án sai ở đâu, vi phạm điều luật nào và khả năng sửa/hủy bản án ở cấp phúc thẩm đến đâu, bắt buộc phải xem bản án và hồ sơ gốc.

            Nếu gia đình thực sự muốn thuê luật sư đại diện tại phúc thẩm, nên gửi trước bản án sơ thẩm + GCNQSDĐ + tài liệu thể hiện 06 thành viên hộ. Đây là 3 nhóm tài liệu tôi ưu tiên nghiên cứu trước để đánh giá khả năng kháng cáo.

            Nếu bạn cần luật sư, hãy liên hệ i-Law để được tư vấn.

            Nếu bạn vừa ý với nội dung tư vấn, vui lòng để lại nhận xét trên diễn đàn để luật sư có thêm động lực hỗ trợ cộng đồng.


          • tranh chấp đất

            nguyên đơn. khởi kiên với 2 lời khai . đơn khỏi kiện ghi rời đi 1985 .đơn khiếu nại ghi lại 1999 . thì đương sự phải xử lý sao

            Luật sư Nguyễn Thanh Hải đã trả lời

            • 12/08/2026

            tranh chấp đất

            Chào bạn,

            Với trường hợp bạn trình bày, luật sư tư vấn như sau:

            1. Việc nguyên đơn trình bày hai mốc thời gian khác nhau (1985 và 1999) là một điểm mâu thuẫn cần được làm rõ

            Nếu trong Đơn khởi kiện, nguyên đơn khai rằng đã “rời đi năm 1985”, nhưng trong đơn khiếu nại lại khai “rời đi năm 1999”, thì đây là hai lời khai có sự mâu thuẫn về một tình tiết thực tế quan trọng.

            Trong vụ án tranh chấp đất đai, thời điểm rời khỏi đất có thể liên quan trực tiếp đến việc xác định:

            • Ai là người quản lý, sử dụng đất qua các thời kỳ;
            • Quá trình sử dụng đất có liên tục, ổn định hay không;
            • Ai thực tế quản lý, sử dụng đất từ năm 1985 đến 1999 và sau đó;
            • Nguồn gốc và quá trình hình thành quyền sử dụng đất;
            • Tính chính xác, khách quan của lời khai nguyên đơn.

            Theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp phải cung cấp chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình có căn cứ và hợp pháp.

            Do đó, không phải cứ nguyên đơn khai trong đơn khởi kiện thì Tòa án đương nhiên lấy đó làm sự thật.

            2. Đương sự nên làm gì?

            Nếu bạn là bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, thì không nên chỉ nói rằng “nguyên đơn khai gian”, mà cần biến mâu thuẫn 1985/1999 thành một vấn đề chứng cứ cụ thể.

            Bạn nên có văn bản gửi Tòa án, chỉ rõ:

            “Tại Đơn khởi kiện ngày... nguyên đơn xác định đã rời khỏi đất từ năm 1985. Tuy nhiên, tại Đơn khiếu nại ngày... nguyên đơn lại xác định thời điểm rời khỏi đất là năm 1999. Hai lời trình bày này mâu thuẫn nhau 14 năm và có ý nghĩa trực tiếp đối với việc xác định quá trình quản lý, sử dụng đất.”

            Sau đó đề nghị Tòa án:

            1. Yêu cầu nguyên đơn giải thích cụ thể lý do có sự khác nhau giữa hai lời khai;
            2. Xác định tài liệu nào là căn cứ cho từng mốc thời gian;
            3. Đối chất nếu cần thiết;
            4. Thu thập hồ sơ quản lý đất đai qua các thời kỳ;
            5. Xác minh người thực tế quản lý, sử dụng đất trong khoảng thời gian 1985–1999 và sau năm 1999;
            6. Đánh giá mâu thuẫn này khi xem xét tính có căn cứ của yêu cầu khởi kiện.

            Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cũng quy định về quyền, nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ và việc Tòa án yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung khi chứng cứ chưa đủ cơ sở giải quyết vụ án.

            3. Không nên yêu cầu Tòa án “bác đơn” chỉ vì có mâu thuẫn này

            Đây là điểm rất quan trọng.

            Việc nguyên đơn khai 1985 ở một văn bản và 1999 ở văn bản khác không tự động dẫn đến việc Tòa án bác yêu cầu khởi kiện.

            Tòa án sẽ phải đánh giá toàn bộ hệ thống chứng cứ.

            Ví dụ, nếu nguyên đơn có:

            • giấy tờ đất từ trước năm 1985;
            • tài liệu thể hiện nguồn gốc đất;
            • nhân chứng;
            • hồ sơ địa chính;
            • giấy tờ kê khai đăng ký đất;
            • tài liệu về việc quản lý, sử dụng đất;

            thì Tòa án vẫn có thể xác định mốc thời gian thực tế dựa trên những chứng cứ đó.

            Ngược lại, nếu nguyên đơn không chứng minh được quá trình sử dụng đất và hai lời khai 1985/1999 mâu thuẫn với các tài liệu khách quan thì đây có thể là điểm rất có lợi cho phía bị đơn.

            4. Cần đặc biệt làm rõ: “rời đi” có nghĩa là gì?

            Tôi lưu ý thêm một điểm: từ “rời đi” chưa đủ để kết luận người đó đã mất quyền sử dụng đất.

            Phải làm rõ:

            Rời đi khỏi nơi ở nhưng vẫn quản lý đất?

            hay

            Rời khỏi đất và giao đất cho người khác quản lý?

            hay

            Bỏ hẳn việc quản lý, sử dụng đất?

            Ví dụ, nếu nguyên đơn nói “năm 1985 tôi đi nơi khác sinh sống” nhưng vẫn giữ giấy tờ, vẫn kê khai đất, vẫn có người quản lý thay mình thì ý nghĩa pháp lý hoàn toàn khác với trường hợp từ năm 1985 đã giao đất cho người khác và không còn quản lý, sử dụng.

            Do đó, khi tranh luận, không nên chỉ tập trung vào con số 1985 hay 1999, mà phải khai thác hậu quả thực tế của việc rời đi.

            5. Nếu vụ án đã đưa ra xét xử

            Nếu đang tại phiên tòa, phía bị đơn có thể đề nghị HĐXX ghi nhận rõ mâu thuẫn này vào biên bản phiên tòa và yêu cầu nguyên đơn giải thích.

            Nếu nguyên đơn thay đổi lời khai hoặc thay đổi yêu cầu, cần lưu ý Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: HĐXX chỉ chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu nếu việc thay đổi đó không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu.

            Kết luận

            Nếu tôi đang bảo vệ cho phía bị đơn trong tình huống này, tôi sẽ không bỏ qua mâu thuẫn 1985–1999 mà sẽ lập thành một luận điểm chứng cứ riêng:

            “Nguyên đơn có hai lời khai không thống nhất về thời điểm chấm dứt việc quản lý, sử dụng đất; khoảng chênh lệch 14 năm là tình tiết có ý nghĩa trực tiếp đối với việc xác định quá trình sử dụng đất và nguồn gốc quyền sử dụng đất. Đề nghị Tòa án yêu cầu nguyên đơn giải trình, kiểm tra chứng cứ khách quan và không lấy lời khai đơn phương của nguyên đơn làm căn cứ duy nhất để xác định sự thật vụ án.”

            Nếu bạn là bị đơn, tôi khuyên nên làm ngay một bản ý kiến phản đối/ý kiến về chứng cứ của nguyên đơn, trong đó lập bảng đối chiếu “Đơn khởi kiện – Đơn khiếu nại – lời khai tại Tòa – tài liệu địa chính”. Cách này sẽ mạnh hơn rất nhiều so với việc chỉ trình bày miệng rằng nguyên đơn “khai mâu thuẫn”.

            Nếu bạn gửi Đơn khởi kiện và Đơn khiếu nại có hai mốc 1985/1999, tôi có thể phân tích cụ thể xem mâu thuẫn này có đủ mạnh để bác yêu cầu của nguyên đơn hay chỉ có giá trị làm giảm độ tin cậy của lời khai, đồng thời xác định nên khai thác thêm chứng cứ nào về quá trình sử dụng đất.


          • First
          • 1
          • 2
          • 3
          • 4
          • 5
          • ...
          • Last

          Đánh giá (Rating) của iLAW

          1. Hệ thống Đánh giá (Rating) trên iLAW hoạt động như thế nào

          iLAW đưa ra Đánh giá (Rating) dựa trên các thông tin do Luật sư cung cấp trong trang cá nhân của Luật sư và các thông tin mà iLAW thu thập được (ví dụ, các thông tin do Đoàn Luật sư, Liên đoàn Luật sư hoặc các Sở tư pháp công bố...). Thêm vào đó, thuật toán thông minh (Smart Agorithm) trên hệ thống iLAW cũng nhận diện và tự động cập nhật thường xuyên những thay đổi (tăng hoặc giảm) của Đánh giá (Rating). 

          2. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến Đánh giá (Rating) của iLAW

          Kinh nghiệm và bằng cấp

          Số năm kinh nghiệm hành nghề của Luật sư, học vấn, bằng cấp chuyên môn hoặc các bằng cấp trong các lĩnh vực liên quan mà Luật sư đạt được.

          Thành tựu trong nghề nghiệp

          Các giải thưởng, vinh danh, bằng khen…của cá nhân Luật sư hoặc của văn phòng/công ty nơi Luật sư làm việc.

          Danh tiếng và uy tín trong nghề

          Mức độ tích cực của các Nhận xét (reviews) và đánh giá sao (từ 1 sao đến 5 sao) chất lượng dịch vụ pháp lý từ khách hàng cũ và Đánh giá của luật sư đồng nghiệp đối với Luật sư.

          Đóng góp cho nghề

          Luật sư có xuất bản các sách chuyên ngành pháp lý, các bài viết, chia sẻ quan điểm pháp lý trên các báo, tạp chí, các tham luận, trình bày tại các hội thảo chuyên ngành pháp lý...

          Đóng góp cho cộng đồng

          Luật sư tích cực tham gia trả lời miễn phí các Câu hỏi của khách hàng, chia sẻ miễn phí các thông tin pháp lý hữu ích, các biểu mẫu, mẫu hợp đồng cho khách hàng trên iLAW.

          3. Các mức độ của Đánh giá (Rating) của iLAW

          Kết quả Đánh giá (Rating) trên hệ thống iLAW được chia làm 04 mức độ tương ứng, phản ánh thông tin toàn diện về Luật sư và chất lượng cũng như uy tín của dịch vụ pháp lý mà Luật sư cung cấp:

          10 - 9.0: Xuất sắc 

          8.9 - 8.0: Rất tốt 

          7.9 - 7.0: Tốt 

          6.9 - 6.0: Trung bình

          • Về chúng tôi
          • Điều khoản sử dụng
          • Dành cho người dùng
          • Dành cho Luật sư
          • Chính sách bảo mật
          • Nội quy trang Nhận xét
          • Đánh giá của iLAW

          Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Pháp Lý Thông Minh

          Tầng 6,7 Toà nhà Friendship, số 31 Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

          Điện thoại: (028) 7303 2868

          Email: cskh@i-law.vn

          GCNĐKKD số 0314107106 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TPHCM cấp ngày 10/11/2016

          iLAW chỉ cung cấp thông tin và nền tảng công nghệ để bạn sử dụng thông tin đó. Chúng tôi không phải là công ty luật và không cung cấp dịch vụ pháp lý. Bạn nên tham vấn ý kiến Luật sư cho vấn đề pháp lý mà bạn đang cần giải quyết. Vui lòng tham khảo Điều khoản sử dụng và Chính sách bảo mật khi sử dụng website.

          © iLAW Inc. All Rights Reserved 2019