Nợ tiền xe ko trả
Tôi là tài xế xe hợp đồng, 4 tháng trước có 1 người khách thuê xe tôi đi mỗi ngày, đi dc 2 tháng thì ko đi nữa nhưng thiếu tôi 17 triệu tiền xe, hơn 2 tháng sau mới trả dc 10 triệu còn nợ tôi 7trieu, mà chỉ hợp đồng miệng ko có văn bản, nhưng tin nhắn trên zalo là có. Vậy giờ họ trốn tôi có báo công an dc ko ạ.
4 Luật sư trả lời
Chào bạn,
Vấn đề bạn hỏi luật sư trả lời như sau:
Nếu bạn đủ căn cứ trên tin nhắn zalo chứng minh người thuê xe cón nợ, bạn in ra bản giấy, đến Phòng Thừa phát lại trên địa bàn lập vi bằng bằng chứng, làm fđơn tố cáo gửi cơ quan công an nơi người thuê xe cư trú để xử lý nhé.
Luật sư Nguyễn Thanh Hải.
Luật sư trả lời anh/chị như sau:
Trong trường hợp, nếu người thuê chỉ không có khả năng trả hoặc cố tình chây ì, thì đây là tranh chấp dân sự anh/ chị có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân khu vực nơi người đó cư trú, để yêu cầu thanh toán nợ. Nếu người thuê ngay từ đầu có thủ đoạn gian dối, cố tình bỏ trốn để chiếm đoạt tiền thì có thể cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 Bộ
luật Hình sự 2015).
Trước hết Anh/chị nên thu thập toàn bộ chứng cứ:
tin nhắn, ghi âm (nếu có), sao kê chuyển khoản
hoặc nhận tiền mặt, thông tin nhân thân người thuê.
Anh/chị có thể làm đơn tố giác gửi Công an Khu vực nơi người đó cư trú, trình bày hành vi nợ - bỏ trốn. Nếu không có đủ chứng cứ hoặc Cơ quan cảnh sát điều tra nhận thấy chưa đủ yếu tố truy cứu trách nhiệm hình sự thì anh sẽ phải làm đơn khởi kiện ra Tòa án để đòi lại số tiền còn nợ.
Nếu bạn đang gặp phải vấn đề về pháp luật, hãy
liên hệ với luật sư để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời.
Tư vấn hoàn toàn miễn phí sau đó mới báo phí thuê luật sư để bạn dễ
dàng quyết định!
·
LUẬTSƯ.NET
·
Địa
chỉ: Số 11, Đường số 7,
KDC CityLand Park Hills, Phường 10, Quận Gò Vấp, TP.HCM
·
Điện
thoại: 0914.431.086
·
Website: https://luậtsư.net/
·
Email: tuvanmienphi@luậtsư.net
Luật sư Lê Đức Tuấn.
Chào bạn, về vấn đề bạn đặt ra như trên, chúng tôi có một
số ý kiến tư vấn như sau:
Bạn có tin nhắn Zalo chứng minh việc
thỏa thuận thuê xe, số tiền còn nợ và việc khách thuê xe đã trả một phần tiền nợ, v.v. è Đây là chứng cứ hợp
pháp chứng minh có sự thỏa thuận giữa bạn và khách thuê xe, điều này vẫn được pháp luật
thừa nhận theo quy định
của pháp luật dân sự.
Nếu khách thuê xe chỉ chây ì, khất nợ,
không trả thì đây có thể xem là một tranh chấp dân sự. Bạn có thể nộp đơn khởi kiện tại
Tòa án nơi người đó cư trú để yêu
cầu thanh toán tiền.
Trường hợp khách thuê xe có hành vi gian dối, cố tình bỏ trốn, chặn liên lạc, v.v. thì có thể xem xét hành vi “Lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 175 Bộ luật
Hình sự 2015. Khi đó, bạn có thể làm đơn tố
cáo gửi cơ quan công an kèm chứng cứ (tin
nhắn Zalo, lịch sử chuyển khoản/trả
tiền, thông tin nhân thân, v.v.).
Bạn cần thu thập đủ chứng cứ:
tin nhắn Zalo, số tiền đã thanh
toán, xác nhận đi xe, thông tin cá nhân của khách thuê, v.v. Nếu khách thuê xe vẫn còn liên lạc được,
bạn có thể gửi văn bản yêu cầu trả nợ (Zalo, SMS, Email, hoặc Văn bản) để có thêm chứng cứ
rằng mình đã yêu cầu thanh
toán hợp pháp nhưng khách thuê
xe không trả.
Trên đây
là nội dung tư vấn của Văn phòng Luật sư Triển Luật về vấn đề bạn yêu cầu. Nếu
bạn còn vướng mắc hoặc cần báo giá dịch vụ pháp lý, vui lòng liên hệ trực tiếp
với chúng tôi theo địa chỉ số 213A (Tầng 2) Nguyễn Xí, Phường Bình Lợi Trung,
Tp. Hồ Chí Minh, số điện thoại liên hệ: 0903.121.676 – 077.682.0693 để được tư
vấn và giải đáp cụ thể.
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo.
Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Theo như thông tin bạn cung cấp chúng tôi xin đưa ra tư vấn sơ bộ như sau:
Căn cứ tại điều 175 BLHS 2015:
“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản[100]
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản”.
Do đó trong trường hợp người thuê xe hợp đồng của bạn đang có hành vi chiếm đoạt tài sản là 7 triệu đồng thì vẫn đang thuộc ngưỡng giá trị tài sản từ 4 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng và có hành vi vay, mượn tài sản của bạn bằng hình thức hợp đồng rồi bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
Tuy nhiên trước tiên bạn cần thu thập các chứng cứ như:
Trước hết, anh/chị nên thu thập và lưu giữ toàn bộ chứng cứ, bao gồm:
- Tin nhắn, cuộc gọi, ghi âm (nếu có) giữa hai bên;
- Sao kê hoặc chứng từ thanh toán (chuyển khoản, tiền mặt);
- Thông tin nhân thân, địa chỉ của người thuê
Sau đó có thể nộp đơn tố giác tội phạm tại Cơ quan nơi cư trú để trình bày rõ hành vi và bỏ trốn. Thực tế, để chứng minh được các yếu tố này thường khá khó khăn, bởi cần có chứng cứ rõ ràng thuộc một trong các yếu tố trên. Do đó, chỉ khi có đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh các tình tiết nêu trên thì mới có cơ sở để xử lý hình sự. Nếu không hành vi này cũng có thể được giải quyết theo con đường dân sự.
Hiện nay, vẫn chưa có quy định pháp luật không có quy định về hình thức hợp đồng vay tài sản. Pháp luật cũng không quy định hình thức của hợp đồng vay tiền bắt buộc phải lập thành văn bản nên các bên có thể giao kết, thỏa thuận về việc vay thông qua các hình thức như: lời nói, văn bản,…Nếu có tranh chấp về hợp đồng vay mà phải khởi kiện tại Tòa án thì các bên cần cung cấp chứng cứ để chứng minh về việc vay tiền hoặc trả tiền. Thời hiệu khởi kiện “là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”(Điều 429 BLDS 2015). Thực tế, số tiền nhỏ mà để khởi kiện một vụ án dân sự thì diễn ra rất lâu, chi phí tố tụng cũng có thể cao và có thể kéo dài tới vài năm.
Nếu cần hỗ trợ thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi qua thông tin dưới đây:
CÔNG TY LUẬT TNHH T2H
Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
Văn phòng giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel: 024 2242 9900 – 0989 656 682
Email: huong.le@t2h.vn – contact.t2h@t2h.vn
Trân trọng!
Luật sư Lê Thị Thu Hương.
Không thể tìm thấy những gì bạn đang tìm kiếm?
Gửi một câu hỏi miễn phí trên diễn đàn công cộng của chúng tôi. Đặt một câu hỏi
Đặt câu hỏi- hoặc -
Tìm kiếm luật sư bằng cách đánh giá và xếp hạng..
Tìm kiếm luật sư

