TRỢ CẤP THÔI VIỆC
bên em có TH nhân viên làm đã đủ 12 tháng tại công ty, khi ký hợp đồng là ký hợp đồng thử việc riêng và hợp đồng chính thức riêng, vậy với trường hợp này có phải tính trợ cấp thôi việc cho nhân viên không ạ
2 Luật sư trả lời
Xin chào Anh/Chị Thùy Trâm, dựa trên thông tin Anh/Chị cung cấp, CÔNG TY LUẬT VKE | VKE CONSULT LAW OFFICE xin tư vấn như sau:
Quy định và hướng xử lý
| Nội dung | Quy định và hướng xử lý |
|---|---|
| 1. Nhân viên làm đủ 12 tháng có phải trả trợ cấp thôi việc không? | Không phải mọi trường hợp làm đủ 12 tháng đều được hưởng trợ cấp thôi việc. Theo Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, doanh nghiệp có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc khi người lao động làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, chấm dứt hợp đồng thuộc trường hợp được hưởng và có thời gian làm việc được tính trợ cấp. |
| 2. Hợp đồng thử việc và hợp đồng chính thức ký riêng thì tính thế nào? | Thời gian thử việc vẫn được tính vào tổng thời gian làm việc thực tế, dù doanh nghiệp ký hợp đồng thử việc riêng và sau đó ký hợp đồng lao động chính thức. Việc tách thành hai hợp đồng không làm mất quyền lợi này của người lao động. |
| 3. Thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp có được tính trợ cấp thôi việc không? | Không. Thời gian tính trợ cấp thôi việc bằng tổng thời gian làm việc thực tế trừ thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trước đó. |
| 4. Trường hợp chỉ có thời gian thử việc chưa đóng bảo hiểm thất nghiệp thì sao? | Nếu tổng thời gian làm việc từ đủ 12 tháng, việc chấm dứt hợp đồng thuộc trường hợp được hưởng và thời gian thử việc chưa tham gia bảo hiểm thất nghiệp thì doanh nghiệp có thể phải trả trợ cấp thôi việc tương ứng với thời gian thử việc đó. |
| 5. Mức trợ cấp thôi việc được tính như thế nào? | Mỗi năm làm việc được tính trợ cấp bằng 1/2 tháng tiền lương. Thời gian tính trợ cấp có tháng lẻ từ 06 tháng trở xuống được làm tròn thành 1/2 năm; trên 06 tháng được làm tròn thành 01 năm. Tiền lương làm căn cứ tính là bình quân tiền lương theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi thôi việc. |
➡️ Kết luận và hướng xử lý
Bước 1: Kiểm tra tổng thời gian làm việc của nhân viên, bao gồm cả thời gian thử việc và thời gian làm việc theo hợp đồng chính thức.
Bước 2: Đối chiếu thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và xác định lý do chấm dứt hợp đồng lao động.
Bước 3: Nếu đủ điều kiện hưởng, doanh nghiệp tính trợ cấp cho phần thời gian chưa tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định.
Ví dụ: Nhân viên làm việc tổng cộng 12 tháng, gồm:
Thử việc riêng 02 tháng, chưa tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Làm việc chính thức 10 tháng, đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp đầy đủ.
Chấm dứt hợp đồng đúng pháp luật, thuộc trường hợp được hưởng trợ cấp thôi việc.
Khi đó:
Tổng thời gian làm việc thực tế: 12 tháng.
Thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp: 10 tháng.
Thời gian tính trợ cấp thôi việc: 02 tháng, được làm tròn thành 1/2 năm.
Trợ cấp thôi việc = 1/4 tháng tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề trước khi thôi việc.
Kết luận: Với trường hợp Anh/Chị nêu, doanh nghiệp không được loại trừ thời gian thử việc chỉ vì đã ký hợp đồng thử việc riêng.
Nếu nhân viên đã làm việc đủ 12 tháng, có thời gian thử việc chưa đóng bảo hiểm thất nghiệp và chấm dứt hợp đồng thuộc trường hợp được hưởng trợ cấp thôi việc thì doanh nghiệp có trách nhiệm tính trả khoản trợ cấp tương ứng.
Để xác định chính xác nghĩa vụ của công ty, Anh/Chị vui lòng cho biết thêm:
Nhân viên thử việc bao nhiêu tháng, đã đóng bảo hiểm thất nghiệp bao nhiêu tháng và nghỉ việc do hết hạn hợp đồng, tự xin nghỉ hay công ty cho nghỉ?
VKE sẽ hướng dẫn cách tính cụ thể theo trường hợp thực tế.
━━━━━━━━━━━━━━━━━━
ℹ️ Nội dung tư vấn mang tính chất tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức đối với từng vụ việc. Việc áp dụng pháp luật phụ thuộc vào hồ sơ, thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp, lý do chấm dứt hợp đồng và quy định có hiệu lực tại thời điểm giải quyết.
━━━━━━━━━━━━━━━━━━
🏢 CÔNG TY LUẬT VKE | VKE CONSULT LAW OFFICE
📞 Zalo | WhatsApp: 0944 501 512
📍 Địa chỉ: Tầng 6, Tòa nhà VVA, 279 Lý Tự Trọng, P. Bến Thành, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh
Luật sư Trương Phú Nhân.
Chào bạn,
Căn cứ thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin tư vấn như sau:
1. Về điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc
Theo khoản 1 Điều 46 Bộ luật Lao động năm 2019, khi hợp đồng
lao động chấm dứt theo các trường hợp quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và
10 Điều 34 của Bộ luật này, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp
thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên,
trừ các trường hợp pháp luật quy định không được hưởng.
Đồng thời, khoản 1 Điều 24 Bộ luật Lao động năm 2019 cho phép
người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận nội dung thử việc trong hợp
đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng thử việc riêng.
Như vậy, việc công ty ký hợp đồng thử việc riêng và hợp đồng
lao động chính thức riêng không ảnh hưởng đến việc xác định thời gian làm việc
thực tế của người lao động để tính trợ cấp thôi việc.
Tuy nhiên, việc người lao động làm việc đủ 12 tháng không đồng
nghĩa với việc công ty phải chi trả trợ cấp thôi việc ngay tại thời điểm này.
Nghĩa vụ chi trả được xem xét khi hợp đồng lao động chấm dứt và đáp ứng các điều
kiện luật định.
2. Về thời gian và mức hưởng trợ cấp thôi việc
Theo khoản 2 Điều 46 Bộ luật Lao động năm 2019 và khoản 3 Điều
8 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP, thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc được
xác định bằng:
Tổng thời gian làm việc thực tế - Thời gian đã tham gia bảo
hiểm thất nghiệp (BHTN) - Thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp
mất việc làm.
Trong đó, điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP
quy định thời gian làm việc thực tế bao gồm cả thời gian thử việc.
Ngoài ra, điểm b khoản 3 Điều 8 Nghị định này quy định thời
gian tham gia BHTN được trừ còn bao gồm thời gian người lao động thuộc diện
không phải tham gia BHTN nhưng đã được người sử dụng lao động chi trả cùng tiền
lương một khoản tương đương mức đóng BHTN thuộc trách nhiệm của người sử dụng
lao động.
Do đó, nếu người lao động đã làm việc thường xuyên tại công
ty từ đủ 12 tháng trở lên, sau khi kết thúc hợp đồng lao động thuộc trường hợp
được hưởng trợ cấp thôi việc thì công ty phải tính cả thời gian thử việc vào tổng
thời gian làm việc thực tế, đồng thời loại trừ các khoảng thời gian theo quy định
nêu trên.
Ví dụ: Người lao động có 02 tháng thử việc theo hợp đồng riêng, sau đó ký hợp đồng
lao động và tham gia BHTN đầy đủ trong 12 tháng tiếp theo.
Nếu hợp đồng lao động chấm dứt thuộc trường hợp được hưởng trợ
cấp thôi việc, trong thời gian thử việc người lao động không tham gia BHTN,
không được công ty chi trả khoản tiền tương đương mức đóng BHTN và không có khoảng
thời gian nào khác cần tính hoặc loại trừ thì:
- Thời gian tính trợ cấp thôi việc: 02 tháng;
- Theo điểm c khoản 3 Điều 8 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP, thời gian lẻ
không quá 06 tháng được tính bằng 1/2 năm;
- Theo khoản 1 Điều 46 Bộ luật Lao động năm 2019, mỗi năm làm việc được
trợ cấp 1/2 tháng tiền lương.
Như vậy, mức trợ cấp thôi việc trong ví dụ này tương đương 1/4
tháng tiền lương.
Theo khoản 3 Điều 46 Bộ luật Lao động năm 2019, tiền lương
làm căn cứ tính trợ cấp là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng
lao động trước khi người lao động thôi việc.
Công ty có trách nhiệm tính thời gian thử việc vào tổng thời
gian làm việc thực tế khi xác định trợ cấp thôi việc, không phân biệt việc thử
việc được ghi trong hợp đồng lao động hay giao kết bằng hợp đồng thử việc
riêng. Để xác định công ty có phải chi trả trợ cấp thôi việc hay không
và mức chi trả cụ thể, bạn vui lòng cung cấp thêm:
1.
Nhân
viên đã chấm dứt hợp đồng lao động hay vẫn đang làm việc tại công ty? Nếu đã chấm
dứt thì lý do chấm dứt là gì?
2.
Thời
gian thử việc kéo dài bao nhiêu tháng và người lao động có tham gia BHTN trong
thời gian này không?
3.
Trong
thời gian thử việc, công ty có chi trả cùng tiền lương khoản tiền tương đương mức
đóng BHTN thuộc trách nhiệm của công ty hay không?
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo
thông tin dưới đây:
Công
ty Luật TNHH T2H
Trụ
sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP
giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel:
02422429900 – 0989656682
E-mail:
huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân
trọng!
Luật sư Lê Thị Thu Hương.
Lĩnh vực Lao động
Không thể tìm thấy những gì bạn đang tìm kiếm?
Gửi một câu hỏi miễn phí trên diễn đàn công cộng của chúng tôi. Đặt một câu hỏi
Đặt câu hỏi- hoặc -
Tìm kiếm luật sư bằng cách đánh giá và xếp hạng..
Tìm kiếm luật sư


