Tài sản riêng
Ls co e hỏi: tài sản của riêng chồng được cho trước hôn nhân , sau khi quy hoạch giải tỏa có đền bù 1 suất tái định cư nhưng khi lên kí thủ tục để ra sổ thì có thêm người vợ lên kí , vậy suất tdc đó vẫn là ts riêng của người chồng hay là ts chung của vợ chồng ạ .
4 Luật sư trả lời
Xin chào anh Trần Văn Mười, dựa trên những thông tin anh cung cấp, CÔNG TY LUẬT VKE | VKE CONSULT LAW OFFICE xin giải đáp và tư vấn về vấn đề của anh như sau:
| Nội dung | Quy định và hướng xử lý |
|---|---|
| Đất được cho riêng trước hôn nhân là tài sản gì? | Nếu quyền sử dụng đất được tặng cho riêng cho người chồng trước khi kết hôn và có căn cứ chứng minh thì đây là tài sản riêng của người chồng theo Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình. |
| Đất riêng bị Nhà nước thu hồi và được bố trí tái định cư thì sao? | Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình quy định tài sản được hình thành từ tài sản riêng cũng là tài sản riêng. Vì vậy, nếu suất đất/nhà tái định cư được bố trí để bồi thường, tái định cư trực tiếp cho quyền sử dụng đất riêng của chồng bị Nhà nước thu hồi, thì về nguyên tắc có cơ sở xác định tài sản tái định cư tiếp tục là tài sản riêng của chồng. Tuy nhiên phải xem cụ thể phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và quyết định bố trí tái định cư. |
| Vợ lên ký thủ tục làm sổ có biến thành tài sản chung không? | Không đương nhiên. Việc người vợ có mặt và ký một số giấy tờ hành chính khi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận không tự nó làm phát sinh thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Phải xem người vợ ký giấy tờ gì và với tư cách gì: xác nhận tình trạng hôn nhân, đồng ý thủ tục, cùng nhận quyền sử dụng đất, hay ký văn bản xác lập/nhập tài sản thành tài sản chung. |
| Nếu sổ mới ghi cả tên vợ và chồng? | Đây là tình tiết rất quan trọng nhưng vẫn cần xác định căn cứ vì sao cả hai người được ghi tên. Nếu trước đó vợ chồng đã có thỏa thuận hợp pháp đưa tài sản riêng vào tài sản chung thì có thể trở thành tài sản chung. Ngược lại, nếu việc ghi tên vợ chỉ xuất phát từ thủ tục kê khai mà không phản ánh đúng nguồn gốc và không có ý chí nhập tài sản riêng vào tài sản chung thì cần xem toàn bộ hồ sơ cấp Giấy chứng nhận để xác định chính xác. |
| Cần kiểm tra giấy tờ nào? | Cần đối chiếu: (1) giấy tờ tặng cho/quyền sử dụng đất trước hôn nhân; (2) Giấy chứng nhận của đất bị thu hồi; (3) quyết định thu hồi đất; (4) phương án và quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; (5) quyết định/giao suất tái định cư; (6) hồ sơ mà người vợ đã ký; và (7) Giấy chứng nhận của suất tái định cư. Đây là các tài liệu quyết định việc xác định tài sản riêng hay chung. |
➡️ Kết luận: Nếu đất ban đầu được tặng cho riêng người chồng trước hôn nhân, sau đó Nhà nước thu hồi và suất tái định cư được bố trí để thay thế/bồi thường trực tiếp cho chính quyền sử dụng đất riêng đó, thì có cơ sở pháp lý để xác định suất tái định cư vẫn là tài sản riêng của người chồng, theo nguyên tắc tài sản hình thành từ tài sản riêng vẫn là tài sản riêng.
Việc người vợ lên ký hồ sơ không tự động biến suất tái định cư thành tài sản chung. Quan trọng nhất là phải xem người vợ đã ký văn bản gì và nội dung văn bản đó có thể hiện việc người chồng đồng ý nhập tài sản riêng vào tài sản chung hay không.
Ngược lại, nếu suất tái định cư được cấp không hoàn toàn để thay thế cho đất riêng mà còn dựa trên chính sách bố trí cho hộ gia đình, quyền lợi độc lập của người vợ, hoặc vợ chồng đã có thỏa thuận xác lập tài sản chung thì kết quả có thể khác.
Vì vậy, trường hợp này anh nên xin bản sao toàn bộ hồ sơ bồi thường – tái định cư và hồ sơ cấp Giấy chứng nhận, đặc biệt là giấy tờ có chữ ký của người vợ, để xác định chính xác chị ấy đã ký với tư cách gì. Chỉ dựa vào việc “vợ có lên ký” thì chưa đủ căn cứ kết luận suất tái định cư đã trở thành tài sản chung.
━━━━━━━━━━━━━━━━━━
ℹ️ Thông tin này được biên soạn nhằm mục đích phổ biến kiến thức pháp luật và chỉ mang tính chất tham khảo.
🚫 Nội dung không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý cho từng vụ việc cụ thể. Việc áp dụng quy định pháp luật có thể khác nhau tùy theo hồ sơ, tình tiết thực tế và các văn bản pháp luật hiện hành tại thời điểm áp dụng.
━━━━━━━━━━━━━━━━━━
🏢 CÔNG TY LUẬT VKE | VKE CONSULT LAW OFFICE
📞 Zalo | WhatsApp: 0944 501 512
📍 Địa chỉ: Tầng 6, Tòa nhà VVA, 279 Lý Tự Trọng, P. Bến Thành, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh
Luật sư Trương Phú Nhân.
Chào bạn,
Vấn đề bạn hỏi luật sư trả lời như sau:
Nếu quyền sử dụng đất của người chồng được tặng cho riêng trước thời kỳ hôn nhân, thì về nguyên tắc đây là tài sản riêng của chồng theo khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Khi Nhà nước thu hồi đất và bố trí tái định cư, cần xem xét nguồn gốc của suất tái định cư này có phải là kết quả thay thế cho quyền sử dụng đất riêng của chồng hay không.
Việc sau khi kết hôn, người vợ cùng ký hồ sơ để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đối với suất tái định cư không đương nhiên làm phát sinh quyền sở hữu chung của người vợ. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ nội dung mà người vợ ký:
- Nếu vợ chỉ ký với tư cách vợ/chồng của người được tái định cư, ký xác nhận hồ sơ hoặc thực hiện thủ tục hành chính theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền thì chưa đủ căn cứ xác định chồng đã nhập tài sản riêng vào tài sản chung.
- Nếu vợ chồng có văn bản thỏa thuận nhập tài sản riêng của chồng vào tài sản chung, hoặc hồ sơ thể hiện ý chí của chồng chuyển quyền cho vợ, thì tài sản có thể trở thành tài sản chung.
- Nếu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tái định cư ghi tên cả vợ và chồng, thì khi có tranh chấp sẽ cần xem xét toàn bộ hồ sơ nguồn gốc đất, quyết định bồi thường, phương án tái định cư và ý chí của các bên khi đăng ký quyền sử dụng đất để xác định chính xác quyền của mỗi người.
Do đó, không thể chỉ căn cứ vào việc người vợ có ký hồ sơ để kết luận suất tái định cư là tài sản chung. Nếu có tranh chấp, nguồn gốc tài sản trước hôn nhân và hồ sơ bồi thường, tái định cư là những chứng cứ rất quan trọng.
Nếu bạn cung cấp thêm Giấy chứng nhận hiện đang đứng tên ai, quyết định thu hồi đất/phương án bồi thường và nội dung giấy tờ mà người vợ đã ký, luật sư có thể phân tích cụ thể hơn trường hợp này.
Nếu bạn cần
thông tin thêm về dịch vụ tư vấn, vui lòng gọi tổng đài i-Law để được giải đáp.
Nếu bạn vừa lòng với nội dung trả lời, vui lòng đánh giá câu trả lời để ủng hộ
Luật sư Nguyễn Thanh Hải.
Luật sư Nguyễn Thanh Hải.
Chào bạn,
Nếu thửa đất gốc là tài sản riêng của người chồng (được cho hoặc tặng cho riêng trước hôn nhân, việc cho tặng hợp lệ) và suất tái định cư được bố trí do thu hồi chính thửa đất đó, thì suất tái định cư về nguyên tắc là tài sản riêng của người chồng.
Khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014
“Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn...”
Khoản 2 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014
“Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng.”
Suất tái định cư là giá trị thay thế cho đất bị thu hồi, không phải hoa lợi, lợi tức phát sinh từ đất, nên không áp dụng quy định hoa lợi, lợi tức là tài sản chung tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Việc người vợ đi cùng làm thủ tục ra sổ chưa đủ để coi là đã thỏa thuận nhập. Chỉ khi hai vợ chồng thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung thì mới trở thành tài sản chung theo Điều 46 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Khoản 4 Điều 135 Luật Đất đai 2024: chỉ khi là tài sản chung của vợ chồng thì Giấy chứng nhận mới phải ghi cả tên vợ và chồng. Nếu là tài sản riêng thì sổ chỉ ghi tên người chồng.
Tuy nhiên, việc sổ được cấp ghi cả tên hai vợ chồng, hoặc chồng không có đủ giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất và việc được cho trước hôn nhân, thì khi có tranh chấp, tài sản có thể bị coi là tài sản chung theo khoản 3 Điều 33 và khoản 2 Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Nếu vợ chồng dùng tiền chung để nộp thêm khoản chênh lệch hoặc xây dựng trên đất tái định cư, phần đóng góp đó có thể được xem xét thanh toán khi chia tài sản khoản 4 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Bạn muốn tư vấn cụ thể hãy liên hệ trực tiếp với Luật sư trình bày sự việc cụ thể. Số điện thoại Luật sư 0919.989.876 (Luật sư Tuấn Anh).
Luật sư chờ phản hồi từ bạn.
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình:
Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp với luật sư qua số điện thoại 091 998 9876
- Luật sư tư vấn miễn phí;
- Luật sư tư vấn hướng giải quyết, nhận định pháp lý;
- Phí dịch vụ luật sư công khai, minh bạch.
NHẤN ĐỂ GỌI LUẬT SƯ: 091 998 9876
- Địa chỉ: Số 203 Cộng Hoà, phường Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Điện thoại: 091 998 9876
- Website: https://luậtsư.net/
Luật sư Lê Tuấn Anh.
Chào bạn,
Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như
sau:
1. Tài sản có trước hôn nhân là tài sản
riêng
Khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia
đình 2014 quy định tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn là tài sản riêng của
vợ, chồng.
Đồng thời, khoản 2 Điều 43 quy định:
“Tài sản được hình thành từ tài sản
riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng.”
Vì vậy, nếu thửa đất bị Nhà nước thu
hồi là tài sản riêng của người chồng và quyền được bố trí tái định cư phát sinh
trực tiếp từ việc Nhà nước thu hồi thửa đất này thì đây là căn cứ quan trọng để
xác định đất tái định cư là tài sản được hình thành từ tài sản riêng.
Điều 98 Luật Đất đai 2024 cũng quy định
khi Nhà nước thu hồi đất ở của người có đủ điều kiện bồi thường thì có thể bồi
thường bằng đất ở, nhà ở, bằng tiền hoặc bằng đất có mục đích sử dụng khác. Do
đó, về bản chất, đất tái định cư có thể là hình thức bồi thường hoặc bố trí
thay thế quyền lợi liên quan đến phần đất bị thu hồi.
2. Việc người vợ lên ký không đương
nhiên làm tài sản riêng trở thành tài sản chung
Theo Điều 46 Luật Hôn nhân và gia
đình 2014, việc nhập tài sản riêng của vợ hoặc chồng vào tài sản chung phải được
thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.
Do đó, việc cho rằng khi làm thủ tục ra sổ người vợ cũng lên ký thì chưa đủ
căn cứ để kết luận người chồng đã nhập tài sản riêng vào tài sản chung.
Cần xem người vợ đã ký vào tài liệu
gì và ký với tư cách nào. Ví dụ như:
-
nếu
chỉ ký xác nhận thông tin nhân thân, tình trạng hôn nhân, hộ gia đình hoặc ký một
thủ tục hành chính liên quan thì chưa thể coi đó là thỏa thuận nhập tài sản
riêng vào tài sản chung;
-
nhưng
nếu hai vợ chồng cùng ký văn bản xác nhận suất tái định cư là tài sản chung,
cùng đăng ký đứng tên với tư cách đồng sử dụng đất hoặc có văn bản thỏa thuận
nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung thì lại là căn cứ để xác định tài sản
chung.
3. Cần kiểm tra Giấy chứng nhận được
cấp đứng tên ai
Khoản 4 Điều 135 Luật Đất đai 2024
quy định: nếu quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng thì Giấy
chứng nhận phải ghi cả họ tên vợ và chồng, trừ trường hợp hai người có thỏa thuận
ghi tên một người làm đại diện.
Vì vậy:
Trường hợp 1: Sổ mới chỉ đứng tên người
chồng.
Nếu đồng thời hồ sơ bồi thường, quyết
định bố trí tái định cư đều xác định người chồng là người có đất bị thu hồi thì
cơ sở xác định đây là tài sản riêng.
Trường hợp 2: Sổ mới ghi tên cả vợ và
chồng.
Khi đó cần xem lại hồ sơ đề nghị cấp
sổ. Việc ghi tên cả hai có thể là căn cứ cho thấy hai người đã xác lập quyền
chung.
Trong thực tế, người được bố trí tái
định cư có thể phải nộp thêm tiền để nhận lô đất tái định cư. Cần kiểm tra nghĩa vụ tài chính khi nhận đất
tái định cư. Theo Điều 25, Điều 26 Nghị định 88/2024/NĐ-CP, trường hợp tiền bồi
thường về đất thấp hơn tiền sử dụng đất phải nộp đối với lô đất tái định cư thì
người được bố trí tái định cư có thể phải nộp phần chênh lệch hoặc được ghi nợ
nếu đủ điều kiện.
Nếu phần chênh lệch này được thanh toán bằng tài sản chung của
vợ chồng thì khi phát sinh tranh chấp cần xem xét thêm nguồn tiền đóng góp và
có hay không thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Việc sử dụng tiền
chung để thực hiện một phần nghĩa vụ tài chính không đương nhiên làm toàn bộ lô
đất tái định cư trở thành tài sản chung.
Trường hợp tài sản riêng và tài sản
chung không thể xác định rõ thì khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014
quy định: nếu không có căn cứ chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản
riêng thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Để kết luận suất tái định cư này là
tài sản riêng hay chung, cần kiểm tra:
1.
Giấy
tờ chứng minh nguồn gốc thửa đất bị thu hồi: hợp đồng tặng cho, Giấy chứng nhận
cũ, thời điểm được tặng cho và thời điểm đăng ký kết hôn;
2.
Quyết
định thu hồi đất;
3.
Phương
án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt;
4.
Quyết
định hoặc văn bản bố trí suất tái định cư ghi tên ai;
5.
Hồ
sơ xin giao đất/cấp Giấy chứng nhận tại khu tái định cư;
6.
Văn
bản mà người vợ đã ký và nội dung cụ thể của chữ ký đó;
7.
Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất tái định cư hiện đứng tên ai;
8.
Chứng
từ tiền phải nộp thêm để nhận đất tái định cư và nguồn tiền dùng để thanh toán.
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo
thông tin dưới đây:
Công
ty Luật TNHH T2H
Trụ
sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP
giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel:
02422429900 – 0989656682
E-mail:
huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân
trọng!
Luật sư Lê Thị Thu Hương.
Không thể tìm thấy những gì bạn đang tìm kiếm?
Gửi một câu hỏi miễn phí trên diễn đàn công cộng của chúng tôi. Đặt một câu hỏi
Đặt câu hỏi- hoặc -
Tìm kiếm luật sư bằng cách đánh giá và xếp hạng..
Tìm kiếm luật sư


