iLAW
iLAW
  • Tìm luật sư
    • Tư vấn pháp luật
      • Bài viết pháp luật
        • Câu hỏi pháp luật
          • Biểu mẫu
          • Dịch vụ pháp lý
          • Đặt câu hỏi miễn phí
          • Đăng nhập
          }

          Nguyễn Thành Huân

          Tổng cộng: 1137

          Nguyễn Thành Huân
          Gọi 0979800000
          • Quy định về chữ viết tay và đánh máy trong văn bản giao dịch

            Dạ xin chào các luật sư. Hiện em có làm văn bản thỏa thuận thanh toán tiền mua đất để đưa cho người bán ký. Tuy nhiên vì sơ suất, lúc soạn văn bản, phần cam kết thanh toán bị đánh máy thiếu chữ. Cụ thể: - Phần đánh máy: Bên B cam kết thanh toán cho Bên A số tiền ..... sau khi Vì bị thiếu thông tin nhưng vì 2 bên đã lỡ ký và lăn tay vào biên bản, nên em có viết thêm bằng bút bi vào biên bản ngay sau chữ "sau khi" để biên bản được đầy đủ. Vậy cho em hỏi là văn bản vừa chữ đánh máy vừa chữ viết bằng bút bi như vậy thì có hợp lệ không ạ? Cảm ơn các luật sư.

            Luật sư Nguyễn Thành Huân đã trả lời

            • 27/02/2025

            Quy định về chữ viết tay và đánh máy trong văn bản giao dịch

            Theo thông tin bạn cung cấp, giấy tờ hai bên ký chỉ là giấy tay. Vì lỗi đánh mấy nên phải bổ sung chữ “sau khi”.

            Văn bản thỏa thuận được lập theo ý chí của các bên, các bên đã ký và lăn tay đồng ý với nội dung trước khi ký tên vào văn bản. Trường hợp bạn bổ sung nội dung vào sau, để tránh tranh chấp thì ngay tại vị trí bổ sung nội dung cần có chữ ký của cả hai bên xác nhận nội dung sửa đổi.

            Việc bổ sung nội dung trong trường hợp của bạn không làm mất đi tính hiệu lực của thỏa thuận ban đầu, mà vấn đề nằm ở cách hiểu. Khi thiếu chữ “sau khi” thì có thể hiện đúng tinh thần của cả hai bên hay không? Có khả năng thiếu chữ “sau khi” mà bên người bán lợi dụng đến nói bạn vi phạm nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn hay không?... thì từ đó bạn có thể đánh giá được việc có cần thiết yêu cầu bên bán ký bổ sung hay có cách khác để làm bằng chứng

            Trân trọng.


            Hi vọng nội dung tư vấn giúp ích cho bạn.

            Lưu lại thông tin của Luật sư và add Zalo để liên hệ khi cần:

            Luật sư Nguyễn Thành Huân

            Giám đốc Công ty Luật TNHH Luật Sư 11 (120 - 122 Điện Biên Phủ, Đa Kao, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)

            Điện thoại: 0979 800 000

            Email: luatsuhuan11@gmail.com

            Website: https://luatsu11.vn

          • Người thứ 3 ngay tình

            Kính gửi: Quý Luật sư; Tôi tên là Huy, tôi có sự việc cụ thể như sau nhờ quý luật sư tư vấn giúp: • Năm 2019, tôi có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Đ (giấy CNQSDĐ được cấp vào năm 2016),dựa vào giấy chứng nhận đó tôi đã công chứng và sang tên tôi. • Vào năm 2020 tôi lại chuyển nhượng cho ông D và cũng đã công chứng sang cho ông D đứng tên. • Tôi và ông D không biết gì về nguồn gốc thửa đất trên cho đến khi được tòa triệu tập. • Nguyên thửa đất trên có nguồn gốc từ bà C, bà C chuyển nhượng cho bà L vào năm 2003 và bà L đã được cấp CNQSDĐ. Vì bà L ở xa nên không canh tác. • Năm 2006 bà C làm thủ tục đứng tên thửa đất trên và cũng được cấp giấy CNQSDĐ cùng năm. Sau đó bà C sang tên cho bà Đ (hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất) đứng tên năm 2016. • Vào 09/2022, bà L ra công chứng bán thửa đất trên nhưng được báo là đã có người đứng tên, cụ thể ở đây là ông D. Nên bà L kiện đòi lại thửa đất trên. • Qua phiên hòa giải sơ bộ thì bên Ủy Ban Huyện có gửi công văn đến tòa thừa nhận là đã cấp sai CNQSDĐ cho bà C vào năm 2006. . Đến đầu năm 2025, không biết vì lý do gì đội công an kinh tế và ma túy huyện có mời tôi lên để hỏi về việc: tôi có hỏi chính quyền địa phương về tình trạng thửa đất (tranh chấp) trước khi mua không? Tôi trả lời là: tôi có hỏi. (nhưng thực tế tôi chỉ hỏi miệng không có đơn từ gì?). Kính nhờ luật sư tư vấn giúp tôi các việc như sau: 1. Tôi và ông D có phải là người thứ 3 ngay tình không? 2. Câu trả lời của tôi ở đội cảnh sát kinh tế và ma túy thì có phát sinh pháp lý gì không? Xin chân thành cảm ơn quý Luật Sư và mong được sự phản hồi sớm! E_mail: huyckd042@gmail.com

            Luật sư Nguyễn Thành Huân đã trả lời

            • 25/02/2025

            Người thứ 3 ngay tình

            Việc bà C đứng tên trên giấy chứng nhận vào năm 2006 là không đúng pháp luật. Do đó, dẫn đến các giao dịch sau nay có thể trở nên vô hiệu. Tuy nhiên, từ khi Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực, người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự sẽ được pháp luật bảo vệ. Nếu thuộc trường hợp Bộ luật Dân sự quy định thì giao dịch dân sự không bị vô hiệu.

            Căn cứ khoản 2 Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu:

            “2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu…”

            Trong trường hợp của bạn. C (có giấy chứng nhận) tặng cho Đ vào năm 2016 và Đ đã được cấp giấy chứng nhận. Giao dịch giữa C và Đ là vô hiệu do C không phải chủ thực sự của Tài sản. Năm 2019 Đ lại chuyển nhượng cho bạn và bạn dựa vào việc Đ đứng tên và không biết về giao dịch giữa C và Đ thì mới giao dịch với Đ. Tiếp tục bạn chuyển nhượng cho D và D cũng không biết. Do đó, trong trường hợp này bạn và D là người thứ 3 ngay tình.

            Bạn trình bày bạn có hỏi địa phương về đất trước khi giao dịch với Đ. Vậy địa phương trả lời như thế nào, có nói về việc cấp sai cho C không? Nếu bạn được biết về thông tin này nhưng vẫn mua từ Đ thì bạn trở thành người không ngay tình. Do đó, bạn sẽ không được pháp luật bảo vệ.

            Trân trọng.


            Hi vọng nội dung tư vấn giúp ích cho bạn.

            Lưu lại thông tin của Luật sư và add Zalo để liên hệ khi cần:

            Luật sư Nguyễn Thành Huân

            Giám đốc Công ty Luật TNHH Luật Sư 11 (120 - 122 Điện Biên Phủ, Đa Kao, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)

            Điện thoại: 0979 800 000

            Email: luatsuhuan11@gmail.com

            Website: https://luatsu11.vn

          • Tranh chấp nuôi con

            Chào luật sư: 2 vợ chồng tôi đang trong quá trình ly hôn, và tranh chấp nuôi con nhỏ, con tôi vừa đủ 3 tuổi, tôi có thu nhập ổn định 1 tháng tầm 18tr, hiện tại con tôi đang ở với tôi và do tôi chịu hoàn toàn chi phí nuôi dưỡng trong thời gian ly thân, chồng tôi đã từng ly hôn 1 lần, và có 1 đứa con đang do vợ cũ nuôi dưỡng, hàng tháng chồng tôi vẫn phải chu cấp tiền nuôi dưỡng. Vậy khả năng tôi giành được quyền nuôi con là bao nhiêu ạ. Tôi chưa có nhà, nhưng tôi có tài sản là đất, tài sản này là tài sản riêng trước hôn nhân.

            Luật sư Nguyễn Thành Huân đã trả lời

            • 25/02/2025

            Tranh chấp nuôi con

            Trường hợp hai vợ chồng không thỏa thuận được việc ai là người nuôi con thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

            “Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

            1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

            2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con…”

            Như vậy, Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con phù hợp với điều kiện sống, tâm lý để quyết định giao con cho một bên cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Điều kiện kinh tế bạn kể ra cũng chỉ là một phương diện, bạn có thể tham khảo thêm tại Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

            “Điều 6. Giải quyết việc nuôi con khi ly hôn quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình

            1. Khi xem xét “quyền lợi về mọi mặt của con” quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình phải đánh giá khách quan, toàn diện các tiêu chí sau đây:

            a) Điều kiện, khả năng của cha, mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, bao gồm cả khả năng bảo vệ con khỏi bị xâm hại, bóc lột;

            b) Quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi, được duy trì mối quan hệ với người cha, mẹ không trực tiếp nuôi;

            c) Sự gắn bó, thân thiết của con với cha, mẹ;

            d) Sự quan tâm của cha, mẹ đối với con;

            đ) Bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con;

            e) Nguyện vọng của con được ở cùng với anh, chị, em (nếu có) để bảo đảm ổn định tâm lý và tình cảm của con;

            g) Nguyện vọng của con được sống chung với cha hoặc mẹ…”

             Trân trọng.


            Hi vọng nội dung tư vấn giúp ích cho bạn.

            Lưu lại thông tin của Luật sư và add Zalo để liên hệ khi cần:

            Luật sư Nguyễn Thành Huân

            Giám đốc Công ty Luật TNHH Luật Sư 11 (120 - 122 Điện Biên Phủ, Đa Kao, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)

            Điện thoại: 0979 800 000

            Email: luatsuhuan11@gmail.com

            Website: https://luatsu11.vn

          • Ly hon co gianh quyền nuoi con duoc khong

            Em muốn hỏi em chuẩn bị li dị nhưng muốn được quyền nuôi con ..con em năm nay 5tuổi là bé gái..thua nhap binh quân 9triệu ..em làm công nhân ...còn chồng em thì ai thuê gi làm đó...ngày có làm còn ngày thì không...nhà chồng thì đang ở đất nhà nội nhưng chưa có bằng khoán ...va không co đất đai...còn gia đình em thi co nhà cửa va ruong dất đàng hoàn..chúng em ly thân duoc 5tháng mấy ...hiện con ở voi em va dang đi học ....chỉ về nội chơi thu 7 va chủ nhật.....nhung ben cha bé vẫn mun giành quyền nuôi...nhung em thay gia dinh cha no khong ruong dat nhu vay ....roi ve con em se ra sao ....em muon giành quyen nuoi nhu vay co duoc khong ạ

            Luật sư Nguyễn Thành Huân đã trả lời

            • 22/02/2025

            Ly hon co gianh quyền nuoi con duoc khong

            Trường hợp hai vợ chồng không thỏa thuận được việc ai là người nuôi con thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

            “Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

            1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

            2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con…”

            Như vậy, Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con phù hợp với điều kiện sống, tâm lý để quyết định giao con cho một bên cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Các điều kiện bạn kể ra cũng chỉ là một phương diện, bạn có thể tham khảo thêm tại Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

            “Điều 6. Giải quyết việc nuôi con khi ly hôn quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình

            1. Khi xem xét “quyền lợi về mọi mặt của con” quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình phải đánh giá khách quan, toàn diện các tiêu chí sau đây:

            a) Điều kiện, khả năng của cha, mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, bao gồm cả khả năng bảo vệ con khỏi bị xâm hại, bóc lột;

            b) Quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi, được duy trì mối quan hệ với người cha, mẹ không trực tiếp nuôi;

            c) Sự gắn bó, thân thiết của con với cha, mẹ;

            d) Sự quan tâm của cha, mẹ đối với con;

            đ) Bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con;

            e) Nguyện vọng của con được ở cùng với anh, chị, em (nếu có) để bảo đảm ổn định tâm lý và tình cảm của con;

            g) Nguyện vọng của con được sống chung với cha hoặc mẹ…”


            Hi vọng nội dung tư vấn giúp ích cho bạn.

            Lưu lại thông tin của Luật sư và add Zalo để liên hệ khi cần:

            Luật sư Nguyễn Thành Huân

            Giám đốc Công ty Luật TNHH Luật Sư 11 (120 - 122 Điện Biên Phủ, Đa Kao, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)

            Điện thoại: 0979 800 000

            Email: luatsuhuan11@gmail.com

            Website: https://luatsu11.vn

          • Xin kháng cáo

            Con chào luật sư, con xin được hỏi về vấn đề làm lễ Tân sòng bài , con vừa ở tòa và tuyến án là 1 năm 6 tháng. Bây giờ con muốn làm đơn kháng cáo lên phúc thẩm, thì có được án treo không ạ, và nếu con muốn thuê luật sự thì phí là bao nhiêu ạ. Con cảm ơn ạ

            Luật sư Nguyễn Thành Huân đã trả lời

            • 12/02/2025

            Xin kháng cáo

            Nếu bạn không đồng ý với bản án sơ thẩm có thể kháng cáo để Tòa án phúc thẩm xét xử lại.

            Căn cứ Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 được sửa đổi bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

            “Điều 2. Điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo

            Người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

            1. Bị xử phạt tù không quá 03 năm.

            2. Người bị xử phạt tù có nhân thân là ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.

            a) Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà tính đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo;

            b) Đối với người bị kết án mà khi định tội đã sử dụng tình tiết “đã bị xử lý kỷ luật” hoặc “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” hoặc “đã bị kết án” và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo;

            c) Đối với người bị kết án mà vụ án được tách ra để giải quyết trong các giai đoạn khác nhau (tách thành nhiều vụ án) và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.

            3. Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

            Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

            4. Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

            Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.

            Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

            5. Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

            6. Khi xem xét, quyết định cho bị cáo hưởng án treo Tòa án phải xem xét thận trọng, chặt chẽ các điều kiện để bảo đảm việc cho hưởng án treo đúng quy định của pháp luật, đặc biệt là đối với các trường hợp hướng dẫn tại khoản 2, khoản 4 và khoản 5 Điều 3 Nghị quyết này.”

            Bạn có thể dựa vào các điều kiện kể trên để đánh giá xem mình có được hưởng án treo theo quy định của pháp luật hay không.

            Trân trọng.


            Hi vọng nội dung tư vấn giúp ích cho bạn.

            Lưu lại thông tin của Luật sư và add Zalo để liên hệ khi cần:

            Luật sư Nguyễn Thành Huân

            Giám đốc Công ty Luật TNHH Luật Sư 11 (120 - 122 Điện Biên Phủ, Đa Kao, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)

            Điện thoại: 0979 800 000

            Email: luatsuhuan11@gmail.com

            Website: https://luatsu11.vn

          • Giao cấu vs trẻ dưới 13 tuổi cả 2 bên tự nguyện

            Cho em hỏi giao cấu vs trẻ 13 tuổi cả 2 tự nguyện có bị sao ko ạ

            Luật sư Nguyễn Thành Huân đã trả lời

            • 12/02/2025

            Giao cấu vs trẻ dưới 13 tuổi cả 2 bên tự nguyện

            Cần xác định trẻ 13 tuổi là đã đủ ngày tháng theo giấy khai sinh chưa.

            -         Nếu Giao cấu với trẻ dưới 13 tuổi (cho dù có tự nguyên hay không) thì sẽ bị truy cứu về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142 Bộ luật Hình sự 2015).

            -         Nếu giao cấu với trẻ từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì người thực hiện hành vi (người từ đủ 18 tuổi trở lên) sẽ bị truy cứu về tội Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145 Bộ luật Hình sự 2015)

            Do đó, không cần xét đến trẻ 13 tuổi có tự nguyện hay không, chỉ cần người thực hiện hành vi giao cấu có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các quy định kể trên.

            Trân trọng.


            Hi vọng nội dung tư vấn giúp ích cho bạn.

            Lưu lại thông tin của Luật sư và add Zalo để liên hệ khi cần:

            Luật sư Nguyễn Thành Huân

            Giám đốc Công ty Luật TNHH Luật Sư 11 (120 - 122 Điện Biên Phủ, Đa Kao, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)

            Điện thoại: 0979 800 000

            Email: luatsuhuan11@gmail.com

            Website: https://luatsu11.vn  

          • Phương thức thông báo khi bên thuê đất chậm trễ thanh toán chi phí

            Kính chào Quý luật sư, Hiện tại tôi đang cho thuê 1 mảnh đất và phía bên thuê đất đã chậm thanh toán 3 tháng so với kỳ hạn. Theo tôi tìm hiểu thì để thực hiện đơn phương chấm dứt hợp đồng tôi cần thực hiện thông báo nhắc nhở yêu cầu thanh toán đến bên thuê. Hoặc trường hợp muốn chấm dứt thời hạn thuê tôi cũng cần gửi thông báo chính thức bằng văn bản đến bên thuê. Tôi mong muốn nhờ Quý luật sư tư vấn về hình thức (văn bản), nội dung và phương thức gửi (gửi trực tiếp, gửi qua bưu điện, gửi zalo,...) thông báo như thế nào để đúng quy định và có đầy đủ căn cứ pháp lý chứng cứ khi thực hiện các khiếu nại tranh chấp phát sinh nếu cần. Trường hợp nếu bên thuê từ chối nhận hoặc lãng tránh thì làm sao chứng minh tôi đã có thông báo đúng trình tự. Xin chân thành cảm ơn!

            Luật sư Nguyễn Thành Huân đã trả lời

            • 11/02/2025

            Phương thức thông báo khi bên thuê đất chậm trễ thanh toán chi phí

            Căn cứ Điều 481 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

            “1. Bên thuê phải trả đủ tiền thuê đúng thời hạn đã thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận về thời hạn trả tiền thuê thì thời hạn trả tiền thuê được xác định theo tập quán nơi trả tiền; nếu không thể xác định được thời hạn theo tập quán thì bên thuê phải trả tiền khi trả lại tài sản thuê.

            2. Trường hợp các bên thỏa thuận việc trả tiền thuê theo kỳ hạn thì bên cho thuê có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, nếu bên thuê không trả tiền trong ba kỳ liên tiếp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”

            Như vậy, nếu không có thỏa thuận nào khác, việc bên thuê không trả tiền trong 3 tháng liên tiếp thì đã có cơ sở để bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng cho thuê.

            Căn cứ khoản 2 Điều 428 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

            “2. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.”

            Bạn muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng phải thực hiện thông báo trong khoản thời gian hợp lý cho bên thuê biết về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng.

            Việc gửi thông báo nên được lập thành văn bản, gửi bưu điện. Ngoài ra, bạn có thể nhắn tin qua các ứng dụng, ghi âm cuộc điện thoại để có được xác nhận người người thuê đã nhận được thông báo của bạn. Bạn có thể lập vi bằng nếu người thuê không nhận văn bản của bạn để có cơ sở chấm dứt hợp đồng đúng pháp luật.

            Trân trọng.


            Hi vọng nội dung tư vấn giúp ích cho bạn.

            Lưu lại thông tin của Luật sư và add Zalo để liên hệ khi cần:

            Luật sư Nguyễn Thành Huân

            Giám đốc Công ty Luật TNHH Luật Sư 11 (120 - 122 Điện Biên Phủ, Đa Kao, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)

            Điện thoại: 0979 800 000

            Email: luatsuhuan11@gmail.com

            Website: https://luatsu11.vn

          • Hôn nhân

            Tôi muốn hỏi : nếu tôi kết hôn , tài sản trước hôn nhân của tôi theo pháp luật có được gọi là chung khi có hôn nhân không ? Và tôi phải làm gì để chứng minh và bảo vệ tài sản trước hôn nhân cho đúng luật pháp để tránh tranh chấp

            Luật sư Nguyễn Thành Huân đã trả lời

            • 10/02/2025

            Hôn nhân

            Tài sản trước hôn nhân theo bạn trình bày có thể hiểu là tài sản đã hình thành, hoàn tất đứng tên bạn trước thời kỳ hôn nhân. Nếu thuộc trường hợp này có thể: Lập thỏa thuận, cam kết với vợ/chồng của bạn rằng tài sản trước hôn nhân là tài sản riêng của bạn; lưu giữ lại các giấy tờ chứng minh tài sản của bạn hình thành trước thời ký hôn nhân để chứng minh người vợ/chồng không có công sức đóng góp gì đối với tài sản…

            Còn nếu tài sản khi bắt đầu mua trước thời ký hôn nhân, nhưng hoàn tất việc mua bán, chuyển nhượng… sau khi kết hôn thì việc chứng minh tài sản sẽ trở nên khó khăn hơn.

            Bạn liên hệ để được tư vấn chi tiết hơn.

            Trân trọng.


            Hi vọng nội dung tư vấn giúp ích cho bạn.

            Lưu lại thông tin của Luật sư và add Zalo để liên hệ khi cần:

            Luật sư Nguyễn Thành Huân

            Giám đốc Công ty Luật TNHH Luật Sư 11 (120 - 122 Điện Biên Phủ, Đa Kao, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)

            Điện thoại: 0979 800 000

            Email: luatsuhuan11@gmail.com

            Website: https://luatsu11.vn

          • Trả lời đơn thư

            Ông Nguyễn Văn A có giấy tờ mua bán tài sản gắn liền với đất năm 1990 đối với thửa đất 123. Năm 1996 khi đo đạc bản đồ thì thửa đất trên mang tên bố của ông A, Năm 2001 bố ông A được cấp GCNQSD đất đối với thửa đất nêu trên. tại thời điểm cấp GCNQSD đất bố ông A đã mất và GCNQSD đất mang tên bố ông A và đã đuọc ông A nhận và lưu giữ sử dụng từ đó đến tháng 10 năm 2024. Đến tháng 10 năm 2024 ông A mới trình báo với UBND phường và thị xã yêu cầu huỷ giấy CNQSD đất nêu trên với lý do là do tại thời điểm năm 2021 cấp sai tên của ông A sang tên bố ông A (Ông A cũng cung cấp giấy tờ mua bản năm 1990). UBND phường đã thành lập tổ xác minh để xác minh lại nguồn gốc sử dụng thủa đất nêu trên, trong quả trình xác minh các thành viên thừa kết theo pháp luật của bố ông A dều khẳng định thửa đất nêu trên của bố ông A bán nhà nơi khác về mua (giao ông A đúng tên mua bán) và đã gửi đơn kiến nghị thực hiện phân chia tài sản thừa kế. UBND phường đã hoà giải không thành và hướng dẫn các bên khởi kiện ra Toàn án nhân dân. Vậy tôi xin hỏi quy trình giải quyết như thế là đúng chưa

            Luật sư Nguyễn Thành Huân đã trả lời

            • 10/02/2025

            Trả lời đơn thư

            Tranh chấp giữa ông A và người thừa kế của bố ông A là tranh chấp đất đai.

            Căn cứ khoản 2 Điều 235 Luật Đất đại 2024 quy định: “Trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai quy định tại Điều 236 của Luật này, các bên tranh chấp phải thực hiện hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp…”

            Căn cứ khoản 1 Điều 236 Luật Đất đai 2024 quy định: “Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp hoặc một trong các bên tranh chấp có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 137 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án giải quyết.”

            Như vậy, quy trình giải quyết bắt đầu từ việc hòa giải tại UBND xã. Nếu hòa giải không thành trong trường hợp đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bố của ông A thì Tòa án nhân dân là cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Một trong các bên muốn Tòa án giải quyết phải nộp đơn khởi kiện kèm với biên bản hòa giải không thành tại UBND xã thì mới đủ điều kiện để thụ lý giải quyết

            Tóm lại, quy trình làm việc của UBND xã đã phù hợp với quy định của pháp luật.

            Trân trọng.


            Hi vọng nội dung tư vấn giúp ích cho bạn.

            Lưu lại thông tin của Luật sư và add Zalo để liên hệ khi cần:

            Luật sư Nguyễn Thành Huân

            Giám đốc Công ty Luật TNHH Luật Sư 11 (120 - 122 Điện Biên Phủ, Đa Kao, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)

            Điện thoại: 0979 800 000

            Email: luatsuhuan11@gmail.com

            Website: https://luatsu11.vn

          • Thiếu nợ bằng giấy viết tay có đòi được không?

            Năm 2017 đối phương có nợ mình và được ghi giấy nợ tay. Đến bây giờ thì có những thông tin trên giấy nợ không còn đúng với thực tế, cụ thể là số CCCD đã được thay đổi từ CMND. Vậy giấy nợ này còn giá trị không? Mình cảm ơn.

            Luật sư Nguyễn Thành Huân đã trả lời

            • 02/01/2025

            Thiếu nợ bằng giấy viết tay có đòi được không?

            Giấy nợ là giấy tờ ghi nhận lại sự việc bạn có cho người đi vay mượn tiền. Thực tế bạn có cho người đó vay tiền thì các thông tin CMND cũ có thể dùng để đối chiếu với số CCCD mới. Việc thay đổi từ CMND sang CCCD không làm mất đi nghĩa vụ trả nợ của người đi vay. Do đó, nếu chỉ thông tin về số CMND có sự thay đổi thì giấy vay vẫn còn giá trị.

            Trân trọng.


            Hi vọng nội dung tư vấn giúp ích cho bạn.

            Lưu lại thông tin của Luật sư và add Zalo để liên hệ khi cần:

            Luật sư Nguyễn Thành Huân

            Giám đốc Công ty Luật TNHH Luật Sư 11 (120 - 122 Điện Biên Phủ, Đa Kao, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)

            Điện thoại: 0979 800 000

            Email: luatsuhuan11@gmail.com

            Website: https://luatsu11.vn

          • First
          • ...
          • 20
          • 21
          • 22
          • 23
          • 24
          • ...
          • Last

          Đánh giá (Rating) của iLAW

          1. Hệ thống Đánh giá (Rating) trên iLAW hoạt động như thế nào

          iLAW đưa ra Đánh giá (Rating) dựa trên các thông tin do Luật sư cung cấp trong trang cá nhân của Luật sư và các thông tin mà iLAW thu thập được (ví dụ, các thông tin do Đoàn Luật sư, Liên đoàn Luật sư hoặc các Sở tư pháp công bố...). Thêm vào đó, thuật toán thông minh (Smart Agorithm) trên hệ thống iLAW cũng nhận diện và tự động cập nhật thường xuyên những thay đổi (tăng hoặc giảm) của Đánh giá (Rating). 

          2. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến Đánh giá (Rating) của iLAW

          Kinh nghiệm và bằng cấp

          Số năm kinh nghiệm hành nghề của Luật sư, học vấn, bằng cấp chuyên môn hoặc các bằng cấp trong các lĩnh vực liên quan mà Luật sư đạt được.

          Thành tựu trong nghề nghiệp

          Các giải thưởng, vinh danh, bằng khen…của cá nhân Luật sư hoặc của văn phòng/công ty nơi Luật sư làm việc.

          Danh tiếng và uy tín trong nghề

          Mức độ tích cực của các Nhận xét (reviews) và đánh giá sao (từ 1 sao đến 5 sao) chất lượng dịch vụ pháp lý từ khách hàng cũ và Đánh giá của luật sư đồng nghiệp đối với Luật sư.

          Đóng góp cho nghề

          Luật sư có xuất bản các sách chuyên ngành pháp lý, các bài viết, chia sẻ quan điểm pháp lý trên các báo, tạp chí, các tham luận, trình bày tại các hội thảo chuyên ngành pháp lý...

          Đóng góp cho cộng đồng

          Luật sư tích cực tham gia trả lời miễn phí các Câu hỏi của khách hàng, chia sẻ miễn phí các thông tin pháp lý hữu ích, các biểu mẫu, mẫu hợp đồng cho khách hàng trên iLAW.

          3. Các mức độ của Đánh giá (Rating) của iLAW

          Kết quả Đánh giá (Rating) trên hệ thống iLAW được chia làm 04 mức độ tương ứng, phản ánh thông tin toàn diện về Luật sư và chất lượng cũng như uy tín của dịch vụ pháp lý mà Luật sư cung cấp:

          10 - 9.0: Xuất sắc 

          8.9 - 8.0: Rất tốt 

          7.9 - 7.0: Tốt 

          6.9 - 6.0: Trung bình

          • Về chúng tôi
          • Điều khoản sử dụng
          • Dành cho người dùng
          • Dành cho Luật sư
          • Chính sách bảo mật
          • Nội quy trang Nhận xét
          • Đánh giá của iLAW

          Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Pháp Lý Thông Minh

          Tầng 6,7 Toà nhà Friendship, số 31 Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

          Điện thoại: (028) 7303 2868

          Email: cskh@i-law.vn

          GCNĐKKD số 0314107106 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TPHCM cấp ngày 10/11/2016

          iLAW chỉ cung cấp thông tin và nền tảng công nghệ để bạn sử dụng thông tin đó. Chúng tôi không phải là công ty luật và không cung cấp dịch vụ pháp lý. Bạn nên tham vấn ý kiến Luật sư cho vấn đề pháp lý mà bạn đang cần giải quyết. Vui lòng tham khảo Điều khoản sử dụng và Chính sách bảo mật khi sử dụng website.

          © iLAW Inc. All Rights Reserved 2019