Thông tin cá nhân
3 Luật sư trả lời
Chào bạn!
Theo thông tin bạn cung cấp thì khả năng bạn đang bị lừa đảo. Không bao giờ có chuyện mới quen qua mạng mà gửi cho bạn một số tiền lớn. Thủ đoạn của các đối tượng này là đánh vào lòng tham và sự hiểu biết. Sau khi bạn đồng ý bọn chúng sẽ nói là đã gửi tiền rồi nhưng đang kẹt ở hải quan, thuế, sân bay, bưu điện và yêu cầu bạn nộp tiền phạt hoặc tiền phí để lấy ra. Sau đó thì bọn chúng biến mất.
Luật sư Phạm Đức Huy.
Chào
bạn, căn cứ vào thông tin mà bạn cung cấp, Luật sư xin đưa ra tư vấn như sau:
1.
Thông tin cá nhân là gì?
Thông
tin cá nhân (TTCN) là thông tin đủ để xác định chính xác danh tính một cá nhân,
bao gồm ít nhất nội dung trong những thông tin sau đây: họ tên, ngày sinh, nghề
nghiệp, chức danh, địa chỉ liên hệ, địa chỉ thư điện tử, số điện thoại, số
chứng minh nhân dân, số hộ chiếu. Những thông tin thuộc bí mật cá nhân gồm có
hồ sơ y tế, hồ sơ nộp thuế, số thẻ bảo hiểm xã hội, số thẻ tín dụng và những bí
mật cá nhân khác.
2.
Vì sao cần bảo vệ thông tin cá nhân?
Các
thông tin cá nhân sau khi được tiếp cận bởi doanh nghiệp, có thể trở
thành nguồn dữ liệu có giá trị thương mại nhất thông qua các hoạt
động truyền thông, quảng bá, tiếp thị và các hoạt động cạnh tranh
trên thương trường. Vì vậy, doanh nghiệp muốn nắm bắt, thu thập, sử
dụng, phân tích, khai thác TTCN của khách hàng hiện tại và các khách
hàng tiềm năng. Tuy nhiên, ở một chiều cạnh khác, để bảo đảm cuộc
sống riêng tư, sự tự do cần thiết trong đời sống thường nhật, nhìn
chung, các cá nhân không muốn TTCN của mình bị lộ, lọt vào tay những
người mà người có TTCN không biết họ sẽ sử dụng thông tin đó cho mục
đích gì. Nói cách khác, mỗi cá nhân rất không muốn các TTCN của
mình bị rơi vào tay người lạ. Chính vì thế, mỗi cá nhân thường có
nhu cầu kiểm soát (hoặc tìm cách kiểm soát) sự lan truyền TTCN liên
quan tới bản thân mình.
3.
Pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân
3.1.
Khái quát chung
Đáp
ứng được mối lo ngại đó, trong những thập niên gần đây, pháp luật ở
nhiều quốc gia trên thế giới đã thiết lập các chuẩn mực về việc
tiếp cận, sử dụng TTCN trong các giao dịch giữa cá nhân với doanh
nghiệp hoặc giữa cá nhân với các cơ quan công quyền. Việt Nam cũng
không phải là ngoại lệ.
Ở
Việt Nam, thuật ngữ “TTCN” đã được nhắc tới trong Luật Dược năm 2005
và yêu cầu bảo mật “TTCN” trong lĩnh vực hàng không đã được đề cập
trong Luật Hàng không dân dụng năm 2006. Tuy nhiên, các quy định cụ thể
về bảo vệ TTCN chỉ thực sự xuất hiện trong Luật Công nghệ thông tin
năm 2006 (Luật CNTT). Mặc dù vậy, Luật CNTT chỉ quy định việc bảo vệ
TTCN trên môi trường mạng chứ không quy định chung cho việc bảo vệ TTCN.
3.2.
Luật công nghệ thông tin
Theo
quy định của khoản 1 Điều 21 Luật công nghệ thông tin, tổ chức, cá nhân
“thu thập, xử lý và sử dụng TTCN của người khác trên môi trường mạng
phải được người đó đồng ý trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác”.
Khi
thu thập, xử lý và sử dụng TTCN của người khác, chủ thể thực hiện
hành vi này có trách nhiệm:
“a)
Thông báo cho người đó biết về hình thức, phạm vi, địa điểm và mục đích của
việc thu thập, xử lý và sử dụng TTCN của người đó;
b)
Sử dụng đúng mục đích TTCN thu thập được và chỉ lưu trữ những thông tin đó
trong một khoảng thời gian nhất định theo quy định của pháp luật hoặc theo thoả
thuận giữa hai bên;
c)
Tiến hành các biện pháp quản lý, kỹ thuật cần thiết để bảo đảm TTCN không bị
mất, đánh cắp, tiết lộ, thay đổi hoặc phá huỷ;
d)
Tiến hành ngay các biện pháp cần thiết khi nhận được yêu cầu kiểm tra lại, đính
chính hoặc hủy bỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 22 của Luật này; không được
cung cấp hoặc sử dụng TTCN liên quan cho đến khi thông tin đó được đính chính
lại”.
Ngoại
lệ cho việc thu thập, xử lý và sử dụng TTCN của người khác mà không
cần sự đồng ý của người đó được đặt ra:
“Trong
trường hợp TTCN đó được sử dụng cho mục đích sau đây:
a)
Ký kết, sửa đổi hoặc thực hiện hợp đồng sử dụng thông tin, sản phẩm, dịch vụ
trên môi trường mạng;
b)
Tính giá, cước sử dụng thông tin, sản phẩm, dịch vụ trên môi trường mạng;
c)
Thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”.
Khoản
1 Điều 22 Luật CNTT quy định quyền của chủ thể thông tin trong việc
kiểm tra, yêu cầu đính chính hoặc hủy bỏ TTCN do chủ thể khác lưu
trữ. Theo đó, “cá nhân có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân lưu trữ TTCN của
mình trên môi trường mạng thực hiện việc kiểm tra, đính chính hoặc hủy bỏ thông
tin đó”
Khoản
2 Điều 22 Luật CNTT quy định “tổ chức, cá nhân không được cung cấp TTCN của
người khác cho bên thứ ba, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc có sự
đồng ý của người đó”. Thêm vào đó, “cá nhân có quyền yêu cầu bồi thường thiệt
hại do hành vi vi phạm trong việc cung cấp TTCN”.
Có
thể nói rằng, các quy định kể trên hàm ý rằng, việc “thu thập, xử
lý, sử dụng, chuyển nhượng TTCN” của bất cứ tổ chức, cá nhân nào
trên môi trường mạng đều phải bảo đảm yêu cầu về “tính hợp pháp”.
Chủ thể TTCN có một số quyền nhất định đối với tổ chức, cá nhân
thu thập, xử lý, sử dụng và chuyển nhượng TTCN.
Điểm
đáng nói là, Luật CNTT chỉ mới khẳng định các nghĩa vụ và ràng
buộc pháp lý kể trên đối với việc thu thập, xử lý, lưu trữ, chuyển
nhượng TTCN trên môi trường mạng. Do đó, đạo luật này để lại một
khoảng trống pháp lý đối với việc bảo vệ TTCN không ở trên môi
trường mạng (tức là ở môi trường vật lý - môi trường offline). Thêm
vào đó, thuật ngữ “chủ thể TTCN” hoặc chủ thể dữ liệu (data subject)
chưa được sử dụng trong đạo luật này.
Trên
cơ sở quy định của Luật CNTT, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt
động của cơ quan nhà nước. Nghị định này lần đầu tiên có quy định
tại khoản 5 Điều 3 giải thích “TTCN” là “thông tin đủ để xác định chính
xác danh tính một cá nhân, bao gồm ít nhất nội dung trong những thông tin sau
đây: họ tên, ngày sinh, nghề nghiệp, chức danh, địa chỉ liên hệ, địa chỉ thư
điện tử, số điện thoại, số chứng minh nhân dân, số hộ chiếu. Những thông tin
thuộc bí mật cá nhân gồm có hồ sơ y tế, hồ sơ nộp thuế, số thẻ bảo hiểm xã hội,
số thẻ tín dụng và những bí mật cá nhân khác”.
TRÊN
ĐÂY LÀ Ý KIẾN TƯ VẤN CÓ TÍNH CHẤT THAM KHẢO THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
Nếu
bạn cần tư vấn, cần luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và hỗ trợ thực
hiện các thủ tục theo đúng quy định pháp luật, bạn có thể đến trực tiếp Văn
phòng Công ty Luật TNHH Một thành viên Vân Hoàng Minh tại: 422 Võ văn Kiệt,
Phường Cô Giang, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh hoặc văn phòng giao dịch của
Công ty Luật TNHH Một thành viên Vân Hoàng Minh tại: 158/1A Nguyễn Sơn, P.Phú
Thọ Hòa, Quận Tân Phú (Tầng 2).
Trân
trọng./
Luật
sư Dương Hoài Vân
Giám
đốc Công ty Luật TNHH Một thành viên Vân Hoàng Minh
Luật sư Dương Hoài Vân.
Chào bạn,
Đầu tiên Công ty Luật TLT xin gửi
lời chào trân trọng đến bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng đặt câu hỏi.
Về câu hỏi của bạn, Chúng tôi xin
có chia sẻ như sau:
Với thông tin bạn cung cấp, sẽ có
rủi ro nếu có kẻ xấu sử dụng các thông tin cá nhân của bạn để thực hiện hành vi
trái pháp luật. Do đó, bạn nên cẩn trọng bảo mật các thông tin cá nhân của mình
và hết sức cân nhắc trước khi chia sẻ với người khác, đặc biệt là người lạ.
Trên đây là ý kiến mang tính chất
tham khảo. Chúng tôi rất sẵn lòng hỗ trợ để bảo vệ tốt nhất và có lợi nhất quyền
lợi chính đáng của bạn.
Bạn có thể liên hệ Luật sư TLT
theo thông tin sau:
-
Luật sư Nguyễn Quang Trung – 0862667736
-
Công ty Luật TNHH TLT
-
Địa chỉ: 45 Võ Thị Sáu, Phường Đa Kao, Quận 1,
TP.HCM
-
www.tltlegal.com
Trân trọng.
Luật sư Nguyễn Quang Trung.
Không thể tìm thấy những gì bạn đang tìm kiếm?
Gửi một câu hỏi miễn phí trên diễn đàn công cộng của chúng tôi. Đặt một câu hỏi
Đặt câu hỏi- hoặc -
Tìm kiếm luật sư bằng cách đánh giá và xếp hạng..
Tìm kiếm luật sư

