Liên quan về góp vốn chung để kinh doanh chia lợi nhuận nhưng người đại diện Công ty bội tín không thưucj hiện
Từ mối quan hệ quen biết, hai vợ chồng bà Trần Thị Hiến - ông Phạm Văn Mạnh là chủ sở hữu của Công ty TNHH MTV đầu tư và phát triển năng lượng 35 (sau đây viết tắt là Công ty 35) đã tiếp cận gia đình tôi đưa ra lời đề nghị hợp tác, góp vốn đầu tư dự án điện mặt trời mái nhà tại thửa đất nói trên để hoạt động sản xuất, kinh doanh điện và chia lợi nhuận. Nên đầu tháng 11 năm 2020, gia đình tôi có thỏa thuận hợp tác, góp vốn vào Công ty để đầu tư dự án, đồng thời, giữa gia đình tôi và vợ chồng ông Mạnh có thỏa thuận sẽ thực hiện chuyển đổi giấy phép Công ty từ MTV thành Công ty từ hai thành viên trở lên hoặc Công ty cổ phần để bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của người góp vốn vào đầu tư dự án theo quy định tại: Theo Điều 87, Luật Doanh nghiệp năm 2020 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 1 năm 2021 thì Công ty TNHH MTV có quyền huy động vốn để tăng vốn điều lệ. Tuy nhiên, đây là phần vốn góp từ các tổ chức và cá nhân khác, nên công ty phải chuyển sang mô hình Công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên hoặc Công ty cổ phần), có bà Trang làm Kế toán công ty 35 thời điểm đó và cùng vợ chồng ông Anh – bà Liên chủ nhân thửa đất số 10 và nhà kho gắn liền với đất tại dự án làm chứng. Sau khi thống nhất các thỏa thuận hợp tác đầu tư, ông Mạnh, bà Trang kế toán công ty liên tục điện thoại hối thúc gia đình tôi chuyển tiền vào công ty để đi mua thiết bị, vật tư xây dựng dự án, và ngày 19/11/2020, gia đình tôi đến Ngân hàng Agribank chi nhánh huyện Chư Prông có chuyển số tiền 750.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy trăm năm mươi triệu đồng) vào tài khoản số 0721126666668 của Công ty TNHH MTV đầu tư và phát triển năng lượng 35 do chồng bà Hiến, ông Phạm Văn Mạnh đứng tên chủ tài khoản (có Giấy ủy nhiệm chi của Ngân hàng AgriBank chi nhánh huyện Chư Prông với nội dung góp vốn đầu tư điện mặt trời mái nhà và Bảng sao kê sổ hoạch toán chi tiết của Công ty năng lượng 35 kèm theo), cùng ngày vợ chồng tôi có ký Hợp đồng góp vốn gửi lại cho Kế toán Công ty 35 (thời điểm đó là bà Trang) để được chồng bà Hiến là ông Mạnh với tư cách là người đại diện theo pháp luật của Công ty ký vào Hợp đồng thỏa thuận góp vốn và cấp Giấy chứng nhận phần vốn góp với số tiền là 750.000.000 đồng, dù rất nhiều lần yêu cầu nhưng đến nay gia đình tôi vẫn chưa nhận được Hợp đồng thỏa thuận góp vốn hoặc Giấy xác nhận vốn góp từ phía Công ty 35 mà ông Mạnh đại diện pháp luật. Để dự án được hưởng theo cơ chế giá theo Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg ngày 06/4/2020 của Chính phủ quy định điều kiện dự án phải được nghiệm thu đóng điện đưa vào vận hành trước 31/12/2020. Vì vậy, ngày 26/12/2020 dự án đã hoàn thiện, nghiệm thu đóng điện đưa vào vận hành khai thác và Công ty Điện lực Gia Lai đã ký hợp đồng mua bán điện với Công ty 35 tại Hợp đồng số: 20/000469 (mã khách hàng: PC 10NN052234), dự án được vận phát điện để bán cho ngành Điện cho đến nay. Tuy nhiên, sau khi dự án phát điện, có doanh thu và lợi nhuận cho đến nay vợ chồng bà Hiến - ông Mạnh vi phạm thỏa thuận góp vốn như lúc ban đầu như: Không quyết toán dự án hoàn thành dựa trên khối lượng và chất lượng giá trị thi công thực tế tại dự án; không xác nhận vốn góp vào Công ty năng lượng 35 của gia đình tôi để quy đổi ra phần trăm cổ phần tương ứng; không thực hiện chuyển đổi mô hình hoạt động từ Công ty TNHH MTV sang Công ty cổ phần hoặc Công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên (theo quy định tại Điều 87 của Luật Danh nghiệp năm 2020) như đã cam kết. Đồng thời, đến nay không công khai, minh bạch hoạt động thu, chi về tài chính từ danh thu của dự án tạo ra, đến nay đã 15 tháng (kể từ ngày góp vốn) gia đình tôi chưa nhận được một đồng lợi nhuận nào từ phía Công ty 35, vì thế, từ trước đến nay gia đình tôi không được tham gia bất kỳ hoạt động gì của công ty 35. Trong khi, ước tính mỗi tháng doanh thu từ bán điện chuyển về tài khoản Công ty 35 khoảng 250 đến 300 triệu đồng, trừ các khoảng chi phí như trả tiền gốc + lãi cho ngân hàng Quân đội MB và một số chi phí duy trì hoạt động của công ty thì mỗi tháng lợi nhuận mang lại khoảng 100 triệu đồng. Vợ chồng bà Hiến - ông Mạnh đã dùng thủ đoạn gian dối, cứ thế rút tiền từ lợi nhuận của dự án tạo ra để chiếm đoạt chi tiêu cho cá nhân, gia đình mình. Đồng thời, thời gian gần đây vợ chồng bà Hiến - ông Mạnh có ý định bán dự án, sang nhượng lại Công ty năng lượng 35 cho một nhà đầu tư khác (Có kèm theo Thông báo chuyển giao doanh nghiệp thực hiện dự án của vợ chồng bà Hiến - ông Mạnh ngày 23/6/2021 và có dẫn nhà đầu tư vào xem dự án) và có ý định không trả lại toàn bộ số tiền đã nhận từ việc kêu gọi góp vốn của gia đình tôi. * Và đáng chú ý: Gần đây nhất, ngày 31/12/2021 tại trụ sở Công ty năng lượng 35 có sự chứng kiến của ông Trịnh Văn Tuyên phó Chi cục THA dân sự huyện, Công an thị trấn và mọi người (những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan); Vợ chồng bà Hiến - ông Mạnh khẳng định rằng việc chuyển tiền vào tài khoản Công ty 35 (ông Phạm Văn Mạnh đứng tên chủ tài khoản) là do gia đình tôi tự ý, tự nguyện mà vợ chồng ông bà bảo không biết và còn nói gia đình tôi chuyển tiền vào công ty là nhằm mục đích để phá hại. Từ lời nói trên đã hiện rõ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của vợ chồng bà Hiến đối với số tiền của gia đình tôi. Vậy xin hỏi Công ty Luật gia đình tôi thực hiện đi kiện về nội dung nào ngoài đòi trả tiền không, vì kiện đòi tiền tòa án phán khi nào công ty ăn nên làm ra, có tiền công ty sẽ trả và thười gian trả không cố định và chia ra nhiều lần trả; có cách nào kiện để từ dân sự chuyển sang hình sự không?
3 Luật sư trả lời
Chào anh Dương Quang Phước,
Theo thông tin bạn cung cấp: 11 năm 2020, gia đình anh có thỏa thuận hợp tác, góp vốn vào Công ty để đầu tư dự án, đồng thời, giữa gia đình anh và ông Mạnh có thỏa thuận sẽ thực hiện chuyển đổi giấy phép Công ty từ MTV thành Công ty từ hai thành viên trở lên hoặc Công ty cổ phần. Việc thỏa thuận này hai bên có lập văn bản hay không? Nếu thỏa thuận bằng lời nói thì anh có chứng cứ cho việc thỏa thuận này không? Và nội dung cụ thể của thỏa thuận là gì?
Trong trường hợp bạn có đủ chứng cứ chứng minh việc thỏa thuận góp vốn vào công ty và chuyển đổi từ công ty TNHH MTV thành Công ty TNHH Hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần thì bạn có thể khởi kiện đến tòa án có thẩm quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp việc góp vốn của bạn vào công ty 35. Có hai quan hệ tranh chấp trong trường hợp này:
1. Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.
2. Tranh chấp về quyền lợi, nghĩa vụ trong việc góp vốn hợp tác kinh doanh.
Theo tôi bạn nên sớm khởi kiện sớm ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp và đề nghị tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để ngăn cản việc giao dịch chuyển nhượng dự án và tài sản của công ty.
Để có thể tư vấn chi tiết, anh có thể liện hệ tôi: Luật sư Phạm Lê Chí Thành
Thông tin liên hệ:
Điện thoại: +84 91 929 5445
Viber/Zalo/Telegram: +84 91 929 5445
Email: luatsuthanhpham@gmail.com
Luật sư Phạm Lê Chí Thành.
Chào anh Dương Quang Phước,
Theo thông tin bạn cung cấp: 11 năm 2020, gia đình anh có thỏa thuận hợp tác, góp vốn vào Công ty để đầu tư dự án, đồng thời, giữa gia đình anh và ông Mạnh có thỏa thuận sẽ thực hiện chuyển đổi giấy phép Công ty từ MTV thành Công ty từ hai thành viên trở lên hoặc Công ty cổ phần. Việc thỏa thuận này hai bên có lập văn bản hay không? Nếu thỏa thuận bằng lời nói thì anh có chứng cứ cho việc thỏa thuận này không? Và nội dung cụ thể của thỏa thuận là gì?
Trong trường hợp bạn có đủ chứng cứ chứng minh việc thỏa thuận góp vốn vào công ty và chuyển đổi từ công ty TNHH MTV thành Công ty TNHH Hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần thì bạn có thể khởi kiện đến tòa án có thẩm quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp việc góp vốn của bạn vào công ty 35. Có hai quan hệ tranh chấp trong trường hợp này:
1. Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.
2. Tranh chấp về quyền lợi, nghĩa vụ trong việc góp vốn hợp tác kinh doanh.
Theo tôi bạn nên sớm khởi kiện sớm ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp và đề nghị tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để ngăn cản việc giao dịch chuyển nhượng dự án và tài sản của công ty.
Để có thể tư vấn chi tiết, anh có thể liện hệ tôi: Luật sư Phạm Lê Chí Thành
Thông tin liên hệ:
Điện thoại: +84 91 929 5445
Viber/Zalo/Telegram: +84 91 929 5445
Email: luatsuthanhpham@gmail.com
Luật sư Phạm Lê Chí Thành.
Không thể tìm thấy những gì bạn đang tìm kiếm?
Gửi một câu hỏi miễn phí trên diễn đàn công cộng của chúng tôi. Đặt một câu hỏi
Đặt câu hỏi- hoặc -
Tìm kiếm luật sư bằng cách đánh giá và xếp hạng..
Tìm kiếm luật sư

