Khởi kiện con nợ ra tòa
Con nợ ở phường Vĩnh hiệp TP rạch giá năm 2020 có làm hợp đồng vay tiền 2ti1 đến hạn trả là tháng 10 năm 2022 có ky tên và lan tay nhưng từ đó đến nay không trả lãi và vốn nay con nợ bỏ trốn khỏi địa phương.toi muốn khởi kiện để có bản án treo trên đầu vợ chồng người vay
5 Luật sư trả lời
Chào bạn, Hãng Luật Chân Thiện Mỹ tư vấn sơ bộ cho bạn tham khảo như sau:
1. Căn cứ Điều 429 Bộ luật dân sự, quy định về thời hiệu khởi kiện về hợp đồng.
Căn cứ Điều 184 Bộ luật Tố tụng Dân sự,
2. Qua sự việc của bạn, thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự là 03 năm kể từ ngày hết hạn trả nợ. Tuy nhiên, nếu trong khoảng thời gian qua gần đây, con nợ có nhắn tin, ký biên bản xác nhận nợ, hoặc hứa hẹn trả nợ, thì thời hiệu khởi kiện sẽ được tính lại từ đầu kể từ thời điểm có sự xác nhận đó. Bạn nên nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân TP. Rạch Giá. Khi Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng mà con nợ vắng mặt hoặc đã bỏ đi khỏi địa phương (có xác nhận của Công an phường Vĩnh Hiệp), Tòa án sẽ thực hiện thủ tục niêm yết công khai theo quy định pháp luật. Sau thời hạn niêm yết, nếu bị đơn vẫn vắng mặt, Tòa án sẽ tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và ra Bản án sơ thẩm buộc vợ chồng người vay phải trả toàn bộ số tiền gốc và lãi.
3. Chúng tôi có kinh nghiệm trong việc soạn các Đơn khởi kiện, Đơn tố giác,...Hãy liên hệ với Luật sư để có thể bảo vệ qyền và lợi ích hợp pháp của bạn.
Nếu bạn cần luật sư giúp đỡ, hãy liên hệ ngay với:
Luật sư Ngô Đình Nhiên – Cộng sự cấp cao tại Hãng Luật Chân Thiện Mỹ – Thuộc Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh
Gọi ngay/Zalo: 0919.183.001
Email: luatsungodinhnhien@gmail.com
Địa chỉ văn phòng: Số 94 Nguyễn Hữu Tiến, phường Tây Thạnh, TP. Hồ Chí Minh
-----------------------------------------------------------------------------------------
Đừng để vấn đề pháp lý làm bạn lo lắng – Với sự am hiểu pháp luật chuyên sâu, có kinh nghiệm thực tiễn nhiều năm, Luật sư Nhiên sẽ có giải pháp toàn diện, được việc và đồng hành cùng bạn!
------------------------------------------------------------------------------------------
Luật sư Ngô Đình Nhiên .
Chào bạn,
Vấn đề bạn hỏi luật sư trả lời như sau:
Theo thông tin bạn cung cấp, năm 2020, vợ chồng người vay có ký hợp đồng vay tiền 2,1 tỷ đồng, có chữ ký và dấu vân tay; thời hạn trả nợ là tháng 10/2022 nhưng đến nay vẫn chưa thanh toán cả gốc và lãi, đồng thời người vay đã rời khỏi địa phương.
1. Bạn có quyền khởi kiện đòi nợ không?
Bạn có quyền khởi kiện yêu cầu người vay trả nợ theo Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015. Hợp đồng vay có chữ ký và dấu vân tay là chứng cứ quan trọng để chứng minh giao dịch, nhưng cần xem xét thêm nội dung hợp đồng, chứng từ giao nhận tiền và các thỏa thuận liên quan.
Tuy nhiên, bạn cần lưu ý về thời hiệu khởi kiện. Theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng là 03 năm kể từ ngày người có quyền biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Do khoản vay đã đến hạn từ tháng 10/2022, bạn nên khẩn trương kiểm tra thời hiệu và các tình tiết có thể ảnh hưởng đến việc tính thời hiệu. Theo Điều 157 Bộ luật Dân sự 2015, việc bên vay thừa nhận nghĩa vụ, thực hiện một phần nghĩa vụ hoặc các bên tự hòa giải có thể làm bắt đầu lại thời hiệu theo quy định.
2. Khởi kiện ở đâu khi người vay đã bỏ khỏi địa phương?
Bạn có thể nộp đơn khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc người vay rời khỏi nơi cư trú không làm mất nghĩa vụ trả nợ. Bạn cần cung cấp địa chỉ cư trú cuối cùng mà mình biết, thông tin nhân thân của người vay và tài liệu chứng minh khoản nợ.
Bạn nên chuẩn bị:
- Hợp đồng vay tiền bản gốc có chữ ký, dấu vân tay.
- Chứng từ giao tiền, tin nhắn, giấy xác nhận nợ hoặc tài liệu trao đổi về việc trả nợ.
- Tài liệu về địa chỉ cư trú cuối cùng của người vay.
- Bảng tính tiền gốc, tiền lãi và các khoản đã thanh toán (nếu có).
3. Có thể khởi kiện cả vợ và chồng không?
Điều này phụ thuộc vào việc ai là người đứng tên vay, ai ký hợp đồng và mục đích vay tiền. Nếu cả hai vợ chồng cùng ký vay hoặc có căn cứ xác định khoản vay là nghĩa vụ chung của vợ chồng theo Điều 27 và Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, bạn có thể yêu cầu Tòa án xem xét trách nhiệm trả nợ của cả hai. Không thể mặc nhiên yêu cầu người còn lại trả nợ chỉ vì họ là vợ hoặc chồng của người vay.
4. Sau khi có bản án, làm sao để thu hồi tiền?
Bạn có thể yêu cầu Tòa án buộc người có nghĩa vụ trả nợ gốc và tiền lãi hợp pháp theo thỏa thuận, quy định tại Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bên vay không tự nguyện thi hành, bạn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành, xác minh tài sản và áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định.
Tuy nhiên, bản án không tự động khiến người vay phải trả tiền nếu họ không có tài sản hoặc thu nhập có thể thi hành án. Vì vậy, bạn nên thu thập thông tin về nhà đất, tài khoản, công việc và các tài sản khác của người vay nếu có căn cứ hợp pháp.
5. Luật sư lưu ý về thời hiệu
Khoản vay đến hạn tháng 10/2022 nên cần đặc biệt lưu ý thời hiệu khởi kiện 03 năm theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015. Bạn cần kiểm tra chính xác ngày đến hạn, ngày phát sinh vi phạm và có hay không sự kiện làm bắt đầu lại thời hiệu theo Điều 157 Bộ luật Dân sự 2015. Nếu người vay đã thừa nhận nợ, trả một phần nợ hoặc hai bên đã tự hòa giải thì cần lưu giữ chứng cứ về sự kiện đó.
Tóm lại, bạn nên sớm rà soát thời hiệu và hồ sơ chứng cứ trước khi khởi kiện. Mục tiêu pháp lý nên là yêu cầu xác định nghĩa vụ trả nợ, bảo vệ quyền lợi của mình và tạo căn cứ thi hành án, thay vì chỉ nhằm tạo áp lực cho người vay.
Nếu bạn cần thông tin thêm về dịch vụ tư vấn, vui lòng gọi tổng đài i-Law để được giải đáp.
Nếu bạn vừa lòng với nội dung trả lời, vui lòng đánh giá câu trả lời để ủng hộ Luật sư Nguyễn Thanh Hải.
Luật sư Nguyễn Thanh Hải.
Khởi kiện con nợ ra tòa khi vay 2,1 tỷ đồng không trả, bỏ trốn khỏi địa phương có được không?
Chào anh/chị, vấn đề của anh/chị được Luật sư Nguyễn Thành Huân – Giám đốc Công ty Luật Sư 11 – tư vấn như sau:
Năm 2020, người vay tại phường Vĩnh Hiệp, TP. Rạch Giá có ký hợp đồng vay tiền với số tiền 2,1 tỷ đồng, có chữ ký và dấu lăn tay, thời hạn trả nợ vào tháng 10/2022. Đến nay, người vay không trả cả gốc lẫn lãi và đã bỏ đi khỏi địa phương. Anh/chị muốn khởi kiện để yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng người vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ, tạo căn cứ pháp lý để tiếp tục yêu cầu thi hành án.
1. Khởi kiện con nợ ra tòa khi vay 2,1 tỷ đồng không trả có được không?
Theo Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng vay tài sản làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả; người vay tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn theo thỏa thuận. Nếu bên vay không thực hiện nghĩa vụ, bên cho vay có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp để bảo vệ quyền lợi của mình.
Đối với trường hợp của anh/chị, hợp đồng vay 2,1 tỷ đồng có chữ ký và dấu lăn tay là chứng cứ quan trọng. Anh/chị có thể khởi kiện yêu cầu người vay trả nợ gốc và khoản lãi có căn cứ theo thỏa thuận, pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án sẽ xem xét toàn bộ chứng cứ, bao gồm việc giao tiền, nội dung hợp đồng, thời hạn trả nợ và các khoản đã thanh toán nếu có.
Lưu ý quan trọng về thời hiệu: Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng là 3 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền lợi của mình bị xâm phạm. Với khoản vay đến hạn tháng 10/2022, thời hiệu thông thường có thể đã hết vào khoảng tháng 10/2025. Tuy nhiên, cần xem xét các tình tiết làm bắt đầu lại thời hiệu hoặc việc bên vay thừa nhận nghĩa vụ, trả một phần nợ hay có thỏa thuận gia hạn. Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu khi một bên yêu cầu áp dụng trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án hoặc quyết định giải quyết vụ việc. Vì vậy, không nên tự kết luận rằng đã hết thời hiệu thì chắc chắn không thể khởi kiện; cần rà soát hồ sơ ngay.
2. Con nợ bỏ trốn khỏi địa phương thì có khởi kiện được không?
Theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người khởi kiện có thể nộp đơn cùng tài liệu, chứng cứ hiện có cho Tòa án có thẩm quyền. Về nguyên tắc, thẩm quyền theo lãnh thổ được xác định theo nơi bị đơn cư trú hoặc làm việc; việc xác định Tòa án cụ thể cần căn cứ địa chỉ cư trú và quy định về thẩm quyền đang áp dụng tại thời điểm nộp đơn.
Đối với trường hợp của anh/chị, việc người vay rời khỏi phường Vĩnh Hiệp không đương nhiên làm mất quyền khởi kiện. Anh/chị nên cung cấp địa chỉ cuối cùng đã biết, thông tin căn cước nếu có, số điện thoại, nơi làm việc cũ và tài liệu thể hiện người vay từng cư trú tại địa phương. Nếu không biết địa chỉ hiện tại, hãy trình bày rõ trong đơn và nộp kèm tài liệu chứng minh những nỗ lực xác minh.
Việc bị đơn vắng mặt không đồng nghĩa Tòa án luôn có thể xét xử ngay. Tòa án phải thực hiện việc tống đạt, thông báo và các thủ tục tố tụng theo luật; nếu chưa đáp ứng điều kiện tố tụng thì vụ án có thể bị kéo dài hoặc phát sinh khó khăn trong việc giải quyết.
3. Có thể yêu cầu cả vợ và chồng trả khoản nợ 2,1 tỷ đồng không?
Theo các quy định của Bộ luật Hôn nhân và gia đình 2014 về nghĩa vụ tài sản của vợ chồng, không phải mọi khoản nợ do một người xác lập trong thời kỳ hôn nhân đều tự động là nợ chung. Việc xác định nghĩa vụ chung hay riêng phải dựa vào mục đích vay, sự thỏa thuận của vợ chồng, việc sử dụng khoản tiền và các căn cứ pháp luật liên quan.
Đối với trường hợp của anh/chị, nếu chỉ người chồng hoặc người vợ ký hợp đồng vay thì không thể chỉ dựa vào quan hệ hôn nhân để mặc nhiên yêu cầu người còn lại trả toàn bộ khoản nợ. Nếu có căn cứ cho thấy khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, phục vụ việc tạo lập, duy trì tài sản chung hoặc người còn lại cùng thỏa thuận, cùng xác lập giao dịch, anh/chị có thể trình bày và đề nghị Tòa án xem xét trách nhiệm của cả hai.
Nếu chưa có chứng cứ về việc người vợ hoặc chồng cùng vay, cùng ký, bảo lãnh hoặc khoản vay là nghĩa vụ chung, cần cân nhắc xác định người đứng tên vay là bị đơn và cung cấp thông tin về người còn lại để Tòa án xem xét khi cần thiết. Không nên chỉ đưa cả hai vợ chồng vào vụ kiện với mục đích tạo áp lực nếu chưa có căn cứ xác định nghĩa vụ pháp lý.
4. Cần làm gì để khởi kiện đòi nợ và yêu cầu thi hành án?
Anh/chị nên chuẩn bị hồ sơ theo các bước sau:
Thu thập chứng cứ khoản vay: Bản gốc hợp đồng vay năm 2020 có chữ ký, dấu lăn tay; giấy giao nhận tiền, chứng từ chuyển khoản, tin nhắn, ghi âm hợp pháp hoặc giấy xác nhận nợ nếu có.
Tổng hợp quá trình đòi nợ: Lập bảng thời gian từ ngày vay, ngày đến hạn tháng 10/2022, các lần yêu cầu thanh toán, phản hồi của người vay và mọi lần người vay thừa nhận nợ hoặc trả một phần.
Xác minh người vay và tài sản: Thu thập địa chỉ cư trú cuối cùng, thông tin liên lạc, nơi làm việc và thông tin tài sản mà anh/chị có căn cứ hợp pháp để cung cấp.
Soạn và nộp đơn khởi kiện: Nêu rõ yêu cầu trả 2,1 tỷ đồng tiền gốc, tiền lãi theo hợp đồng và lãi chậm trả nếu có căn cứ. Nộp đơn tại Tòa án có thẩm quyền xác định theo quy định hiện hành.
Yêu cầu thi hành án sau khi có bản án: Khi có bản án hoặc quyết định thuộc trường hợp được thi hành theo luật, anh/chị có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành. Nếu người phải thi hành án không tự nguyện trả và có tài sản thuộc diện xử lý, cơ quan thi hành án có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định.
Mục tiêu có bản án để làm căn cứ đòi nợ là có thể thực hiện thông qua thủ tục tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bản án không tự động bảo đảm thu hồi được tiền nếu người vay không có tài sản hoặc tài sản không thể xử lý để thi hành án. Việc xác minh tài sản và bảo toàn chứng cứ vì vậy rất quan trọng.
5. Lưu ý và khuyến nghị từ Luật Sư 11
Với khoản vay 2,1 tỷ đồng đã đến hạn từ tháng 10/2022, điều cần ưu tiên là rà soát thời hiệu khởi kiện và chứng cứ trước khi nộp đơn. Anh/chị nên đặc biệt lưu ý:
Không trì hoãn việc khởi kiện: Thời hiệu thông thường của tranh chấp hợp đồng là 3 năm, nên cần xác định chính xác các mốc thời gian và những sự kiện có thể ảnh hưởng đến thời hiệu.
Giữ gìn hợp đồng bản gốc: Chữ ký và dấu lăn tay là chứng cứ cần thiết, nhưng vẫn cần kết hợp tài liệu chứng minh việc giao tiền và nghĩa vụ chưa được thanh toán.
Phân biệt khởi kiện dân sự và tố giác hình sự: Việc bỏ đi khỏi địa phương, không trả nợ chưa tự động chứng minh có hành vi lừa đảo. Nếu có tài liệu cho thấy người vay dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền hoặc có dấu hiệu phạm tội khác, anh/chị có thể cung cấp chứng cứ cho cơ quan có thẩm quyền xem xét.
Đánh giá khả năng thi hành án: Nên thu thập thông tin hợp pháp về tài sản, thu nhập và các quyền tài sản của người có nghĩa vụ để có cơ sở yêu cầu thi hành bản án.
Với dữ kiện hiện tại, anh/chị có cơ sở ban đầu để xem xét khởi kiện người đứng tên vay, nhưng việc có thể yêu cầu cả vợ chồng trả nợ và khả năng Tòa án chấp nhận yêu cầu còn phụ thuộc vào hồ sơ, chứng cứ và vấn đề thời hiệu. Cần kiểm tra thêm hồ sơ để tư vấn chính xác hơn.
Nếu anh/chị cần hỗ trợ thêm về vấn đề này, vui lòng liên hệ với luật sư qua thông tin sau:
📍 CÔNG TY LUẬT TNHH LUẬT SƯ 11
✔️ 120 – 122 Điện Biên Phủ, phường Tân Định, TP. Hồ Chí Minh
📞 0979 800 000 – Zalo/Mobile
📧 nguyenthanhhuan@luatsu11.vn
Luật sư Nguyễn Thành Huân sẽ cùng đội ngũ là những luật sư nhiều năm kinh nghiệm tại Công ty Luật Sư 11 đồng hành cùng anh/chị để giải quyết vấn đề nêu vấn đề và bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của anh/chị.
Luật sư Nguyễn Thành Huân.
Chào bạn cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Theo như thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin được đưa ra tư vấn sơ bộ như sau:
1. Về quan hệ pháp luật và giá trị chứng cứ
Đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Điều 463 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015. Hợp đồng vay tiền giữa cá nhân với cá nhân không bắt buộc phải công chứng, chứng thực mới có hiệu lực; việc hai bên đã lập văn bản, bên vay ký tên và điểm chỉ (lăn tay) là chứng cứ khá vững để chứng minh quan hệ vay nợ và nghĩa vụ trả nợ khi khởi kiện.
2. Về thời hiệu khởi kiện
Khoản nợ đến hạn từ tháng 10/2022, đến nay đã hơn 3 năm nên cần làm rõ điểm này trước tiên. Về nguyên tắc, Điều 429 BLDS 2015 quy định thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền bị xâm phạm, tức nếu tính thông thường thì đến nay thời hiệu đối với hợp đồng này đã hết.
Tuy nhiên, thực tiễn xét xử hiện nay xác định khác đối với riêng phần nợ gốc: theo khoản 2 Điều 155 BLDS, thời hiệu khởi kiện không áp dụng đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, và Tòa án nhân dân tối cao cùng thực tiễn xét xử các vụ án đòi nợ đều xác định yêu cầu đòi lại tiền nợ gốc là một dạng yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu nên không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Một vụ việc đã được rút kinh nghiệm cho thấy dù hợp đồng tín dụng đã hết thời hiệu khởi kiện, Tòa án vẫn thụ lý, giải quyết với quan hệ tranh chấp “đòi lại tài sản (nợ gốc)” mà không phụ thuộc vào việc bị đơn có yêu cầu áp dụng thời hiệu hay không. Nói cách khác: phần tiền gốc 2,1 tỷ, bạn có quyền khởi kiện đòi lại bất cứ lúc nào, không bị giới hạn bởi mốc 3 năm.
Riêng phần lãi vay, do gắn với quan hệ hợp đồng nên về nguyên tắc vẫn chịu thời hiệu 3 năm; nếu phía bị đơn (hoặc người đại diện) yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa sơ thẩm ra bản án, phần lãi phát sinh đã quá 3 năm có nguy cơ không được chấp nhận. Vì vậy nên khởi kiện sớm, và khi tính toán số tiền lãi yêu cầu, nên cân nhắc giới hạn trong 3 năm gần nhất để tránh rủi ro bị bác một phần yêu cầu.
Theo Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) 2015, trường hợp người bị kiện không có nơi cư trú ổn định, thay đổi chỗ ở mà không thông báo nhằm che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ, Thẩm phán không được trả lại đơn khởi kiện mà vẫn phải xác định đây là hành vi cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung. Khi không tống đạt trực tiếp được, Tòa sẽ niêm yết công khai tại nơi cư trú cuối cùng và có thể xét xử vắng mặt bị đơn theo đúng trình tự tố tụng.
4. Về việc muốn bản án cho cả 2 vợ chồng
Đây là điểm cần làm rõ thêm. Theo Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, khoản vay sẽ là nghĩa vụ chung, hai vợ chồng liên đới trả nợ nếu: nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, hoặc do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Nếu hợp đồng chỉ do một người (chồng hoặc vợ) ký và khoản tiền dùng cho mục đích cá nhân, không liên quan đến gia đình, thì về nguyên tắc chỉ người đó phải trả, người còn lại không đương nhiên liên đới – trừ khi chứng minh được khoản vay đã phục vụ nhu cầu chung. Vì vậy, ai là người đứng tên ký hợp đồng và mục đích sử dụng khoản vay là yếu tố quyết định để xác định có thể khởi kiện/yêu cầu cả hai vợ chồng cùng chịu trách nhiệm hay không.
5. Hướng xử lý hình sự song song (nếu đủ căn cứ)
Việc vay tiền bằng hợp đồng rồi bỏ trốn sau khi đến hạn có thể có dấu hiệu của tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017), vì điều luật này xử lý hành vi vay, mượn tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó. Với số tiền 2,1 tỷ, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì khung hình phạt cao nhất của tội danh này lên tới 20 năm tù. Đây là một hướng độc lập với vụ kiện dân sự – bạn có thể làm đơn tố giác gửi công an nơi con nợ cư trú cuối cùng để được xem xét song song. Tuy vậy cần lưu ý: việc có khởi tố hình sự hay không phụ thuộc vào chứng cứ thể hiện ý thức chiếm đoạt (bỏ trốn nhằm trốn tránh nghĩa vụ) chứ không đơn thuần chỉ vì không trả được nợ đúng hạn, nên đây là yếu tố cơ quan điều tra sẽ đánh giá, không phải điều có thể tự khẳng định trước.
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
Luật sư Lê Thị Thu Hương.
Chào bạn,
Về quyền đòi nợ và chứng
cứ
Theo Điều 463 Bộ luật Dân sự
“Hợp đồng vay tài sản là sự
thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến
hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số
lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”
Hợp đồng viết tay có chữ ký, dấu
vân tay của bên vay là chứng cứ quan trọng. Ngoài hợp đồng, bạn nên thu thập
thêm chứng từ giao tiền (chuyển khoản, giấy biên nhận), tin nhắn, ghi âm hoặc
người làm chứng về việc vay và việc đòi nợ.
Về lãi, nếu các bên có thỏa thuận
lãi suất thì mức lãi không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay (Điều 468 Bộ
luật Dân sự); phần lãi vượt mức này vô hiệu. Nếu không có thỏa thuận về lãi,
bên vay vẫn phải trả lãi chậm trả theo Điều 357 Bộ luật Dân sự.
Về thời hiệu khởi kiện
– vấn đề cần đặc biệt lưu ý
Điều 429 Bộ luật Dân sự quy định:
“Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu
Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu
cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.”
Hạn trả nợ là tháng 10/2022 nên thời
hiệu 03 năm đã hết vào khoảng tháng 10/2025. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 184 Bộ luật
Tố tụng dân sự quy định:
“Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu
của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi
Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc.”
Như vậy, Tòa án vẫn có thể thụ lý,
và chỉ áp dụng thời hiệu nếu phía bị đơn đưa ra yêu cầu. Trong trường hợp này bị
đơn đã bỏ đi nên khả năng họ yêu cầu áp dụng thời hiệu là thấp, nhưng bạn vẫn cần
lường trước rủi ro này. Ngoài ra, thời hiệu được tính lại từ đầu nếu bên vay đã
thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ, hoặc đã thực hiện xong một phần nghĩa
vụ (Điều 157 Bộ luật Dân sự). Vì vậy bạn hãy rà soát xem từ năm 2022 đến nay
bên vay có trả một phần tiền, nhắn tin, ghi âm nhận nợ hay hứa trả nợ hay
không. Đây là căn cứ rất quan trọng để chứng minh thời hiệu vẫn còn.
Về mong muốn “có bản án
treo trên đầu vợ chồng người vay”
Bản án dân sự không có tính chất
“treo” hay răn đe như bản án hình sự. Khi bản án có hiệu lực, bạn có quyền yêu
cầu thi hành án dân sự trong thời hạn 05 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực (Điều
30 Luật Thi hành án dân sự). Cơ quan thi hành án sẽ xác minh tài sản, kê biên,
phong tỏa tài khoản và có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế để buộc trả nợ, đồng
thời hạn chế xuất cảnh trong trường hợp đủ điều kiện. Do đó, bạn cần xác định
rõ mục tiêu: nếu muốn thu hồi tiền thì cần tập trung xác minh tài sản của bên
vay.
Ngoài ra, nếu có căn cứ cho rằng
bên vay dùng thủ đoạn gian dối ngay từ đầu để vay tiền thì có dấu hiệu Tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 Bộ luật Hình sự). Nếu bên vay nhận được tài sản
bằng hợp đồng vay rồi bỏ trốn để chiếm đoạt thì có dấu hiệu Tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản (điểm a khoản 1 Điều 175). Bạn có thể gửi đơn tố giác
đến cơ quan Công an có thẩm quyền, tuy nhiên cơ quan Công an sẽ xem xét có đủ
căn cứ chứng minh ý thức chiếm đoạt hay chỉ là tranh chấp dân sự thông thường.
Bạn muốn tư vấn cụ thể hãy liên hệ
trực tiếp với Luật sư trình bày sự việc cụ thể. Số điện thoại Luật sư
0919.989.876 (Luật sư Tuấn Anh).
Luật sư chờ phản hồi từ bạn.
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình:
Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp với luật sư qua số điện thoại 091 998 9876
- Luật sư tư vấn miễn phí;
- Luật sư tư vấn hướng giải quyết, nhận định pháp lý;
- Phí dịch vụ luật sư công khai, minh bạch.
NHẤN ĐỂ GỌI LUẬT SƯ: 091 998 9876
- Địa chỉ: Số 203 Cộng Hoà, phường Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Điện thoại: 091 998 9876
- Website: https://luậtsư.net/
Luật sư Lê Tuấn Anh.
Không thể tìm thấy những gì bạn đang tìm kiếm?
Gửi một câu hỏi miễn phí trên diễn đàn công cộng của chúng tôi. Đặt một câu hỏi
Đặt câu hỏi- hoặc -
Tìm kiếm luật sư bằng cách đánh giá và xếp hạng..
Tìm kiếm luật sư


