iLAW
iLAW
  • Tìm luật sư
    • Tư vấn pháp luật
      • Bài viết pháp luật
        • Câu hỏi pháp luật
          • Biểu mẫu
          • Dịch vụ pháp lý
          • Đặt câu hỏi miễn phí
          • Đăng nhập
          }

          Nguyễn Thành Huân

          Tổng cộng: 1185

          Nguyễn Thành Huân
          Gọi 0979800000
          • Tài sản chung trong hôn nhân

            Môt bên vợ hoặc chồng mua đất trong thời kỳ hôn nhân và GCN chỉ ghi tên một người thì khi ly hôn có được chia không ?

            Luật sư Nguyễn Thành Huân đã trả lời

            • 19/10/2026

            Tài sản chung trong hôn nhân

            Tài sản chung trong hôn nhân: Đất chỉ đứng tên vợ hoặc chồng khi ly hôn có được chia không?

            Chào anh/chị, vấn đề của anh/chị được Luật sư Nguyễn Thành Huân – Giám đốc Công ty Luật Sư 11 – tư vấn như sau:

            Trong thời kỳ hôn nhân, một bên vợ hoặc chồng mua đất nhưng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) chỉ ghi tên một người. Khi ly hôn, vấn đề đặt ra là thửa đất đó có được xác định là tài sản chung của vợ chồng và đưa ra phân chia hay không.

            Để giải quyết, cần xem xét thời điểm hình thành tài sản, nguồn tiền mua đất, thỏa thuận về chế độ tài sản vợ chồng và các chứng cứ liên quan. Việc sổ đỏ chỉ ghi tên một người không đồng nghĩa trong mọi trường hợp đất đó là tài sản riêng của người đứng tên.

            1. Đất mua trong thời kỳ hôn nhân có được xác định là tài sản chung không?

            Theo khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, sản xuất, kinh doanh và các khoản thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được thừa kế chung, tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn về nguyên tắc là tài sản chung, trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

            Đối với trường hợp anh/chị nêu, nếu một bên mua đất trong thời kỳ hôn nhân bằng tiền lương, tiền tiết kiệm hoặc thu nhập chung của vợ chồng thì thửa đất có cơ sở để xác định là tài sản chung, dù Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi tên người vợ hoặc người chồng.

            Ngược lại, nếu người đứng tên chứng minh được đất được mua hoàn toàn bằng tài sản riêng hợp pháp, chẳng hạn tiền có trước khi kết hôn hoặc tiền được thừa kế riêng, tặng cho riêng, thì có thể có căn cứ xác định đây là tài sản riêng. Nếu sử dụng cả tiền riêng và tiền chung để mua đất, cần xem xét nguồn tiền và chứng cứ cụ thể để xác định quyền lợi của mỗi bên.

            2. Sổ đỏ chỉ đứng tên chồng hoặc vợ thì người còn lại có quyền yêu cầu chia đất khi ly hôn không?

            Theo khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung. 

            Đối với trường hợp anh/chị nêu, việc sổ đỏ chỉ đứng tên chồng hoặc vợ không tự động làm mất quyền yêu cầu chia tài sản của người còn lại. Nếu có căn cứ xác định đất là tài sản chung, người không đứng tên vẫn có thể yêu cầu Tòa án xem xét phân chia khi ly hôn.

            Để chứng minh, có thể sử dụng các tài liệu như hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chứng từ thanh toán, sao kê ngân hàng, giấy tờ thể hiện nguồn tiền mua đất, tài liệu về thời điểm kết hôn và thời điểm nhận chuyển nhượng, cũng như các thỏa thuận tài sản giữa vợ chồng nếu có.

            Trường hợp người đứng tên cho rằng đất là tài sản riêng, hai bên cần cung cấp chứng cứ để làm rõ nguồn gốc tài sản. Tòa án sẽ xem xét các tài liệu, lời khai và quy định pháp luật có liên quan trước khi quyết định.

            3. Khi ly hôn, đất là tài sản chung của vợ chồng được chia như thế nào?

            Theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nếu vợ chồng không thỏa thuận được việc chia tài sản chung khi ly hôn thì Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về nguyên tắc, tài sản chung được chia đôi nhưng có xem xét các yếu tố như hoàn cảnh gia đình và của mỗi bên, công sức đóng góp vào việc tạo lập, duy trì và phát triển tài sản, bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh, nghề nghiệp và lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng nếu có.

            Đối với trường hợp anh/chị nêu, nếu thửa đất được xác định là tài sản chung, Tòa án có thể xem xét chia bằng hiện vật nếu đáp ứng điều kiện pháp luật và điều kiện thực tế; nếu không thể chia phù hợp, có thể xem xét giao tài sản cho một bên và thanh toán phần giá trị mà bên kia được hưởng theo quyết định giải quyết vụ án.

            Việc một người đứng tên sổ đỏ hoặc là người trực tiếp đi mua đất không mặc nhiên đồng nghĩa người đó được hưởng toàn bộ thửa đất. Tỷ lệ phân chia cụ thể còn phụ thuộc vào chứng cứ, nguồn tiền mua đất, công sức đóng góp và các yếu tố luật định.

            4. Cần làm gì để yêu cầu chia đất chỉ đứng tên một người khi ly hôn?

            Nếu vợ chồng không thể tự thỏa thuận, người có yêu cầu có thể đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp tài sản trong vụ án ly hôn hoặc yêu cầu giải quyết phân chia tài sản theo thủ tục phù hợp với tình trạng pháp lý của vụ việc.

            Các bước cơ bản gồm:

            1. Thu thập giấy tờ về hôn nhân: Giấy chứng nhận kết hôn và các tài liệu liên quan đến thời điểm kết hôn, ly thân hoặc ly hôn.

            2. Thu thập giấy tờ về thửa đất: Bản sao hoặc bản chụp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng, hồ sơ đăng ký đất đai và tài liệu liên quan.

            3. Chứng minh nguồn tiền mua đất: Sao kê tài khoản, giấy nhận tiền, giấy tờ về thu nhập, hợp đồng bán tài sản riêng, văn bản thừa kế hoặc tặng cho riêng nếu có.

            4. Xác định yêu cầu chia tài sản: Trình bày rõ đề nghị chia đất bằng hiện vật hay yêu cầu phân chia giá trị, đồng thời nêu căn cứ và chứng cứ cho yêu cầu của mình.

            5. Nộp hồ sơ tại Tòa án có thẩm quyền: Nếu đang giải quyết ly hôn, có thể đề nghị Tòa án xem xét cả yêu cầu phân chia tài sản. Việc xác định Tòa án cụ thể cần căn cứ quy định về thẩm quyền và tình trạng vụ việc tại thời điểm nộp đơn.

            Nếu có nguy cơ người đứng tên chuyển nhượng, tặng cho hoặc định đoạt thửa đất nhằm gây khó khăn cho việc giải quyết tranh chấp, cần xem xét việc đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi đủ điều kiện theo pháp luật tố tụng. Việc áp dụng không tự động được chấp nhận mà phải đáp ứng điều kiện pháp luật và được cơ quan có thẩm quyền xem xét.

            5. Lưu ý và khuyến nghị từ Luật Sư 11

            Khi xác định tài sản chung trong hôn nhân, đặc biệt là đất chỉ đứng tên một người, anh/chị nên lưu ý:

            • Không nên kết luận đất là tài sản riêng chỉ dựa vào tên người được ghi trên sổ đỏ.

            • Cần làm rõ thời điểm mua đất và nguồn tiền dùng để thanh toán.

            • Nếu cho rằng đất là tài sản riêng, nên chuẩn bị chứng cứ về việc có đất trước khi kết hôn, được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc mua bằng tài sản riêng.

            • Nếu đất được mua bằng cả tiền chung và tiền riêng, cần làm rõ phần tiền, thỏa thuận và các tài liệu liên quan để xác định quyền lợi.

            • Nếu đang có tranh chấp, nên giữ bản sao hồ sơ, chứng từ thanh toán và các tài liệu chứng minh nguồn gốc tài sản; tránh ký các văn bản chuyển nhượng, từ bỏ quyền tài sản khi chưa hiểu rõ hậu quả pháp lý.

            Với thông tin hiện có, có thể khẳng định rằng đất mua trong thời kỳ hôn nhân dù chỉ đứng tên một người vẫn có thể được xác định là tài sản chung và được xem xét phân chia khi ly hôn. Tuy nhiên, kết quả cụ thể cần căn cứ vào nguồn tiền mua đất, thời điểm hình thành tài sản và chứng cứ của từng bên. Cần kiểm tra thêm hồ sơ để tư vấn chính xác hơn.

            Nếu anh/chị cần hỗ trợ thêm về vấn đề này, vui lòng liên hệ với luật sư qua thông tin sau:

            📍 CÔNG TY LUẬT TNHH LUẬT SƯ 11

            ✔️ 120 – 122 Điện Biên Phủ, phường Tân Định, TP. Hồ Chí Minh

            📞 0979 800 000 – Zalo/Mobile

            📧 nguyenthanhhuan@luatsu11.vn

            🌐 https://luatsu11.vn

            Luật sư Nguyễn Thành Huân sẽ cùng đội ngũ là những luật sư nhiều năm kinh nghiệm tại Công ty Luật Sư 11 đồng hành cùng anh/chị để giải quyết vấn đề nêu vấn đề và bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của anh/chị.

          • Xin tư vấn pháp lý về việc mang thai khi chưa đủ 18 tuổi, khởi kiện và yêu cầu xử lý trách nhiệm pháp lý đối với cha của bé, quyền nuôi con, cấp dưỡng và thăm nom con

            Em sinh năm 2009, hiện chưa đủ 18 tuổi và đang mang thai, dự sinh khoảng ngày 22/12/2026. Ba của bé sinh năm 2008. Tụi em từng sống chung và có thỏa thuận sống chung từ ngày 02/02/2026. Hiện tại em đang tự lo cho bản thân và thai nhi. Ba bé biết việc em mang thai nhưng không hỗ trợ tài chính, cũng không hỏi han hay chăm sóc em trong quá trình mang thai. Gia đình bên ba bé có gửi em 1 triệu đồng mỗi tháng và tháng trước có gửi em 5tr để mua đồ cho bé nhưng em không muốn nhận những khoản tiền này và muốn tự lo cho con. Em muốn nhờ luật sư tư vấn các vấn đề sau: 1. Trong trường hợp của em, em có thể khởi kiện ba bé được không? Nếu có thì có thể khởi kiện về những vấn đề gì và cần căn cứ pháp lý nào? 2. Việc ba bé không hỗ trợ em trong thời gian mang thai có thể dẫn đến trách nhiệm pháp lý gì không? 3. Em không muốn gia đình bên ba bé nhận cháu hoặc can thiệp vào cuộc sống, việc chăm sóc và nuôi dưỡng con của em. Em có quyền từ chối cho ba bé nhận con hoặc hạn chế việc gia đình bên đó gặp gỡ, thăm nom bé không? Pháp luật quy định như thế nào về quyền nhận cha con của ba bé và quyền của ông bà nội? 4. Vì em chưa đủ 18 tuổi, em có thể tự thực hiện các thủ tục pháp lý này không? Em cần người đại diện hay cần chuẩn bị những giấy tờ, bằng chứng nào? 5. Nếu muốn khởi kiện hoặc nhờ luật sư hỗ trợ giải quyết các vấn đề trên thì chi phí tư vấn, chi phí thuê luật sư và các khoản phí phát sinh dự kiến là bao nhiêu ạ?

            Luật sư Nguyễn Thành Huân đã trả lời

            • 19/10/2026

            Xin tư vấn pháp lý về việc mang thai khi chưa đủ 18 tuổi, khởi kiện và yêu cầu xử lý trách nhiệm pháp lý đối với cha của bé, quyền nuôi con, cấp dưỡng và thăm nom con

            Mang thai khi chưa đủ 18 tuổi có thể khởi kiện cha của bé, yêu cầu cấp dưỡng và hạn chế quyền thăm nom không?

            Chào chị, vấn đề của chị được Luật sư Nguyễn Thành Huân – Giám đốc Công ty Luật Sư 11 – tư vấn như sau:

            Chị sinh năm 2009, hiện chưa đủ 18 tuổi và đang mang thai, dự sinh ngày 22/12/2026; cha của bé sinh năm 2008. Hai người từng sống chung và có thỏa thuận sống chung từ ngày 02/02/2026. Hiện chị tự chăm lo cho bản thân và thai nhi, trong khi cha của bé không trực tiếp hỗ trợ; gia đình bên cha bé có gửi tiền nhưng chị không muốn nhận.

            Vấn đề cần xem xét gồm quyền yêu cầu xác định cha cho con, nghĩa vụ cấp dưỡng sau khi bé chào đời, quyền trực tiếp nuôi con, quyền thăm nom của cha và ông bà nội, thủ tục pháp lý khi chị chưa thành niên, cùng chi phí giải quyết vụ việc.

            1. Mang thai khi chưa đủ 18 tuổi có thể khởi kiện cha của bé và yêu cầu xử lý trách nhiệm pháp lý không?

            Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con được pháp luật bảo vệ, không phụ thuộc việc cha mẹ có đăng ký kết hôn hay không. 

            Đối với trường hợp của chị, chị có thể xem xét yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết các vấn đề sau:

            • Xác định cha cho con: Nếu cha của bé không tự nguyện nhận con hoặc có tranh chấp về quan hệ cha con, chị có thể đề nghị giải quyết theo thủ tục pháp luật quy định. Nếu người cha thừa nhận con và các bên không có tranh chấp, có thể thực hiện thủ tục đăng ký nhận cha, con tại cơ quan hộ tịch có thẩm quyền.

            • Yêu cầu cấp dưỡng cho con: Sau khi bé sinh ra và quan hệ cha con được xác lập, chị có thể yêu cầu người cha thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nếu người đó không trực tiếp nuôi con.

            • Yêu cầu giải quyết tranh chấp về nuôi con, thăm nom: Khi phát sinh tranh chấp thực tế, chị có thể yêu cầu Tòa án giải quyết dựa trên quyền lợi của bé và các quy định có liên quan.

            • Đề nghị cơ quan chức năng xem xét dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự nếu có căn cứ: Việc mang thai khi chưa đủ 18 tuổi không tự động có nghĩa cha của bé phạm tội. Cần xác minh tuổi của hai bên tại thời điểm quan hệ tình dục, sự tự nguyện, có hay không hành vi ép buộc, đe dọa hoặc lợi dụng tình trạng lệ thuộc và các tình tiết khác.

            Đối với trường hợp của chị: Chị có quyền yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình và của bé theo pháp luật. Tuy nhiên, không thể kết luận người cha phải chịu trách nhiệm hình sự chỉ vì không hỏi han, chăm sóc chị trong thời gian mang thai. Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con cần được phân biệt với việc hỗ trợ tài chính cho người mẹ trong thời gian mang thai; căn cứ và phạm vi yêu cầu phải được xác định theo hồ sơ cụ thể.

            2. Cha của bé không hỗ trợ trong thời gian mang thai có phải chịu trách nhiệm pháp lý không?

            Theo Điều 69 và Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con. Điều 110 quy định nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con chưa thành niên trong trường hợp không sống chung với con hoặc không trực tiếp nuôi dưỡng con. Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con được xác định theo quy định pháp luật và hoàn cảnh cụ thể.

            Cần phân biệt hai giai đoạn:

            • Trong thời gian chị mang thai: Việc người cha không hỏi han hoặc không tự nguyện gửi tiền hỗ trợ chị không đương nhiên làm phát sinh trách nhiệm hình sự hay một nghĩa vụ cấp dưỡng độc lập cho người mẹ. Việc có thể yêu cầu khoản tiền cụ thể nào cần xem xét căn cứ pháp luật, thỏa thuận giữa hai bên và chứng cứ.

            • Sau khi bé chào đời: Nếu quan hệ cha con được xác lập, người cha có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con theo luật. Nếu người cha không trực tiếp nuôi con và không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, chị có thể yêu cầu Tòa án giải quyết, kể cả khi cha mẹ bé không đăng ký kết hôn.

            Đối với khoản tiền mà gia đình bên cha bé đã gửi, chị không bắt buộc phải nhận tiền hỗ trợ tự nguyện chỉ vì họ đã gửi. Tuy nhiên, cần phân biệt khoản tiền do gia đình người cha tự nguyện hỗ trợ với nghĩa vụ cấp dưỡng của chính người cha đối với con. Nếu chị muốn từ chối nhận, nên lưu lại tin nhắn hoặc trao đổi rõ ràng về mục đích khoản tiền để tránh tranh chấp sau này. Việc chị không nhận tiền hỗ trợ không tự động làm mất quyền yêu cầu cấp dưỡng hợp pháp cho bé sau khi sinh.

            3. Chị có quyền từ chối cho cha bé nhận con hoặc ngăn ông bà nội thăm nom không?

            Quyền nhận cha, con

            Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Luật Hộ tịch năm 2014, việc nhận cha, mẹ, con được giải quyết theo thủ tục hộ tịch nếu đáp ứng điều kiện và không có tranh chấp; nếu có tranh chấp thì có thể phải yêu cầu Tòa án giải quyết. Việc xác định quan hệ cha con dựa trên chứng cứ theo quy định pháp luật, không chỉ phụ thuộc vào việc người mẹ có đồng ý hay không.

            Đối với trường hợp của chị, nếu người cha có căn cứ pháp lý để yêu cầu xác định quan hệ cha con thì chị không thể chỉ dựa vào mong muốn cá nhân để phủ nhận quyền yêu cầu đó. Ngược lại, người cha cũng không thể tự ý áp đặt việc nhận con hoặc tự đưa bé đi mà bỏ qua thủ tục pháp luật và quyền lợi của trẻ.

            Quyền trực tiếp nuôi con

            Pháp luật không quy định rằng cứ cha mẹ không kết hôn thì người cha đương nhiên được nuôi con, hoặc người mẹ chưa đủ 18 tuổi thì đương nhiên mất quyền nuôi con. Khi có tranh chấp, việc giải quyết phải căn cứ các quy định áp dụng và lợi ích của trẻ, đồng thời xem xét điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, môi trường sống và các yếu tố liên quan.

            Đối với trường hợp của chị, chị có thể trình bày nguyện vọng trực tiếp nuôi con và chuẩn bị tài liệu về nơi ở, điều kiện chăm sóc, người hỗ trợ, kế hoạch học tập, sinh hoạt và chăm sóc sức khỏe cho bé. Việc chị chưa thành niên là một yếu tố cần xem xét thực tế, nhưng không nên tự kết luận rằng chị không có quyền nuôi con.

            Quyền thăm nom của cha và ông bà nội

            Theo Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con; người trực tiếp nuôi con và các thành viên gia đình không được cản trở trái pháp luật. Nếu việc thăm nom bị lạm dụng để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét hạn chế theo căn cứ luật định.

            Ông bà nội không đương nhiên có quyền thay cha mẹ quyết định toàn bộ việc nuôi dạy cháu hoặc tự ý đưa cháu đi. Tuy nhiên, việc chị muốn hạn chế ông bà nội gặp cháu không tự động làm phát sinh quyền cấm thăm nom tuyệt đối trong mọi trường hợp. Quyền, lợi ích của trẻ và căn cứ pháp luật cụ thể vẫn là yếu tố quyết định; quyền của ông bà đối với cháu cũng cần được xem xét theo các quy định có liên quan của pháp luật gia đình.

            Đối với trường hợp của chị: Chị có thể đặt ra ranh giới hợp lý về cách thức liên hệ, thời gian, địa điểm và sự có mặt của người hỗ trợ khi gặp bé nếu cần bảo đảm an toàn, ổn định cho trẻ. Nếu có hành vi đe dọa, bạo lực, gây nguy hiểm hoặc ảnh hưởng xấu đến bé, chị nên lưu chứng cứ và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét biện pháp bảo vệ phù hợp. Không nên tự cho rằng có thể ngăn cản mọi việc nhận cha con hoặc mọi hình thức thăm nom chỉ vì chị không muốn gia đình bên kia can thiệp.

            4. Người mẹ chưa đủ 18 tuổi có tự khởi kiện được không, cần chuẩn bị giấy tờ gì?

            Theo Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015, người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên. Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về năng lực hành vi tố tụng dân sự; người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi chỉ được tự mình tham gia tố tụng trong một số trường hợp nhất định liên quan đến quan hệ lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng. Đối với những việc khác, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng nhìn chung do người đại diện hợp pháp thực hiện.

            Đối với trường hợp của chị, vì chị chưa đủ 18 tuổi nên khi làm thủ tục tại Tòa án, cần xác định rõ tư cách tham gia tố tụng và người đại diện hợp pháp theo quy định. Cha, mẹ của chị có thể là người đại diện theo pháp luật, nhưng nếu có xung đột lợi ích, không thể đại diện hoặc phát sinh tình huống đặc biệt thì cần đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét cách bảo vệ quyền lợi phù hợp. Việc chị chưa thành niên không có nghĩa là chị không được trình bày nguyện vọng hoặc không được bảo vệ quyền lợiChị nên chuẩn bị các tài liệu sau:
            1. Giấy tờ cá nhân: Giấy khai sinh, căn cước hoặc giấy tờ định danh của chị; thông tin của cha bé nếu có.

            2. Chứng cứ về quan hệ giữa hai người: Thỏa thuận sống chung ngày 02/02/2026, tin nhắn, hình ảnh, tài liệu trao đổi liên quan và các chứng cứ hợp pháp khác.

            3. Tài liệu về thai kỳ: Giấy khám thai, hồ sơ y tế, dự kiến ngày sinh và các giấy tờ liên quan.

            4. Chứng cứ về việc cha bé biết tin mang thai: Tin nhắn, thư từ, nội dung trao đổi, chứng cứ về những lần đề nghị hỗ trợ và phản hồi của người cha.

            5. Tài liệu về khoản tiền gia đình bên cha bé gửi: Chứng từ chuyển khoản, tin nhắn ghi rõ mục đích gửi tiền hoặc tài liệu khác thể hiện đây là khoản hỗ trợ tự nguyện.

            6. Tài liệu về điều kiện chăm sóc bé: Thông tin nơi ở, nguồn hỗ trợ chăm sóc, kế hoạch nuôi dưỡng và các giấy tờ khác có liên quan đến quyền lợi của trẻ.

            Sau khi bé sinh, chị cần lưu giữ giấy chứng sinh và thực hiện đăng ký khai sinh theo quy định. Nếu chưa xác định được cha hoặc có tranh chấp về quan hệ cha con, cần xem xét thủ tục nhận cha, con hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết tùy tình hình thực tế.

            5. Chi phí khởi kiện, thuê luật sư giải quyết tranh chấp cha con, cấp dưỡng là bao nhiêu?

            Chi phí thực tế phụ thuộc vào yêu cầu khởi kiện, mức độ tranh chấp, số lượng thủ tục cần thực hiện, việc có phải giám định hay không và phạm vi công việc mà luật sư được thuê thực hiện.

            Đối với trường hợp của chị, hiện chưa có đủ thông tin để đưa ra con số chính xác về phí luật sư hoặc tổng chi phí. Cần kiểm tra thêm hồ sơ để tư vấn chính xác hơn, nhất là xác định chị cần tư vấn riêng, yêu cầu xác định cha cho con, yêu cầu cấp dưỡng hay đồng thời giải quyết tranh chấp về nuôi con và thăm nom.

            Nếu anh/chị cần hỗ trợ thêm về vấn đề này, vui lòng liên hệ với luật sư qua thông tin sau:

            📍 CÔNG TY LUẬT TNHH LUẬT SƯ 11

            ✔️ 120 – 122 Điện Biên Phủ, phường Tân Định, TP. Hồ Chí Minh

            📞 0979 800 000 – Zalo/Mobile

            📧 nguyenthanhhuan@luatsu11.vn

            🌐 https://luatsu11.vn

            Luật sư Nguyễn Thành Huân sẽ cùng đội ngũ là những luật sư nhiều năm kinh nghiệm tại Công ty Luật Sư 11 đồng hành cùng anh/chị để giải quyết vấn đề nêu vấn đề và bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của anh/chị.

          • Khởi kiện con nợ ra tòa

            Con nợ ở phường Vĩnh hiệp TP rạch giá năm 2020 có làm hợp đồng vay tiền 2ti1 đến hạn trả là tháng 10 năm 2022 có ky tên và lan tay nhưng từ đó đến nay không trả lãi và vốn nay con nợ bỏ trốn khỏi địa phương.toi muốn khởi kiện để có bản án treo trên đầu vợ chồng người vay

            Luật sư Nguyễn Thành Huân đã trả lời

            • 19/10/2026

            Khởi kiện con nợ ra tòa

            Khởi kiện con nợ ra tòa khi vay 2,1 tỷ đồng không trả, bỏ trốn khỏi địa phương có được không?

            Chào anh/chị, vấn đề của anh/chị được Luật sư Nguyễn Thành Huân – Giám đốc Công ty Luật Sư 11 – tư vấn như sau:

            Năm 2020, người vay tại phường Vĩnh Hiệp, TP. Rạch Giá có ký hợp đồng vay tiền với số tiền 2,1 tỷ đồng, có chữ ký và dấu lăn tay, thời hạn trả nợ vào tháng 10/2022. Đến nay, người vay không trả cả gốc lẫn lãi và đã bỏ đi khỏi địa phương. Anh/chị muốn khởi kiện để yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng người vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ, tạo căn cứ pháp lý để tiếp tục yêu cầu thi hành án.

            1. Khởi kiện con nợ ra tòa khi vay 2,1 tỷ đồng không trả có được không?

            Theo Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng vay tài sản làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả; người vay tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn theo thỏa thuận. Nếu bên vay không thực hiện nghĩa vụ, bên cho vay có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp để bảo vệ quyền lợi của mình.

            Đối với trường hợp của anh/chị, hợp đồng vay 2,1 tỷ đồng có chữ ký và dấu lăn tay là chứng cứ quan trọng. Anh/chị có thể khởi kiện yêu cầu người vay trả nợ gốc và khoản lãi có căn cứ theo thỏa thuận, pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án sẽ xem xét toàn bộ chứng cứ, bao gồm việc giao tiền, nội dung hợp đồng, thời hạn trả nợ và các khoản đã thanh toán nếu có.

            Lưu ý quan trọng về thời hiệu: Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng là 3 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền lợi của mình bị xâm phạm. Với khoản vay đến hạn tháng 10/2022, thời hiệu thông thường có thể đã hết vào khoảng tháng 10/2025. Tuy nhiên, cần xem xét các tình tiết làm bắt đầu lại thời hiệu hoặc việc bên vay thừa nhận nghĩa vụ, trả một phần nợ hay có thỏa thuận gia hạn. Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu khi một bên yêu cầu áp dụng trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án hoặc quyết định giải quyết vụ việc. Vì vậy, không nên tự kết luận rằng đã hết thời hiệu thì chắc chắn không thể khởi kiện; cần rà soát hồ sơ ngay.

            2. Con nợ bỏ trốn khỏi địa phương thì có khởi kiện được không?

            Theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người khởi kiện có thể nộp đơn cùng tài liệu, chứng cứ hiện có cho Tòa án có thẩm quyền. Về nguyên tắc, thẩm quyền theo lãnh thổ được xác định theo nơi bị đơn cư trú hoặc làm việc; việc xác định Tòa án cụ thể cần căn cứ địa chỉ cư trú và quy định về thẩm quyền đang áp dụng tại thời điểm nộp đơn.

            Đối với trường hợp của anh/chị, việc người vay rời khỏi phường Vĩnh Hiệp không đương nhiên làm mất quyền khởi kiện. Anh/chị nên cung cấp địa chỉ cuối cùng đã biết, thông tin căn cước nếu có, số điện thoại, nơi làm việc cũ và tài liệu thể hiện người vay từng cư trú tại địa phương. Nếu không biết địa chỉ hiện tại, hãy trình bày rõ trong đơn và nộp kèm tài liệu chứng minh những nỗ lực xác minh.

            Việc bị đơn vắng mặt không đồng nghĩa Tòa án luôn có thể xét xử ngay. Tòa án phải thực hiện việc tống đạt, thông báo và các thủ tục tố tụng theo luật; nếu chưa đáp ứng điều kiện tố tụng thì vụ án có thể bị kéo dài hoặc phát sinh khó khăn trong việc giải quyết.

            3. Có thể yêu cầu cả vợ và chồng trả khoản nợ 2,1 tỷ đồng không?

            Theo các quy định của Bộ luật Hôn nhân và gia đình 2014 về nghĩa vụ tài sản của vợ chồng, không phải mọi khoản nợ do một người xác lập trong thời kỳ hôn nhân đều tự động là nợ chung. Việc xác định nghĩa vụ chung hay riêng phải dựa vào mục đích vay, sự thỏa thuận của vợ chồng, việc sử dụng khoản tiền và các căn cứ pháp luật liên quan.

            Đối với trường hợp của anh/chị, nếu chỉ người chồng hoặc người vợ ký hợp đồng vay thì không thể chỉ dựa vào quan hệ hôn nhân để mặc nhiên yêu cầu người còn lại trả toàn bộ khoản nợ. Nếu có căn cứ cho thấy khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, phục vụ việc tạo lập, duy trì tài sản chung hoặc người còn lại cùng thỏa thuận, cùng xác lập giao dịch, anh/chị có thể trình bày và đề nghị Tòa án xem xét trách nhiệm của cả hai.

            Nếu chưa có chứng cứ về việc người vợ hoặc chồng cùng vay, cùng ký, bảo lãnh hoặc khoản vay là nghĩa vụ chung, cần cân nhắc xác định người đứng tên vay là bị đơn và cung cấp thông tin về người còn lại để Tòa án xem xét khi cần thiết. Không nên chỉ đưa cả hai vợ chồng vào vụ kiện với mục đích tạo áp lực nếu chưa có căn cứ xác định nghĩa vụ pháp lý.

            4. Cần làm gì để khởi kiện đòi nợ và yêu cầu thi hành án?

            Anh/chị nên chuẩn bị hồ sơ theo các bước sau:

            1. Thu thập chứng cứ khoản vay: Bản gốc hợp đồng vay năm 2020 có chữ ký, dấu lăn tay; giấy giao nhận tiền, chứng từ chuyển khoản, tin nhắn, ghi âm hợp pháp hoặc giấy xác nhận nợ nếu có.

            2. Tổng hợp quá trình đòi nợ: Lập bảng thời gian từ ngày vay, ngày đến hạn tháng 10/2022, các lần yêu cầu thanh toán, phản hồi của người vay và mọi lần người vay thừa nhận nợ hoặc trả một phần.

            3. Xác minh người vay và tài sản: Thu thập địa chỉ cư trú cuối cùng, thông tin liên lạc, nơi làm việc và thông tin tài sản mà anh/chị có căn cứ hợp pháp để cung cấp.

            4. Soạn và nộp đơn khởi kiện: Nêu rõ yêu cầu trả 2,1 tỷ đồng tiền gốc, tiền lãi theo hợp đồng và lãi chậm trả nếu có căn cứ. Nộp đơn tại Tòa án có thẩm quyền xác định theo quy định hiện hành.

            5. Yêu cầu thi hành án sau khi có bản án: Khi có bản án hoặc quyết định thuộc trường hợp được thi hành theo luật, anh/chị có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành. Nếu người phải thi hành án không tự nguyện trả và có tài sản thuộc diện xử lý, cơ quan thi hành án có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định.

            Mục tiêu có bản án để làm căn cứ đòi nợ là có thể thực hiện thông qua thủ tục tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bản án không tự động bảo đảm thu hồi được tiền nếu người vay không có tài sản hoặc tài sản không thể xử lý để thi hành án. Việc xác minh tài sản và bảo toàn chứng cứ vì vậy rất quan trọng.

            5. Lưu ý và khuyến nghị từ Luật Sư 11

            Với khoản vay 2,1 tỷ đồng đã đến hạn từ tháng 10/2022, điều cần ưu tiên là rà soát thời hiệu khởi kiện và chứng cứ trước khi nộp đơn. Anh/chị nên đặc biệt lưu ý:

            • Không trì hoãn việc khởi kiện: Thời hiệu thông thường của tranh chấp hợp đồng là 3 năm, nên cần xác định chính xác các mốc thời gian và những sự kiện có thể ảnh hưởng đến thời hiệu.

            • Giữ gìn hợp đồng bản gốc: Chữ ký và dấu lăn tay là chứng cứ cần thiết, nhưng vẫn cần kết hợp tài liệu chứng minh việc giao tiền và nghĩa vụ chưa được thanh toán.

            • Phân biệt khởi kiện dân sự và tố giác hình sự: Việc bỏ đi khỏi địa phương, không trả nợ chưa tự động chứng minh có hành vi lừa đảo. Nếu có tài liệu cho thấy người vay dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền hoặc có dấu hiệu phạm tội khác, anh/chị có thể cung cấp chứng cứ cho cơ quan có thẩm quyền xem xét.

            • Đánh giá khả năng thi hành án: Nên thu thập thông tin hợp pháp về tài sản, thu nhập và các quyền tài sản của người có nghĩa vụ để có cơ sở yêu cầu thi hành bản án.

            Với dữ kiện hiện tại, anh/chị có cơ sở ban đầu để xem xét khởi kiện người đứng tên vay, nhưng việc có thể yêu cầu cả vợ chồng trả nợ và khả năng Tòa án chấp nhận yêu cầu còn phụ thuộc vào hồ sơ, chứng cứ và vấn đề thời hiệu. Cần kiểm tra thêm hồ sơ để tư vấn chính xác hơn.

            Nếu anh/chị cần hỗ trợ thêm về vấn đề này, vui lòng liên hệ với luật sư qua thông tin sau:

            📍 CÔNG TY LUẬT TNHH LUẬT SƯ 11

            ✔️ 120 – 122 Điện Biên Phủ, phường Tân Định, TP. Hồ Chí Minh

            📞 0979 800 000 – Zalo/Mobile

            📧 nguyenthanhhuan@luatsu11.vn

            🌐 https://luatsu11.vn

            Luật sư Nguyễn Thành Huân sẽ cùng đội ngũ là những luật sư nhiều năm kinh nghiệm tại Công ty Luật Sư 11 đồng hành cùng anh/chị để giải quyết vấn đề nêu vấn đề và bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của anh/chị.

          • Đặt cọc

            Nhờ LS tư vấn ạ. Nhà e có bán mảnh đất năm 2022 có làm hợp đồng đặt cọc ở phòng công chứng, bên mua đã trả 2/3 số tiền còn 1/3 số tiền chưa trả giờ làm thế nào để lấy nốt số tiền kia ạ

            Luật sư Nguyễn Thành Huân đã trả lời

            • 05/10/2026

            Đặt cọc

            Bán đất đặt cọc năm 2022, bên mua mới trả 2/3 tiền thì làm thế nào để đòi 1/3 còn lại?

            Chào anh/chị, vấn đề của anh/chị được Luật sư Nguyễn Thành Huân – Giám đốc Công ty Luật Sư 11 – tư vấn như sau:

            Gia đình anh/chị bán một mảnh đất từ năm 2022, có lập hợp đồng đặt cọc tại phòng công chứng. Bên mua đã thanh toán khoảng 2/3 số tiền nhưng còn thiếu 1/3 đến nay chưa thanh toán. Anh/chị muốn biết cần làm gì để yêu cầu bên mua thanh toán số tiền còn lại.

            1. Bên mua có nghĩa vụ trả đủ tiền mua đất theo thỏa thuận không?

            Theo quy định về nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng mua bán, bên mua phải thanh toán tiền theo đúng thời hạn, địa điểm và mức tiền đã thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thì còn có thể phải trả lãi đối với số tiền chậm trả.

            → Đối với trường hợp của anh/chị, nếu hợp đồng thể hiện tổng giá chuyển nhượng, số tiền đã thanh toán và thời hạn thanh toán 1/3 số tiền còn lại thì anh/chị có quyền yêu cầu bên mua tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận.

            Việc bên mua đã trả 2/3 không làm mất nghĩa vụ trả 1/3 còn lại.

            2. Hợp đồng đặt cọc có giá trị để yêu cầu bên mua thanh toán không?

            Theo Điều 328 Bộ luật Dân sự, đặt cọc là việc một bên giao tài sản cho bên kia trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Nếu hợp đồng được giao kết và thực hiện thì tiền đặt cọc được trả lại hoặc được trừ vào nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối thực hiện hợp đồng thì tiền đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc theo quy định.

            Tuy nhiên, trường hợp của anh/chị cần phân biệt hợp đồng đặt cọc với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và xem chính xác nội dung giấy tờ mà hai bên đã ký.

            → Nếu hồ sơ thể hiện bên mua đã nhận chuyển nhượng nhưng còn thiếu tiền, trọng tâm lúc này là yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền còn thiếu, chứ không đơn thuần chỉ là tranh chấp tiền đặt cọc.

            3. Bên mua chậm trả tiền thì có thể yêu cầu tiền lãi không?

            Theo quy định về nghĩa vụ trả tiền, khi bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định của Bộ luật Dân sự.

            → Đối với trường hợp của anh/chị, ngoài việc yêu cầu thanh toán 1/3 số tiền còn thiếu, chị có thể xem xét yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán, nếu có căn cứ xác định bên mua đã đến hạn trả tiền nhưng vẫn không thanh toán.

            Mức lãi và thời gian tính lãi cần căn cứ vào hợp đồng và thời điểm bên mua bắt đầu vi phạm nghĩa vụ.

            4. Không tự nguyện trả tiền thì có thể khởi kiện bên mua ra Tòa án không?

            Pháp luật cho phép bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng. Trong trường hợp bên vi phạm là bên mua, bên bán có quyền yêu cầu bên mua trả tiền và thực hiện các nghĩa vụ khác theo hợp đồng.

            → Đối với trường hợp của anh/chị, trước tiên nên gửi cho bên mua văn bản yêu cầu thanh toán, trong đó ghi rõ số tiền còn thiếu, thời hạn yêu cầu thanh toán và hậu quả pháp lý nếu không thực hiện.

            Nếu bên mua vẫn cố tình không thanh toán, anh/chị có thể khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền, yêu cầu thanh toán số tiền còn thiếu và các khoản lãi, bồi thường hoặc phạt vi phạm nếu hợp đồng có căn cứ áp dụng.

            5. Lưu ý & khuyến nghị từ Luật Sư 11

            Điểm cần đặc biệt lưu ý trong trường hợp này là giao dịch đã xảy ra từ năm 2022.

            Theo Điều 429 Bộ luật Dân sự, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

            Vì vậy, anh/chị không nên tiếp tục để kéo dài mà cần kiểm tra ngay hồ sơ để xác định thời điểm nghĩa vụ thanh toán 1/3 số tiền còn lại đến hạn và thời điểm quyền lợi của mình bị xâm phạm.

            Anh/chị nên chuẩn bị:

            • Hợp đồng đặt cọc năm 2022;

            • Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nếu hai bên có ký;

            • Giấy tờ chứng minh bên mua đã thanh toán 2/3;

            • Tài liệu thể hiện số tiền 1/3 còn thiếu;

            • Tin nhắn, giấy xác nhận hoặc nội dung trao đổi trong đó bên mua thừa nhận còn nợ;

            • Giấy chứng nhận và hồ sơ sang tên đất, nếu đất đã được sang tên cho bên mua.

            Nếu đã quá thời hạn thanh toán từ lâu, cần kiểm tra kỹ thời hiệu trước khi lựa chọn phương án khởi kiện.

            Cần kiểm tra thêm hồ sơ để tư vấn chính xác hơn, đặc biệt là hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng (nếu có), ngày đến hạn thanh toán 1/3 số tiền còn lại và tình trạng pháp lý của thửa đất hiện nay.

            Nếu anh/chị cần hỗ trợ thêm về vấn đề này, vui lòng liên hệ với luật sư qua thông tin sau:
            📍 CÔNG TY LUẬT TNHH LUẬT SƯ 11
            ✔️ 120 – 122 Điện Biên Phủ, phường Tân Định, TP. Hồ Chí Minh
            📞 0979 800 000 – Zalo/Mobile
            📧 nguyenthanhhuan@luatsu11.vn
            🌐 https://luatsu11.vn

            Luật sư Nguyễn Thành Huân sẽ cùng đội ngũ là những luật sư nhiều năm kinh nghiệm tại Công ty Luật Sư 11 đồng hành cùng anh/chị để giải quyết vấn đề nêu vấn đề và bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của anh/chị.

          • ly hôn

            Ls tư vấn giúp dùm em Em liên hệ chồng nn đồng thuận ly hôn nhưng không hợp tác nên đành ly hôn đơn phương . Liệu những bằng chứng bằng hình ảnh ( bị chồng tđvl , chồng dắt người phụ nữ khác về nhà , tin nhắn chồng thừa nhận say sỉn , ... ) thì có ích cho hồ sơ của em không ạ ? Em đã li thân được 3 năm hơn , có 1 con chung do em nuôi hoàn toàn không nhận bất kỳ chu cấp nào từ chồng ạ

            Luật sư Nguyễn Thành Huân đã trả lời

            • 05/10/2026

            ly hôn

            Ly hôn đơn phương có cần chứng cứ chồng bạo lực, ngoại tình, sống ly thân lâu năm không?

            Chào chị, vấn đề của chị được Luật sư Nguyễn Thành Huân – Giám đốc Công ty Luật Sư 11 – tư vấn như sau:

            Chị cho biết chồng không hợp tác để thuận tình ly hôn nên chị phải làm thủ tục ly hôn đơn phương. Chị đã ly thân hơn 3 năm, có một con chung do chị trực tiếp nuôi dưỡng và không nhận được sự chu cấp từ chồng; chị hiện có hình ảnh, tin nhắn thể hiện việc chồng có hành vi bạo lực, đưa người phụ nữ khác về nhà và thừa nhận uống rượu, say xỉn.

            1. Ly hôn đơn phương cần chứng minh điều gì?

            Theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, khi một bên yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành, Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ cho thấy vợ hoặc chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được.

            → Đối với trường hợp của chị, những bằng chứng chị đang có là có giá trị để cung cấp cho Tòa án xem xét, đặc biệt nếu chúng thể hiện được tình trạng mâu thuẫn, bạo lực hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng.

            Việc chị và chồng đã ly thân hơn 3 năm cũng là tình tiết thực tế quan trọng để Tòa án đánh giá tình trạng đời sống hôn nhân.

            2. Hình ảnh chồng đánh hoặc có hành vi bạo lực có được dùng làm chứng cứ ly hôn không?

            Theo quy định về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự, người yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình có căn cứ và hợp pháp.

            → Đối với trường hợp của chị, nếu hình ảnh thể hiện rõ hành vi bạo lực của chồng thì chị nên giữ lại và cung cấp cho Tòa án.

            Ngoài hình ảnh, chị nên lưu giữ thêm các tài liệu liên quan như:

            • Tin nhắn giữa chị và chồng;

            • Hình ảnh, video về hành vi bạo lực;

            • Hồ sơ khám chữa bệnh nếu chị từng bị thương;

            • Giấy tờ hoặc tài liệu thể hiện việc chị đã trình báo cơ quan chức năng, nếu có;

            • Người biết hoặc chứng kiến sự việc;

            • Các tài liệu thể hiện việc hai vợ chồng đã ly thân trong thời gian dài.

            Nếu những chứng cứ này thể hiện được mâu thuẫn kéo dài, bạo lực hoặc việc chồng vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng, chúng sẽ hỗ trợ đáng kể cho yêu cầu ly hôn đơn phương của chị.

            3. Chồng dẫn người phụ nữ khác về nhà, tin nhắn thừa nhận say xỉn có giúp chị ly hôn không?

            Luật Hôn nhân và gia đình quy định các hành vi bị cấm, trong đó có hành vi người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.

            Tuy nhiên, chỉ một bức ảnh chồng đứng cùng một người phụ nữ khác chưa đương nhiên chứng minh chồng có quan hệ ngoại tình hoặc chung sống như vợ chồng với người đó.

            → Đối với trường hợp của chị, hình ảnh chồng đưa người phụ nữ khác về nhà nên được giữ lại và cung cấp cùng các chứng cứ khác. Nếu có thêm tin nhắn, hình ảnh, video, lời khai của người biết sự việc hoặc tài liệu khác chứng minh mối quan hệ đó thì giá trị chứng minh sẽ rõ hơn.

            Đối với tin nhắn chồng thừa nhận uống rượu, say xỉn, bản thân việc uống rượu không phải cứ có là Tòa án phải cho ly hôn. Nhưng nếu việc say xỉn thường xuyên dẫn đến bạo lực, mâu thuẫn nghiêm trọng hoặc ảnh hưởng đến đời sống gia đình thì các tin nhắn đó có thể được sử dụng cùng những chứng cứ khác để làm rõ tình trạng hôn nhân.

            4. Chị đã ly thân hơn 3 năm và một mình nuôi con thì có lợi khi giải quyết ly hôn và quyền nuôi con không?

            Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con. Nếu hai bên không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 7 tuổi thì phải xem xét nguyện vọng của con.

            → Đối với trường hợp của chị, việc chị đã trực tiếp nuôi con trong thời gian dài là một tình tiết cần cung cấp cho Tòa án. Chị nên chứng minh điều kiện thực tế của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

            Đồng thời, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Việc trước đây chồng không tự nguyện chu cấp không làm mất nghĩa vụ cấp dưỡng của người cha.

            Nếu chị có yêu cầu về cấp dưỡng, chị có thể đề nghị Tòa án xem xét trong quá trình giải quyết vụ án.

            5. Lưu ý & khuyến nghị từ Luật Sư 11

            Chị nên nộp chứng cứ theo hướng có hệ thống, không nên chỉ nộp riêng từng hình ảnh hoặc tin nhắn.

            Hồ sơ nên tập trung chứng minh 3 vấn đề:

            1. Tình trạng hôn nhân đã thực sự trầm trọng: vợ chồng ly thân hơn 3 năm, đời sống chung không còn.

            2. Hành vi của chồng: bạo lực, thường xuyên say xỉn, đưa người phụ nữ khác về nhà hoặc những hành vi khác vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng.

            3. Việc chị trực tiếp nuôi con: chứng minh quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng và điều kiện hiện tại của chị.

            Chị nên giữ bản gốc hoặc bản dữ liệu gốc của hình ảnh, tin nhắn, video; không nên chỉnh sửa nội dung làm mất thông tin về thời gian, người gửi hoặc nguồn gốc dữ liệu.

            Ngoài ra, nếu chồng không hợp tác thì chị không cần phải có sự đồng ý của chồng mới được yêu cầu ly hôn đơn phương. Vấn đề quan trọng là chị phải cung cấp được căn cứ để Tòa án xem xét theo Điều 56.

            Cần kiểm tra thêm hồ sơ để tư vấn chính xác hơn, đặc biệt là tuổi của con, tình trạng cư trú hiện tại của hai vợ chồng, các chứng cứ về bạo lực và tình trạng ly thân.

            Nếu anh/chị cần hỗ trợ thêm về vấn đề này, vui lòng liên hệ với luật sư qua thông tin sau:
            📍 CÔNG TY LUẬT TNHH LUẬT SƯ 11
            ✔️ 120 – 122 Điện Biên Phủ, phường Tân Định, TP. Hồ Chí Minh
            📞 0979 800 000 – Zalo/Mobile
            📧 nguyenthanhhuan@luatsu11.vn
            🌐 https://luatsu11.vn

            Luật sư Nguyễn Thành Huân sẽ cùng đội ngũ là những luật sư nhiều năm kinh nghiệm tại Công ty Luật Sư 11 đồng hành cùng anh/chị để giải quyết vấn đề nêu vấn đề và bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của anh/chị.

          • tài sản hôn nhân

            Trước khi kết hôn bố mẹ chồng e cho chồng e 2 miếng đất và sau đó sang tên cho chồng em theo hình thức cho tặng . Sau đó chúng em kết hôn,chồng em làm nhà trên 1 miếng đất và em có bỏ tiền xây cùng và miếng còn lại em đem xây nhà trọ bằng tiền của em gửi cho(em làm việc ở nước ngoài) và chồng em cờ bạc nên em trả nợ cho rất nhiều nên chồng em đã chuyển nhượng 1 miếng đất nhà trọ đứng tên riêng của e theo hình thức cho tặng ,còn miếng nhà ở đứng tên chung 2 vợ chồng nhưng đã thế chấp vay ngân hàng lấy tiền trả nợ cho anh í .Vậy e có 2 câu hỏi muốn hỏi nhờ anh chị giải thích giúp e với ! 1.Miếng đất đứng tên chung 2 vợ ck đang vay thế chấp ngân hàng giờ chồng e muốn sang tên 1 mình em nốt để e gánh trả nợ 10 năm còn lại vì anh í hết khả năng trả nợ thì làm cách nào để có thể thay đổi tên 1 mình em chủ sở hữu miếng đất đó riêng khi sổ đỏ vẫn trong ngân hàng ?Và khi làm giấy tờ ck em có phải kí từ chối tài sản luôn ko ạ? 2. Miếng nhà trọ thứ 2 em đã đứng tên riêng nhưng bọn em chưa kí từ chối tài sản chỉ sang tên bìa cho e sau 2 lần làm cho tặng( lần 1 đứng tên chung,lần 2 cho nốt phần còn lại) thì miếng đất này e có được toàn quyền sử dụng riêng như mua bán ,cho tặng mà không cần có chữ kí của ck ko ạ? trường hợp chồng e vẫn hư đốn cờ bạc gái gú nếu ly hôn thì miếng đất này em có được tòa xử e được quyền sử dụng riêng không hay vẫn phải chia cho ck em ạ ? Em cảm ơn !

            Luật sư Nguyễn Thành Huân đã trả lời

            • 05/10/2026

            tài sản hôn nhân

            Tài sản hôn nhân: Đất chồng được bố mẹ tặng cho, sau đó sang tên vợ thì khi ly hôn có bị chia không?

            Chào chị, vấn đề của chị được Luật sư Nguyễn Thành Huân – Giám đốc Công ty Luật Sư 11 – tư vấn như sau:

            Trước khi kết hôn, chồng chị được bố mẹ tặng cho riêng 2 thửa đất và đã sang tên cho chồng. Sau khi kết hôn, một thửa được sử dụng xây nhà và đứng tên chung vợ chồng, đồng thời đang thế chấp ngân hàng; thửa còn lại được vợ đầu tư xây nhà trọ bằng tiền của mình và sau đó chồng thực hiện thủ tục tặng cho để sang tên riêng cho vợ.

            Chị đang quan tâm hai vấn đề: thửa đất chung đang thế chấp có thể chuyển sang tên riêng cho vợ hay không và thửa đất đã sang tên riêng cho vợ có phải chia cho chồng khi ly hôn hay không.

            1. Đất chồng được bố mẹ tặng cho trước khi kết hôn có phải tài sản chung của vợ chồng không?

            Theo Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình, tài sản mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân và tài sản được hình thành từ tài sản riêng là tài sản riêng của người đó.

            Trong khi đó, Điều 33 quy định quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn là tài sản chung, trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

            → Đối với trường hợp của chị, 2 thửa đất mà bố mẹ chồng đã tặng cho riêng chồng trước khi kết hôn về nguyên tắc là tài sản riêng của chồng.

            Tuy nhiên, sau khi kết hôn, nếu vợ chồng đã thỏa thuận đưa một thửa đất vào tài sản chung và Giấy chứng nhận đứng tên cả hai vợ chồng thì thửa đất đó cần được xem xét theo tình trạng tài sản chung hiện tại.

            2. Thửa đất đứng tên chung và đang thế chấp ngân hàng có thể sang tên riêng cho vợ không?

            Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình quy định việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng đối với bất động sản.

            Đối với quyền sử dụng đất đang thế chấp, hồ sơ chuyển nhượng hoặc tặng cho còn phải có văn bản của bên nhận thế chấp đồng ý cho bên thế chấp chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất đang thế chấp.

            → Đối với trường hợp của chị, vì Giấy chứng nhận đang được ngân hàng giữ và quyền sử dụng đất đang thế chấp, vợ chồng không thể chỉ tự ký giấy với nhau rồi tự sang tên cho vợ.

            Cần làm việc với ngân hàng để xác định phương án được ngân hàng chấp thuận, chẳng hạn ngân hàng đồng ý thay đổi người có nghĩa vụ trả nợ, đồng ý việc chuyển quyền hoặc có phương án xử lý khoản vay và tài sản bảo đảm.

            Đặc biệt, việc “sang tên cho vợ” không đồng nghĩa với việc khoản nợ ngân hàng tự động chuyển hết sang cho vợ. Quyền sử dụng đất và nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng là hai vấn đề phải được xử lý đồng thời.

            Theo Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình, quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

            → Vì vậy, không nên chỉ làm giấy “từ chối tài sản” giữa hai vợ chồng mà chưa làm rõ với ngân hàng về khoản vay và tài sản thế chấp.

            3. Chồng tặng cho thửa đất nhà trọ cho vợ và đã sang tên riêng thì vợ có toàn quyền sử dụng không?

            Theo Điều 43, tài sản được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của người được tặng cho. Người có tài sản riêng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình.

            → Đối với trường hợp của chị, nếu hồ sơ thể hiện chồng đã thực hiện việc tặng cho riêng phần quyền sử dụng đất cho chị, giao dịch hợp pháp và Giấy chứng nhận hiện chỉ đứng tên chị, thì về nguyên tắc đây là tài sản riêng của chị.

            Việc trước đó thửa đất từng đứng tên chung rồi sau đó chồng tiếp tục tặng cho phần quyền của mình cho chị là tình tiết rất quan trọng. Cần xem chính xác hợp đồng tặng cho, hồ sơ công chứng và Giấy chứng nhận hiện tại để xác định quyền sở hữu đã được chuyển hoàn toàn hay chưa.

            Nếu đã xác định là tài sản riêng của chị thì chị có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản riêng.

            4. Nếu ly hôn, chồng có được chia thửa đất nhà trọ đang đứng tên riêng của vợ không?

            Điều 62 Luật Hôn nhân và gia đình quy định rõ: quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

            Ngoài ra, Điều 59 quy định khi ly hôn, tài sản riêng của vợ hoặc chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung. Nếu có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng và tài sản chung thì bên có tài sản riêng có thể được thanh toán phần giá trị tài sản đã đóng góp theo quy định.

            → Đối với trường hợp của chị, nếu chứng minh được thửa đất nhà trọ đã được chồng tặng cho riêng và hoàn tất sang tên cho chị, đồng thời chị không nhập thửa đất này vào tài sản chung thì về nguyên tắc khi ly hôn, thửa đất vẫn là tài sản riêng của chị và không phải chia cho chồng.

            Việc chị đã bỏ tiền xây dựng nhà trọ cũng là một chứng cứ quan trọng để chứng minh nguồn tiền và quá trình hình thành tài sản.

            Tuy nhiên, cần phân biệt quyền sử dụng đất với nhà trọ/công trình trên đất và nguồn thu từ nhà trọ. Hồ sơ thực tế cần được kiểm tra để xác định toàn bộ tài sản gắn liền với đất và tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân.

            5. Lưu ý & khuyến nghị từ Luật Sư 11

            • Với thửa đất nhà ở đang đứng tên chung, chị nên làm việc trực tiếp với ngân hàng trước khi thực hiện bất kỳ thủ tục chuyển quyền nào.
            • Nếu mục tiêu là để chị tiếp tục sử dụng thửa đất và chịu trách nhiệm khoản vay trong 10 năm còn lại, cần có văn bản rõ ràng giữa vợ chồng và được ngân hàng chấp thuận về nghĩa vụ trả nợ.
            • Không nên chỉ lập giấy “chồng từ chối tài sản” vì giấy này không tự động làm chấm dứt nghĩa vụ của chồng đối với ngân hàng.
            • Đối với thửa đất nhà trọ, cần giữ toàn bộ hợp đồng tặng cho, hồ sơ công chứng, Giấy chứng nhận trước và sau khi sang tên, chứng từ chuyển tiền xây dựng và các tài liệu chứng minh nguồn tiền của chị.
            • Nếu sau này ly hôn, tài sản riêng của chị về nguyên tắc vẫn thuộc về chị; còn tài sản chung sẽ được Tòa án xem xét theo Điều 59, trong đó có tính đến hoàn cảnh, công sức đóng góp và lỗi của mỗi bên trong việc vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng.
            • Việc chồng có hành vi cờ bạc, gái gú có thể là tình tiết cần xem xét khi giải quyết quan hệ hôn nhân và tài sản, nhưng không đồng nghĩa chồng đương nhiên mất quyền đối với phần tài sản chung của mình.
            • Cần kiểm tra thêm hồ sơ để tư vấn chính xác hơn, đặc biệt là hợp đồng tặng cho 2 thửa đất, Giấy chứng nhận hiện tại, hợp đồng thế chấp ngân hàng và hồ sơ tặng cho thửa đất nhà trọ.

            Nếu chị cần hỗ trợ thêm về vấn đề này, vui lòng liên hệ với luật sư qua thông tin sau:
            📍 CÔNG TY LUẬT TNHH LUẬT SƯ 11
            ✔️ 120 – 122 Điện Biên Phủ, phường Tân Định, TP. Hồ Chí Minh
            📞 0979 800 000 – Zalo/Mobile
            📧 nguyenthanhhuan@luatsu11.vn
            🌐 https://luatsu11.vn

            Luật sư Nguyễn Thành Huân sẽ cùng đội ngũ là những luật sư nhiều năm kinh nghiệm tại Công ty Luật Sư 11 đồng hành cùng chị để giải quyết vấn đề nêu vấn đề và bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của chị.

             

          • Quan hệ tình dục với người dưới 16 tuổi có đi tù không

            Em muốn hỏi về trường hợp là năm em 15 tuổi có quan hệ tình dục với bạn trai 16 tuổi và em đã có thai, cả hai đều tự nguyện. Nhưng gia đình bạn trai không nhận thai và có ngôn ngừ làm ảnh hưởng đến danh dự em thì trong trường hợp này bạn trai có đi tù không ạ?

            Luật sư Nguyễn Thành Huân đã trả lời

            • 05/10/2026

            Quan hệ tình dục với người dưới 16 tuổi có đi tù không

            Quan hệ tình dục với người dưới 16 tuổi có đi tù không nếu cả hai đều tự nguyện?

            Chào chị, vấn đề của chị được Luật sư Nguyễn Thành Huân – Giám đốc Công ty Luật Sư 11 – tư vấn như sau:

            Chị cho biết tại thời điểm quan hệ, chị 15 tuổi, bạn trai 16 tuổi, hai bên tự nguyện quan hệ và sau đó chị có thai. Gia đình bạn trai không nhận thai và có lời nói làm ảnh hưởng đến danh dự của chị. Vấn đề cần xác định là bạn trai 16 tuổi có phải chịu trách nhiệm hình sự hay đi tù hay không.

            1. Người 16 tuổi quan hệ tình dục tự nguyện với người 15 tuổi có bị đi tù không?

            Theo Điều 145 Bộ luật Hình sự, tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên có hành vi quan hệ với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Khung hình phạt cơ bản là từ 01 năm đến 05 năm tù.

            → Đối với trường hợp của chị, bạn trai tại thời điểm xảy ra quan hệ mới 16 tuổi, nên không thuộc chủ thể của Điều 145 chỉ vì lý do quan hệ với người 15 tuổi.

            Việc hai bên tự nguyện cũng là một tình tiết rất quan trọng khi xem xét trách nhiệm hình sự.

            2. Người dưới 18 tuổi có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

            Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những trường hợp Bộ luật có quy định khác. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với một số tội danh và trường hợp được luật quy định cụ thể.

            Pháp luật đồng thời có nguyên tắc xử lý riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, trong đó phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm.

            → Đối với bạn trai 16 tuổi, không thể chỉ căn cứ vào việc anh ấy quan hệ với bạn gái 15 tuổi để kết luận anh ấy phạm tội. Cơ quan có thẩm quyền phải xem xét đầy đủ tuổi của hai bên, diễn biến quan hệ, sự tự nguyện và các tình tiết thực tế.

            3. Bạn gái 15 tuổi có thai thì bạn trai 16 tuổi có bị đi tù không?

            Điều 145 quy định trường hợp người đủ 18 tuổi quan hệ với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; trong đó, nếu làm nạn nhân có thai thì thuộc trường hợp tăng nặng của điều luật.

            Tuy nhiên, quy định này không có nghĩa cứ người 15 tuổi có thai thì người bạn trai đương nhiên bị đi tù.

            → Trong tình huống chị nêu, bạn trai 16 tuổi, hai bên tự nguyện, nên chưa có căn cứ từ những tài liệu đã cung cấp để kết luận bạn trai phạm tội hoặc phải đi tù.

            Cần kiểm tra thêm hồ sơ để tư vấn chính xác hơn, đặc biệt là ngày tháng năm sinh cụ thể của hai người và thời điểm xảy ra quan hệ.

            4. Gia đình bạn trai nói những lời ảnh hưởng đến danh dự thì phải làm gì?

            Việc gia đình bạn trai không nhận thai là một vấn đề khác với trách nhiệm hình sự về quan hệ tình dục.

            Nếu gia đình bạn trai có những lời nói, thông tin sai sự thật, xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của chị hoặc phát tán thông tin làm ảnh hưởng đến cuộc sống của chị, cần lưu giữ các chứng cứ như tin nhắn, bài đăng, ghi âm hợp pháp, người chứng kiến và các tài liệu liên quan để xác định hành vi cụ thể.

            → Đối với trường hợp của chị, cần tách riêng hai vấn đề: một là trách nhiệm hình sự của bạn trai về việc quan hệ tình dục; hai là việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm và quyền lợi của chị trước những phát ngôn của gia đình bạn trai.

            5. Lưu ý & khuyến nghị từ Luật Sư 11

            • Không nên chỉ dựa vào việc chị đang mang thai để kết luận bạn trai 16 tuổi chắc chắn phạm tội.
            • Cần xác định chính xác tuổi của hai bên tại thời điểm xảy ra quan hệ.
            • Cần làm rõ việc quan hệ có thực sự tự nguyện hay có dấu hiệu ép buộc, đe dọa, cưỡng ép hay không.
            • Nếu gia đình bạn trai có lời nói xúc phạm hoặc đưa thông tin sai sự thật, cần lưu giữ đầy đủ chứng cứ trước khi yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
            • Nếu vụ việc đã được công an tiếp nhận hoặc có giấy mời làm việc, chị nên cung cấp thông tin đúng sự thật và có thể nhờ luật sư hỗ trợ.
            • Cần kiểm tra thêm hồ sơ để tư vấn chính xác hơn.

            Nếu chị cần hỗ trợ thêm về vấn đề này, vui lòng liên hệ với luật sư qua thông tin sau:
            📍 CÔNG TY LUẬT TNHH LUẬT SƯ 11
            ✔️ 120 – 122 Điện Biên Phủ, phường Tân Định, TP. Hồ Chí Minh
            📞 0979 800 000 – Zalo/Mobile
            📧 nguyenthanhhuan@luatsu11.vn
            🌐 https://luatsu11.vn

            Luật sư Nguyễn Thành Huân sẽ cùng đội ngũ là những luật sư nhiều năm kinh nghiệm tại Công ty Luật Sư 11 đồng hành cùng chị để giải quyết vấn đề nêu vấn đề và bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của chị.

          • đất ở nhờ

            Cha em,ở trên đất của dì ruột 1996 đến năm 2008 dì của ông tuổi cao sức yếu chết.Cho ở có viết giấy cho nhưng lụt trôi mất.Ba năm nay con của dì đòi lại sổ đỏ do cha em giữ.Cha em không trả và em cũng thấy bất bình! Dù gì cha tới xây dựng nhà và có trồng hoa lợi.Giờ con dì nói sang sổ mà cho 1 lô?cha em hiện tại không đồng ý.Toà án hiện đã thụ lý và yêu cầu lập biên bản trả sổ đỏ cho con dì và đã yêu cầu dì rút đơn.Vậy là sổ trả còn đất mình kiện lấy đc o?

            Luật sư Nguyễn Thành Huân đã trả lời

            • 01/10/2026

            đất ở nhờ

            Ở nhờ đất từ năm 1996, có giấy cho ở bị mất, con của dì đòi lại sổ đỏ thì có còn quyền kiện đòi đất không?

            Chào anh/chị, vấn đề của anh/chị được Luật sư Nguyễn Thành Huân – Giám đốc Công ty Luật Sư 11 – tư vấn như sau:

            Cha anh/chị sử dụng đất của dì ruột từ năm 1996, có xây dựng nhà và trồng hoa lợi trên đất. Theo trình bày, dì có viết giấy cho ở nhưng giấy này đã bị nước lũ làm thất lạc; dì mất năm 2008. Hiện nay con của dì yêu cầu cha anh/chị trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và muốn sang tên đất, trong khi cha anh/chị không đồng ý; Tòa án đã thụ lý và có yêu cầu liên quan đến việc trả sổ.

            1. Ở nhờ đất từ năm 1996 có làm phát sinh quyền sử dụng đất cho người ở nhờ không?

            Về nguyên tắc, ở nhờ và tặng cho quyền sử dụng đất là hai quan hệ khác nhau. Nếu chủ đất chỉ cho người khác ở nhờ thì việc sử dụng đất không đồng nghĩa với việc quyền sử dụng đất đã được chuyển sang cho người ở nhờ.

            Đối với hợp đồng về quyền sử dụng đất, Bộ luật Dân sự quy định phải lập thành văn bản và việc thực hiện phải tuân thủ pháp luật đất đai; việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực theo quy định về đăng ký.

            Tuy nhiên, trường hợp của cha anh/chị không thể chỉ nhìn vào việc hiện nay không còn giấy tờ để kết luận ngay là “ở nhờ” hay “được cho đất”. Cần xác định chính xác nội dung giấy mà dì đã viết trước đây, người làm chứng, quá trình giao đất, việc xây dựng nhà và việc quản lý, sử dụng đất từ năm 1996.

            → Đối với trường hợp của anh/chị, nếu chứng minh được dì thực tế đã cho cha anh/chị quyền sử dụng phần đất đó chứ không chỉ cho ở tạm, thì đây là căn cứ quan trọng để yêu cầu Tòa án xem xét quyền sử dụng đất của cha anh/chị.

            2. Giấy cho ở bị mất có còn cách nào chứng minh việc dì đã giao đất không?

            Việc bản chính giấy cho ở bị thất lạc không có nghĩa là mọi chứng cứ về sự việc đều mất.

            Cha anh/chị cần rà soát và cung cấp cho Tòa án các chứng cứ khác, chẳng hạn:

            • Người từng trực tiếp chứng kiến việc dì giao đất hoặc viết giấy.

            • Bản sao, hình ảnh hoặc bản chụp của giấy nếu trước đây có lưu giữ.

            • Giấy tờ thể hiện quá trình xây dựng nhà trên đất.

            • Chứng cứ về việc gia đình đã sử dụng đất từ năm 1996.

            • Hồ sơ điện, nước, thuế, cư trú hoặc các giấy tờ liên quan đến căn nhà.

            • Chứng cứ thể hiện dì biết và đồng ý cho cha anh/chị xây dựng, sử dụng đất.

            • Người làm chứng biết rõ việc dì cho đất hoặc cho ở.

            Việc sử dụng đất trong thời gian dài và việc xây dựng nhà là những tình tiết cần được Tòa án xem xét cùng với các chứng cứ khác; không nên chỉ dựa vào thời gian sử dụng đất để kết luận cha anh/chị đương nhiên có quyền sử dụng đất.

            → Đối với trường hợp của anh/chị, cần đặc biệt tìm người biết việc dì viết giấy hoặc giao đất cho cha anh/chị. Đây có thể là chứng cứ rất quan trọng khi bản gốc giấy đã bị mất.

            3. Cha anh/chị có thể yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất hay không?

            Có thể đặt vấn đề yêu cầu Tòa án xem xét, nhưng khả năng được công nhận phụ thuộc vào chứng cứ chứng minh việc dì đã chuyển quyền cho cha anh/chị.

            Luật Đất đai hiện hành xác định “chuyển quyền sử dụng đất” bao gồm chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho và một số hình thức khác; việc đăng ký đất đai là cơ chế để Nhà nước ghi nhận quyền sử dụng đất của người sử dụng đất.

            Đặc biệt, vì sự việc bắt đầu từ năm 1996, Tòa án phải xem xét pháp luật tại thời điểm dì giao đất và toàn bộ quá trình sử dụng đất.

            → Đối với trường hợp của anh/chị, cha anh/chị có thể trình bày và yêu cầu Tòa án xem xét quyền sử dụng đất nếu cho rằng dì đã thực sự tặng cho/giao đất, đồng thời phải đưa ra các chứng cứ chứng minh việc này.

            4. Nếu trả lại sổ đỏ cho con của dì thì cha anh/chị còn kiện hoặc yêu cầu về quyền sử dụng đất được không?

            Việc trả lại bản chính Giấy chứng nhận không đồng nghĩa với việc cha anh/chị tự động mất quyền trình bày hoặc chứng minh quyền lợi đối với thửa đất.

            Giấy chứng nhận là giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng tranh chấp về quyền sử dụng đất vẫn có thể được Tòa án xem xét trên cơ sở hồ sơ, nguồn gốc đất, quá trình sử dụng và các chứng cứ liên quan.

            Bộ luật Tố tụng dân sự trong tài liệu được cung cấp cũng quy định trường hợp tranh chấp về đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ có những trường hợp pháp luật cho phép khởi kiện lại nếu trước đó yêu cầu chưa được Tòa án chấp nhận.

            → Đối với trường hợp của anh/chị, nếu Tòa án đang giải quyết tranh chấp thì không nên hiểu đơn giản rằng “trả sổ là mất đất”. Cần xem chính xác biên bản mà Tòa yêu cầu cha anh/chị ký là biên bản trả lại giấy chứng nhận, biên bản hòa giải, hay văn bản thể hiện việc cha anh/chị từ bỏ quyền và yêu cầu đối với đất.

            Nếu cha anh/chị chỉ trả giấy chứng nhận nhưng vẫn bảo lưu quan điểm tranh chấp quyền sử dụng đất, thì hai vấn đề này cần được phân biệt rõ.

            5. Lưu ý & khuyến nghị từ Luật Sư 11

            Trong trường hợp này, cha anh/chị không nên ký bất kỳ văn bản nào có nội dung xác nhận “đất thuộc hoàn toàn về con của dì”, “tự nguyện trả đất”, “không có tranh chấp” hoặc “từ bỏ mọi quyền đối với đất” nếu chưa được đọc và hiểu rõ.

            Cần làm rõ 4 vấn đề:

            1. Giấy chứng nhận hiện đứng tên ai và được cấp từ năm nào?

            2. Dì đã viết giấy cho ở hay giấy tặng cho đất? Có ai từng nhìn thấy giấy?

            3. Từ năm 1996 đến nay cha anh/chị sử dụng chính xác phần diện tích nào, có xây nhà từ thời điểm nào?

            4. Tòa án đang giải quyết vụ án với yêu cầu cụ thể là đòi lại sổ đỏ, đòi đất, tranh chấp quyền sử dụng đất hay tranh chấp về quan hệ cho ở nhờ?

            Nếu Tòa đã thụ lý, việc quan trọng nhất hiện nay là tìm hiểu chính xác đơn khởi kiện, thông báo thụ lý và biên bản làm việc của Tòa để xác định cha anh/chị cần đưa ra yêu cầu phản tố hay yêu cầu độc lập về quyền sử dụng đất.

            Cần kiểm tra thêm hồ sơ để tư vấn chính xác hơn.

            Nếu anh/chị cần hỗ trợ thêm về vấn đề này, vui lòng liên hệ với luật sư qua thông tin sau:
            📍 CÔNG TY LUẬT TNHH LUẬT SƯ 11
            ✔️ 120 – 122 Điện Biên Phủ, phường Tân Định, TP. Hồ Chí Minh
            📞 0979 800 000 – Zalo/Mobile
            📧 nguyenthanhhuan@luatsu11.vn
            🌐 https://luatsu11.vn

            Luật sư Nguyễn Thành Huân sẽ cùng đội ngũ là những luật sư nhiều năm kinh nghiệm tại Công ty Luật Sư 11 đồng hành cùng anh/chị để giải quyết vấn đề nêu vấn đề và bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của anh/chị.

          • lừa đảo

            Mình đc 1 bà chị rủ đi xklđ, vì tin bà ấy nên mình đã đưa tiền cọc cho bà ấy để cọc cho ngta làm giấy tờ. Giờ bên làm giấy đã không còn liên lạc được và ở nước ngoài. Mình nên làm đơn kiện ai để lấy lại đc tiền

            Luật sư Nguyễn Thành Huân đã trả lời

            • 01/10/2026

            lừa đảo

            Đưa tiền cho người quen để đi xuất khẩu lao động nhưng bên làm giấy tờ mất liên lạc, kiện ai để đòi lại tiền?

            Chào anh/chị, vấn đề của anh/chị được Luật sư Nguyễn Thành Huân – Giám đốc Công ty Luật Sư 11 – tư vấn như sau:

            Anh/chị được một người quen rủ đi xuất khẩu lao động và vì tin tưởng nên đã giao tiền cho người này để đặt cọc, làm thủ tục. Hiện nay, người được cho là bên làm giấy tờ đã không còn liên lạc được và đang ở nước ngoài. Vấn đề đặt ra là anh/chị cần làm đơn tố giác hoặc khởi kiện ai để có cơ sở yêu cầu lấy lại số tiền đã giao.

            1. Đưa tiền để làm thủ tục xuất khẩu lao động nhưng không thực hiện có phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?

            Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác thì có thể bị xem xét về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi đáp ứng các điều kiện luật định. Đối với trường hợp tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên, Điều 174 quy định trách nhiệm hình sự tương ứng; mức hình phạt còn phụ thuộc vào giá trị tài sản và các tình tiết cụ thể của vụ việc.

            Tuy nhiên, việc người nhận tiền sau đó không liên lạc được chưa đủ để khẳng định ngay người đó phạm tội lừa đảo. Cơ quan có thẩm quyền cần xác minh người nhận tiền có gian dối ngay từ đầu hay không, mục đích nhận tiền là gì, số tiền đã được sử dụng như thế nào và có thực tế thực hiện việc làm hồ sơ xuất khẩu lao động hay không.

            → Đối với trường hợp của anh/chị, nếu có căn cứ cho thấy người nhận tiền ngay từ đầu đã đưa ra thông tin gian dối về việc đưa anh/chị đi xuất khẩu lao động nhằm nhận tiền rồi chiếm đoạt, anh/chị có thể làm đơn tố giác về hành vi có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

            2. Nên tố giác người trực tiếp nhận tiền hay người đang ở nước ngoài?

            Việc xác định đúng người cần tố giác phải dựa vào chứng cứ về quá trình giao nhận tiền và thỏa thuận giữa các bên.

            Nếu anh/chị trực tiếp đưa tiền cho “bà chị”, có tin nhắn, giấy biên nhận, sao kê chuyển khoản hoặc chứng cứ khác thể hiện người này nhận tiền của anh/chị để thực hiện thủ tục xuất khẩu lao động, thì trước hết cần trình bày rõ người trực tiếp nhận tiền trong đơn tố giác.

            Việc “bà chị” nói rằng mình chỉ nhận tiền để chuyển cho một người khác làm giấy tờ không đồng nghĩa với việc bà ấy đương nhiên không có trách nhiệm. Cơ quan có thẩm quyền sẽ xác minh bà ấy có biết mục đích, nguồn gốc, người nhận cuối cùng và quá trình sử dụng số tiền hay không.

            → Đối với trường hợp của anh/chị, không nên tự xác định chỉ kiện người đang ở nước ngoài. Anh/chị nên trình bày toàn bộ sự việc, đặc biệt là ai là người rủ đi xuất khẩu lao động, ai nhận tiền, nhận bao nhiêu, nhận vào thời điểm nào và thỏa thuận làm thủ tục như thế nào để cơ quan có thẩm quyền xác minh trách nhiệm của từng người.

            3. Có thể lấy lại tiền đã đưa để đi xuất khẩu lao động không?

            Người bị lừa tiền có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm và yêu cầu giải quyết quyền lợi liên quan đến số tiền bị chiếm đoạt.

            Tuy nhiên, việc có lấy lại được tiền hay không còn phụ thuộc vào kết quả xác minh, xử lý vụ việc và khả năng thi hành nghĩa vụ hoàn trả của người có trách nhiệm. Nếu người chiếm đoạt còn tài sản hoặc có dấu hiệu tẩu tán tài sản thì việc xác minh, truy tìm và bảo đảm quyền lợi của người bị hại có ý nghĩa quan trọng.

            → Đối với trường hợp của anh/chị, nên yêu cầu giải quyết việc hoàn trả số tiền đã giao và cung cấp đầy đủ chứng cứ chứng minh khoản tiền này. Không nên chỉ dựa vào lời nói rằng “bên làm giấy tờ đã bỏ trốn” mà cần làm rõ toàn bộ dòng tiền và người đã nhận tiền.

            4. Bị lừa tiền đi xuất khẩu lao động thì cần làm gì?

            Anh/chị nên thực hiện các bước sau:

            Thứ nhất, giữ lại toàn bộ chứng cứ, gồm:

            • Tin nhắn trao đổi về việc đi xuất khẩu lao động.

            • Tin nhắn người quen yêu cầu hoặc xác nhận nhận tiền.

            • Sao kê ngân hàng, giấy chuyển khoản hoặc giấy biên nhận.

            • Thông tin về người nhận tiền và người được giới thiệu là bên làm hồ sơ.

            • Các giấy tờ, hợp đồng, phiếu thu hoặc tài liệu liên quan đến việc đi xuất khẩu lao động.

            • Thông tin về số điện thoại, tài khoản mạng xã hội, tài khoản ngân hàng của những người liên quan.

            Thứ hai, làm đơn tố giác gửi cơ quan có thẩm quyền, trình bày rõ diễn biến sự việc và đề nghị xác minh dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu có căn cứ.

            Thứ ba, trong đơn cần ghi rõ yêu cầu được giải quyết quyền lợi đối với số tiền đã giao.

            → Đối với trường hợp của anh/chị, nên tố giác càng sớm càng tốt và nộp kèm toàn bộ chứng cứ hiện có. Nếu chưa xác định chính xác người đứng sau việc nhận tiền, anh/chị vẫn có thể trình bày đầy đủ thông tin mình biết để cơ quan có thẩm quyền xác minh.

            5. Lưu ý & khuyến nghị từ Luật Sư 11

            Anh/chị không nên tự ý xác định một người chắc chắn là người lừa đảo khi chưa có đủ căn cứ. Việc quan trọng nhất hiện nay là xác định người trực tiếp nhận tiền, người cam kết thực hiện thủ tục xuất khẩu lao động và người thực tế nhận hoặc sử dụng số tiền.

            Anh/chị nên giữ nguyên bản gốc các chứng cứ, đặc biệt là sao kê chuyển khoản và tin nhắn trao đổi. Nếu số tiền lớn hoặc vụ việc có nhiều người liên quan, cần kiểm tra kỹ hồ sơ, chứng cứ và quá trình giao nhận tiền trước khi xác định hướng tố giác hoặc khởi kiện.

            Cần kiểm tra thêm hồ sơ để tư vấn chính xác hơn.

            Nếu anh/chị cần hỗ trợ thêm về vấn đề này, vui lòng liên hệ với luật sư qua thông tin sau:
            📍 CÔNG TY LUẬT TNHH LUẬT SƯ 11
            ✔️ 120 – 122 Điện Biên Phủ, phường Tân Định, TP. Hồ Chí Minh
            📞 0979 800 000 – Zalo/Mobile
            📧 nguyenthanhhuan@luatsu11.vn
            🌐 https://luatsu11.vn

            Luật sư Nguyễn Thành Huân sẽ cùng đội ngũ là những luật sư nhiều năm kinh nghiệm tại Công ty Luật Sư 11 đồng hành cùng anh/chị để giải quyết vấn đề nêu vấn đề và bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của anh/chị.

          • lừa đảo

            Mình đc 1 bà chị rủ đi xklđ, vì tin bà ấy nên mình đã đưa tiền cọc cho bà ấy để cọc cho ngta làm giấy tờ. Giờ bên làm giấy đã không còn liên lạc được và ở nước ngoài. Mình nên làm đơn kiện ai để lấy lại đc tiền

            Luật sư Nguyễn Thành Huân đã trả lời

            • 01/10/2026

            lừa đảo

            Đưa tiền cho người quen để đi xuất khẩu lao động nhưng bên làm giấy tờ mất liên lạc, kiện ai để đòi lại tiền?

            Chào anh/chị, vấn đề của anh/chị được Luật sư Nguyễn Thành Huân – Giám đốc Công ty Luật Sư 11 – tư vấn như sau:

            Anh/chị được một người quen rủ đi xuất khẩu lao động và vì tin tưởng nên đã giao tiền cho người này để đặt cọc, làm thủ tục. Hiện nay, người được cho là bên làm giấy tờ đã không còn liên lạc được và đang ở nước ngoài. Vấn đề đặt ra là anh/chị cần làm đơn tố giác hoặc khởi kiện ai để có cơ sở yêu cầu lấy lại số tiền đã giao.

            1. Đưa tiền để làm thủ tục xuất khẩu lao động nhưng không thực hiện có phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?

            Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác thì có thể bị xem xét về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi đáp ứng các điều kiện luật định. Đối với trường hợp tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên, Điều 174 quy định trách nhiệm hình sự tương ứng; mức hình phạt còn phụ thuộc vào giá trị tài sản và các tình tiết cụ thể của vụ việc.

            Tuy nhiên, việc người nhận tiền sau đó không liên lạc được chưa đủ để khẳng định ngay người đó phạm tội lừa đảo. Cơ quan có thẩm quyền cần xác minh người nhận tiền có gian dối ngay từ đầu hay không, mục đích nhận tiền là gì, số tiền đã được sử dụng như thế nào và có thực tế thực hiện việc làm hồ sơ xuất khẩu lao động hay không.

            → Đối với trường hợp của anh/chị, nếu có căn cứ cho thấy người nhận tiền ngay từ đầu đã đưa ra thông tin gian dối về việc đưa anh/chị đi xuất khẩu lao động nhằm nhận tiền rồi chiếm đoạt, anh/chị có thể làm đơn tố giác về hành vi có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

            2. Nên tố giác người trực tiếp nhận tiền hay người đang ở nước ngoài?

            Việc xác định đúng người cần tố giác phải dựa vào chứng cứ về quá trình giao nhận tiền và thỏa thuận giữa các bên.

            Nếu anh/chị trực tiếp đưa tiền cho “bà chị”, có tin nhắn, giấy biên nhận, sao kê chuyển khoản hoặc chứng cứ khác thể hiện người này nhận tiền của anh/chị để thực hiện thủ tục xuất khẩu lao động, thì trước hết cần trình bày rõ người trực tiếp nhận tiền trong đơn tố giác.

            Việc “bà chị” nói rằng mình chỉ nhận tiền để chuyển cho một người khác làm giấy tờ không đồng nghĩa với việc bà ấy đương nhiên không có trách nhiệm. Cơ quan có thẩm quyền sẽ xác minh bà ấy có biết mục đích, nguồn gốc, người nhận cuối cùng và quá trình sử dụng số tiền hay không.

            → Đối với trường hợp của anh/chị, không nên tự xác định chỉ kiện người đang ở nước ngoài. Anh/chị nên trình bày toàn bộ sự việc, đặc biệt là ai là người rủ đi xuất khẩu lao động, ai nhận tiền, nhận bao nhiêu, nhận vào thời điểm nào và thỏa thuận làm thủ tục như thế nào để cơ quan có thẩm quyền xác minh trách nhiệm của từng người.

            3. Có thể lấy lại tiền đã đưa để đi xuất khẩu lao động không?

            Người bị lừa tiền có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm và yêu cầu giải quyết quyền lợi liên quan đến số tiền bị chiếm đoạt.

            Tuy nhiên, việc có lấy lại được tiền hay không còn phụ thuộc vào kết quả xác minh, xử lý vụ việc và khả năng thi hành nghĩa vụ hoàn trả của người có trách nhiệm. Nếu người chiếm đoạt còn tài sản hoặc có dấu hiệu tẩu tán tài sản thì việc xác minh, truy tìm và bảo đảm quyền lợi của người bị hại có ý nghĩa quan trọng.

            → Đối với trường hợp của anh/chị, nên yêu cầu giải quyết việc hoàn trả số tiền đã giao và cung cấp đầy đủ chứng cứ chứng minh khoản tiền này. Không nên chỉ dựa vào lời nói rằng “bên làm giấy tờ đã bỏ trốn” mà cần làm rõ toàn bộ dòng tiền và người đã nhận tiền.

            4. Bị lừa tiền đi xuất khẩu lao động thì cần làm gì?

            Anh/chị nên thực hiện các bước sau:

            Thứ nhất, giữ lại toàn bộ chứng cứ, gồm:

            • Tin nhắn trao đổi về việc đi xuất khẩu lao động.

            • Tin nhắn người quen yêu cầu hoặc xác nhận nhận tiền.

            • Sao kê ngân hàng, giấy chuyển khoản hoặc giấy biên nhận.

            • Thông tin về người nhận tiền và người được giới thiệu là bên làm hồ sơ.

            • Các giấy tờ, hợp đồng, phiếu thu hoặc tài liệu liên quan đến việc đi xuất khẩu lao động.

            • Thông tin về số điện thoại, tài khoản mạng xã hội, tài khoản ngân hàng của những người liên quan.

            Thứ hai, làm đơn tố giác gửi cơ quan có thẩm quyền, trình bày rõ diễn biến sự việc và đề nghị xác minh dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu có căn cứ.

            Thứ ba, trong đơn cần ghi rõ yêu cầu được giải quyết quyền lợi đối với số tiền đã giao.

            → Đối với trường hợp của anh/chị, nên tố giác càng sớm càng tốt và nộp kèm toàn bộ chứng cứ hiện có. Nếu chưa xác định chính xác người đứng sau việc nhận tiền, anh/chị vẫn có thể trình bày đầy đủ thông tin mình biết để cơ quan có thẩm quyền xác minh.

            5. Lưu ý & khuyến nghị từ Luật Sư 11

            Anh/chị không nên tự ý xác định một người chắc chắn là người lừa đảo khi chưa có đủ căn cứ. Việc quan trọng nhất hiện nay là xác định người trực tiếp nhận tiền, người cam kết thực hiện thủ tục xuất khẩu lao động và người thực tế nhận hoặc sử dụng số tiền.

            Anh/chị nên giữ nguyên bản gốc các chứng cứ, đặc biệt là sao kê chuyển khoản và tin nhắn trao đổi. Nếu số tiền lớn hoặc vụ việc có nhiều người liên quan, cần kiểm tra kỹ hồ sơ, chứng cứ và quá trình giao nhận tiền trước khi xác định hướng tố giác hoặc khởi kiện.

            Cần kiểm tra thêm hồ sơ để tư vấn chính xác hơn.

            Nếu anh/chị cần hỗ trợ thêm về vấn đề này, vui lòng liên hệ với luật sư qua thông tin sau:
            📍 CÔNG TY LUẬT TNHH LUẬT SƯ 11
            ✔️ 120 – 122 Điện Biên Phủ, phường Tân Định, TP. Hồ Chí Minh
            📞 0979 800 000 – Zalo/Mobile
            📧 nguyenthanhhuan@luatsu11.vn
            🌐 https://luatsu11.vn

            Luật sư Nguyễn Thành Huân sẽ cùng đội ngũ là những luật sư nhiều năm kinh nghiệm tại Công ty Luật Sư 11 đồng hành cùng anh/chị để giải quyết vấn đề nêu vấn đề và bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của anh/chị.

          • First
          • 1
          • 2
          • 3
          • 4
          • 5
          • ...
          • Last

          Đánh giá (Rating) của iLAW

          1. Hệ thống Đánh giá (Rating) trên iLAW hoạt động như thế nào

          iLAW đưa ra Đánh giá (Rating) dựa trên các thông tin do Luật sư cung cấp trong trang cá nhân của Luật sư và các thông tin mà iLAW thu thập được (ví dụ, các thông tin do Đoàn Luật sư, Liên đoàn Luật sư hoặc các Sở tư pháp công bố...). Thêm vào đó, thuật toán thông minh (Smart Agorithm) trên hệ thống iLAW cũng nhận diện và tự động cập nhật thường xuyên những thay đổi (tăng hoặc giảm) của Đánh giá (Rating). 

          2. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến Đánh giá (Rating) của iLAW

          Kinh nghiệm và bằng cấp

          Số năm kinh nghiệm hành nghề của Luật sư, học vấn, bằng cấp chuyên môn hoặc các bằng cấp trong các lĩnh vực liên quan mà Luật sư đạt được.

          Thành tựu trong nghề nghiệp

          Các giải thưởng, vinh danh, bằng khen…của cá nhân Luật sư hoặc của văn phòng/công ty nơi Luật sư làm việc.

          Danh tiếng và uy tín trong nghề

          Mức độ tích cực của các Nhận xét (reviews) và đánh giá sao (từ 1 sao đến 5 sao) chất lượng dịch vụ pháp lý từ khách hàng cũ và Đánh giá của luật sư đồng nghiệp đối với Luật sư.

          Đóng góp cho nghề

          Luật sư có xuất bản các sách chuyên ngành pháp lý, các bài viết, chia sẻ quan điểm pháp lý trên các báo, tạp chí, các tham luận, trình bày tại các hội thảo chuyên ngành pháp lý...

          Đóng góp cho cộng đồng

          Luật sư tích cực tham gia trả lời miễn phí các Câu hỏi của khách hàng, chia sẻ miễn phí các thông tin pháp lý hữu ích, các biểu mẫu, mẫu hợp đồng cho khách hàng trên iLAW.

          3. Các mức độ của Đánh giá (Rating) của iLAW

          Kết quả Đánh giá (Rating) trên hệ thống iLAW được chia làm 04 mức độ tương ứng, phản ánh thông tin toàn diện về Luật sư và chất lượng cũng như uy tín của dịch vụ pháp lý mà Luật sư cung cấp:

          10 - 9.0: Xuất sắc 

          8.9 - 8.0: Rất tốt 

          7.9 - 7.0: Tốt 

          6.9 - 6.0: Trung bình

          • Về chúng tôi
          • Điều khoản sử dụng
          • Dành cho người dùng
          • Dành cho Luật sư
          • Chính sách bảo mật
          • Nội quy trang Nhận xét
          • Đánh giá của iLAW

          Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Pháp Lý Thông Minh

          Tầng 6,7 Toà nhà Friendship, số 31 Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

          Điện thoại: (028) 7303 2868

          Email: cskh@i-law.vn

          GCNĐKKD số 0314107106 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TPHCM cấp ngày 10/11/2016

          iLAW chỉ cung cấp thông tin và nền tảng công nghệ để bạn sử dụng thông tin đó. Chúng tôi không phải là công ty luật và không cung cấp dịch vụ pháp lý. Bạn nên tham vấn ý kiến Luật sư cho vấn đề pháp lý mà bạn đang cần giải quyết. Vui lòng tham khảo Điều khoản sử dụng và Chính sách bảo mật khi sử dụng website.

          © iLAW Inc. All Rights Reserved 2019