Luật lao động
Cty cũ của em thì em làm chưa kí hợp đồng thử việc, nhưng em có đầy đủ bằng chứng và mail của cty đó mời em làm việc. Thì cty đó có nợ lương, chỉ mới gửi lương tạm ứng và họ nói cuối tháng 8 là họ sẽ quyết toán đầy đủ lương còn lại nhưng tới cuối tháng em nhắn hỏi đòi thì họ lại nói lí do đợi hợp đồng của họ với chỗ công trình ok xong xuôi mới gửi hết tiền cho em. Thì ko biết là em có kiện được ko ạ
3 Luật sư trả lời
Xin chào Vũ Tiến Hưng,
CÔNG TY LUẬT VKE | VKE CONSULT LAW OFFICE đã tiếp nhận nội dung bạn chia sẻ. Trường hợp công ty cũ còn nợ tiền lương dù bạn chưa ký hợp đồng thử việc, VKE tư vấn như sau:
| Vấn đề | Tư vấn của VKE |
|---|---|
| 1. Không ký hợp đồng thử việc thì có được đòi lương không? | Có. Việc chưa ký hợp đồng thử việc không làm mất quyền được trả tiền cho thời gian bạn đã thực tế làm việc. Pháp luật cho phép các bên thỏa thuận nội dung thử việc trong hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng thử việc; quan trọng là phải xác định được việc làm thực tế và thỏa thuận về tiền lương. |
| 2. Email mời làm việc có giá trị không? | Có giá trị chứng minh. Bạn nên lưu email mời nhận việc, email công ty, tin nhắn với quản lý/HR, bảng chấm công, giao việc, tài liệu công việc, sao kê ngân hàng và chứng từ công ty đã tạm ứng một phần lương. Những tài liệu này có thể được sử dụng để chứng minh quá trình làm việc và nghĩa vụ thanh toán của công ty. |
| 3. Công ty nói phải chờ hợp đồng với công trình xong mới trả lương có đúng không? | Về nguyên tắc, không thể lấy việc công ty chưa được đối tác/công trình thanh toán làm lý do để tùy ý kéo dài thời hạn trả lương cho người lao động. Người sử dụng lao động có nghĩa vụ trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn theo Điều 94 Bộ luật Lao động 2019. |
| 4. Nếu đây thực sự là thời gian thử việc thì lương thế nào? | Theo Điều 26 Bộ luật Lao động 2019, tiền lương trong thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng phải ít nhất bằng 85% mức lương của công việc đó. Vì vậy, dù công ty gọi đây là “thử việc”, thời gian bạn thực tế làm việc vẫn phải được thanh toán theo thỏa thuận và quy định pháp luật. |
| 5. Công ty trả chậm lương có phải trả thêm tiền không? | Nếu thuộc trường hợp pháp luật cho phép chậm trả do lý do bất khả kháng thì cũng không được chậm quá 30 ngày. Nếu chậm từ 15 ngày trở lên, người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền theo Điều 97 Bộ luật Lao động 2019. |
| 6. Bạn có thể kiện công ty không? | Có thể yêu cầu giải quyết tranh chấp để đòi số tiền lương còn thiếu. Tuy nhiên, đối với tranh chấp tiền lương thông thường, cần xác định trường hợp cụ thể có thuộc diện phải qua hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Tòa án theo Điều 188 Bộ luật Lao động 2019 hay không. Không nên bỏ qua bước này nếu vụ việc thuộc trường hợp bắt buộc hòa giải. |
| 7. Nên làm gì trước khi khởi kiện? | Trước tiên, bạn nên gửi cho công ty một yêu cầu thanh toán bằng văn bản/email, ghi rõ thời gian đã làm việc, mức lương đã thỏa thuận, số tiền đã nhận, số tiền còn thiếu và yêu cầu công ty thanh toán trong một thời hạn cụ thể. Việc này đồng thời tạo thêm chứng cứ nếu sau đó phát sinh tranh chấp. |
⚖️ KẾT LUẬN
👉 Bạn có cơ sở để yêu cầu công ty thanh toán số tiền lương còn thiếu, mặc dù chưa ký hợp đồng thử việc bằng văn bản, nếu có chứng cứ chứng minh bạn đã thực tế làm việc và hai bên có thỏa thuận về việc làm, tiền lương.
Đặc biệt, việc công ty đã chuyển một phần tiền với nội dung tạm ứng lương và từng xác nhận sẽ quyết toán phần lương còn lại vào cuối tháng 8 là những chứng cứ bạn nên lưu giữ đầy đủ.
Việc công ty nói phải “đợi hợp đồng với công trình xong mới trả hết tiền” không đương nhiên làm mất hoặc đình chỉ quyền được nhận tiền lương của bạn.
📌 VKE khuyến nghị bạn thực hiện theo thứ tự:
Thu thập toàn bộ chứng cứ → gửi văn bản/email yêu cầu thanh toán → nếu công ty tiếp tục không trả, thực hiện thủ tục giải quyết tranh chấp lao động theo quy định → yêu cầu Tòa án giải quyết khi đủ điều kiện.
Bạn tuyệt đối không nên xóa email, tin nhắn hoặc chứng từ chuyển khoản. Nếu công ty đã nhắn bằng văn bản rằng đang nợ và sẽ thanh toán phần lương còn lại thì cần chụp, sao lưu và bảo quản nội dung này.
━━━━━━━━━━━━━━━━━━
ℹ️ Thông tin này được biên soạn nhằm mục đích phổ biến kiến thức pháp luật và chỉ mang tính chất tham khảo.
🚫 Nội dung không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý cho từng vụ việc cụ thể. Việc áp dụng quy định pháp luật có thể khác nhau tùy theo hồ sơ, tình tiết thực tế và các văn bản pháp luật hiện hành tại thời điểm áp dụng.
━━━━━━━━━━━━━━━━━━
🏢 CÔNG TY LUẬT VKE | VKE CONSULT LAW OFFICE
📞 Zalo | WhatsApp: 0944 501 512
📍 Địa chỉ: Tầng 6, Tòa nhà VVA, 279 Lý Tự Trọng, P. Bến Thành, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh
Luật sư Trương Phú Nhân.
Chào bạn,
Vấn đề bạn hỏi luật sư trả lời như sau:
Trường hợp của bạn có cơ sở để yêu cầu công ty thanh toán đầy đủ tiền lương còn thiếu, kể cả khi bạn chưa ký hợp đồng thử việc bằng văn bản.
1. Không ký hợp đồng thử việc không có nghĩa là công ty được giữ lương
Theo Điều 13 Bộ luật Lao động 2019, nếu hai bên có thỏa thuận về việc làm có trả công, tiền lương và có sự quản lý, điều hành, giám sát của công ty thì quan hệ đó có thể được xác định là hợp đồng lao động, không phụ thuộc vào việc các bên gọi tên quan hệ như thế nào. Người sử dụng lao động có trách nhiệm giao kết hợp đồng trước khi nhận người lao động vào làm việc.
Đối với thử việc, Điều 24 Bộ luật Lao động 2019 cho phép các bên thỏa thuận nội dung thử việc trong hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng thử việc. Tiền lương thử việc theo Điều 26 cũng phải ít nhất bằng 85% mức lương của công việc.
Do đó, nếu bạn thực tế đã được công ty tiếp nhận vào làm việc, có email mời làm việc, có giao việc, chấm công, trao đổi công việc, nhận lương tạm ứng... thì đây đều có thể là nguồn chứng cứ chứng minh quan hệ làm việc và tiền lương đã thỏa thuận.
2. Công ty không thể lấy lý do “chờ hợp đồng công trình” để giữ lương của bạn
Điểm này cần phân biệt.
Nếu bạn đã thực tế làm việc cho công ty thì tiền lương của bạn là nghĩa vụ thanh toán của người sử dụng lao động, không phụ thuộc vào việc công ty đã quyết toán hay hoàn tất hợp đồng với chủ đầu tư/công trình hay chưa.
Khoản 1 Điều 94 Bộ luật Lao động 2019 quy định người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Điều 97 quy định kỳ hạn trả lương; trường hợp trả lương theo tháng thì thời điểm trả lương phải được ấn định theo chu kỳ. Việc chậm trả do lý do bất khả kháng cũng chỉ được pháp luật cho phép trong điều kiện nhất định và không quá 30 ngày.
Vì vậy, nếu công ty đã cam kết cuối tháng 8/2026 thanh toán hết lương nhưng đến nay vẫn viện lý do chờ đối tác/chủ công trình để chưa trả thì bạn có quyền yêu cầu công ty thanh toán số tiền còn thiếu.
3. Bạn có “kiện” được không?
Có. Nhưng luật sư khuyên bạn nên thực hiện theo từng bước, trước hết là yêu cầu công ty thanh toán bằng văn bản để tạo chứng cứ.
Bạn nên lưu giữ:
- Email công ty mời bạn vào làm việc;
- Tin nhắn/email trao đổi về mức lương;
- Quyết định hoặc thông báo tiếp nhận nếu có;
- Bằng chứng bạn đã đến làm việc;
- File, tài liệu, sản phẩm công việc bạn đã thực hiện;
- Bảng chấm công, lịch làm việc;
- Sao kê khoản tiền công ty đã chuyển;
- Tin nhắn/email công ty xác nhận còn nợ lương;
- Đặc biệt là tin nhắn/email công ty từng cam kết sẽ thanh toán vào cuối tháng 8.
Trong trường hợp tranh chấp, những tài liệu này rất quan trọng để chứng minh bạn đã làm việc, mức lương được thỏa thuận và số tiền công ty còn phải trả.
4. Bạn nên làm gì ngay bây giờ?
Luật sư đề nghị bạn gửi một yêu cầu thanh toán bằng văn bản cho công ty, trong đó ghi rõ:
Tôi đã làm việc tại công ty từ ngày... đến ngày..., mức lương thỏa thuận là...; công ty đã thanh toán tạm ứng số tiền... và còn thiếu số tiền...; trước đây công ty xác nhận sẽ thanh toán phần còn lại vào cuối tháng 8/2026 nhưng đến nay chưa thực hiện. Đề nghị công ty thanh toán đầy đủ số tiền lương còn thiếu trước ngày...
Không nên chỉ nhắn kiểu “bao giờ công ty trả lương cho em?” mà nên xác định rõ số tiền, thời gian làm việc và yêu cầu thanh toán.
Nếu công ty tiếp tục không trả, bạn có thể cân nhắc yêu cầu hòa giải tranh chấp lao động và/hoặc khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền, tùy tính chất quan hệ lao động và hồ sơ thực tế.
Một điểm có lợi cho bạn là: việc chưa ký hợp đồng thử việc không đồng nghĩa với việc bạn mất quyền đòi tiền lương. Vấn đề quan trọng là phải chứng minh được bạn đã thực tế làm việc và có thỏa thuận về tiền công/tiền lương.
Nếu bạn có email công ty mời nhận việc hoặc tin nhắn công ty xác nhận số tiền lương còn nợ và thời điểm sẽ trả, bạn có thể gửi để luật sư xem. Đây là những chứng cứ khá quan trọng để đánh giá khả năng yêu cầu công ty thanh toán.
Nếu bạn cần
thông tin thêm về dịch vụ tư vấn, vui lòng gọi tổng đài i-Law để được giải đáp.
Nếu bạn vừa lòng với nội dung trả lời, vui lòng đánh giá câu trả lời để ủng hộ
Luật sư Nguyễn Thanh Hải.
Luật sư Nguyễn Thanh Hải.
Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Theo như thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin được đưa ra tư vấn sơ bộ như sau:
1. Chưa ký hợp đồng thử việc có làm mất quyền yêu cầu trả lương hay không?
Việc chưa ký hợp đồng thử việc không đồng nghĩa với việc người lao động mất quyền yêu cầu trả lương. Theo Điều 13 và Điều 14 Bộ luật Lao động 2019, quan hệ lao động được xác định dựa trên bản chất của việc thỏa thuận và thực hiện công việc trên thực tế, bao gồm các yếu tố về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động, mà không phụ thuộc hoàn toàn vào việc các bên đã ký kết văn bản hay đặt tên cho quan hệ đó như thế nào.
Do đó, nếu người lao động đã thực tế đến làm việc, được công ty giao nhiệm vụ, chịu sự quản lý, điều hành và đã được công ty thực hiện một phần khoản tiền dưới hình thức tạm ứng lương, thì đây là những dấu hiệu tương đối rõ ràng cho thấy quan hệ lao động đã được xác lập trên thực tế. Theo đó, người lao động có quyền yêu cầu công ty thanh toán đầy đủ tiền lương đối với thời gian đã làm việc.
2. Giá trị của email, tin nhắn và khoản tiền tạm ứng đã nhận
Các tài liệu như email mời làm việc, tin nhắn trao đổi về mức lương, nội dung giao việc, chấm công và đặc biệt là sao kê ngân hàng thể hiện công ty đã chuyển khoản với nội dung “tạm ứng lương” là những chứng cứ có giá trị trong việc chứng minh quá trình làm việc và nghĩa vụ trả lương của công ty.
Những tài liệu này có thể được sử dụng để chứng minh rằng công ty đã biết, ghi nhận và thực tế thực hiện việc trả lương đối với người lao động, qua đó củng cố căn cứ xác định quan hệ lao động giữa các bên cũng như nghĩa vụ thanh toán tiền lương còn thiếu.
Vì vậy, người lao động cần bảo quản đầy đủ và không xóa bất kỳ email, tin nhắn, sao kê hoặc chứng từ liên quan nào, đặc biệt là các nội dung thể hiện việc công ty cam kết hoặc dự kiến “cuối tháng 8 quyết toán” tiền lương.
3. Việc công ty lấy lý do “chờ hợp đồng với công trình hoàn tất mới trả lương” có phù hợp với quy định pháp luật hay không?
Về nguyên tắc, lý do nêu trên không phải là căn cứ để người sử dụng lao động được quyền trì hoãn việc trả lương cho người lao động.
Theo khoản 1 Điều 94 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động có trách nhiệm trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn cho người lao động. Việc công ty chưa nhận được tiền thanh toán từ đối tác hoặc chủ đầu tư về bản chất là vấn đề thuộc hoạt động kinh doanh và quan hệ giữa công ty với bên thứ ba, không phải là căn cứ pháp luật cho phép công ty tự ý trì hoãn nghĩa vụ thanh toán tiền lương cho người lao động.
Pháp luật chỉ đặt ra trường hợp được phép chậm trả lương trong một số trường hợp bất khả kháng theo quy định, và ngay cả trong trường hợp này, thời gian chậm trả cũng không được quá 30 ngày.
4. Trường hợp trả lương chậm, người lao động có được yêu cầu khoản tiền bổ sung hay không?
Có. Theo khoản 4 Điều 97 Bộ luật Lao động 2019, trường hợp người sử dụng lao động trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng tiền lãi của số tiền trả chậm.
Khoản tiền này được xác định trên cơ sở lãi suất tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.
Theo đó, khi yêu cầu công ty thanh toán quyền lợi, người lao động có thể yêu cầu đồng thời tiền lương còn thiếu và khoản tiền đền bù do chậm trả lương theo quy định nêu trên.
5. Người lao động có thể khởi kiện hay không và trình tự thực hiện như thế nào?
Người lao động có cơ sở để yêu cầu công ty thanh toán tiền lương còn thiếu và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bằng các phương thức giải quyết tranh chấp lao động theo quy định pháp luật.
Đây là tranh chấp lao động cá nhân về tiền lương. Theo Điều 188 và Điều 190 Bộ luật Lao động 2019, về nguyên tắc, tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ một số trường hợp pháp luật quy định được miễn thủ tục hòa giải; trong đó, tranh chấp về tiền lương thông thường không thuộc trường hợp ngoại lệ này.
Về thời hiệu, người lao động có 06 tháng để yêu cầu hòa giải viên lao động và 01 năm để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mình cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp bị vi phạm.
Như vậy, trong trường hợp này, người lao động nên trước hết tập hợp đầy đủ các tài liệu chứng minh quá trình làm việc, thỏa thuận về tiền lương, thời gian làm việc, số tiền đã được thanh toán và số tiền còn thiếu; đồng thời lưu giữ các trao đổi thể hiện việc công ty xác nhận hoặc cam kết về thời điểm thanh toán. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để thực hiện yêu cầu thanh toán và, nếu cần thiết, tiến hành các thủ tục giải quyết tranh chấp theo quy định pháp luật.
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 02422429900 – 0989656682
E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
Luật sư Lê Thị Thu Hương.
Lĩnh vực Lao động
Không thể tìm thấy những gì bạn đang tìm kiếm?
Gửi một câu hỏi miễn phí trên diễn đàn công cộng của chúng tôi. Đặt một câu hỏi
Đặt câu hỏi- hoặc -
Tìm kiếm luật sư bằng cách đánh giá và xếp hạng..
Tìm kiếm luật sư


