iLAW
iLAW
  • Tìm luật sư
    • Tư vấn pháp luật
      • Bài viết pháp luật
        • Câu hỏi pháp luật
          • Biểu mẫu
          • Dịch vụ pháp lý
          • Đặt câu hỏi miễn phí
          • Đăng nhập
          DetailFaq
          1. Q&A
          2. Lao động   
          3. Tai nạn lao động
          12/08/2026

          Tai nạn lao động

          Tôi có người nhà làm sơn bị tai nạn lao động chết. Tuy nhiên, người nhà tôi không có hợp đồng lao động với bên đại diện thi công (là người trực tiếp gọi người nhà tôi đi làm), tuy nhiên người đại diện thi công này có ký hợp đồng lao động với bên chủ thầu. Giờ cả 2 bên đều đùn đẩy không ai chịu trách nhiệm với gia đình. Vậy theo quy định của pháp luật, bên nào đang sai, và bên nào sẽ có trách nhiệm chi trả cho người nhà tôi.


          Đặt câu hỏi
          Luật sư: Nguyễn Văn Quynh Ads

          0 nhận xét

          Đánh giá của iLAW:  9.5

          Nhắn tin
          Mức phí
          Hồ sơ

          Gọi

          3 Luật sư trả lời

          Trương Phú Nhân

          Luật sư: Trương Phú Nhân

          38 nhận xét
          0944501512 tel: 0944501512
          Gọi
          Thông tin

            Xin chào Nguyễn Hoàng Quân,  Công Ty Luật VKE xin tư vấn cho bạn dựa trên nguồn thông tin bạn đưa ra như sau:

            TAI NẠN LAO ĐỘNG CHẾT NGƯỜI NHƯNG KHÔNG CÓ HỢP ĐỒNG – AI PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM?

            VKE CONSULT LAW OFFICE TƯ VẤN

            Vấn đềGiải đáp
            Không ký hợp đồng lao động thì gia đình có mất quyền yêu cầu bồi thường không?Không. Việc không có hợp đồng bằng văn bản chưa đủ để kết luận không tồn tại quan hệ lao động. Cần xác định thực tế ai thuê người lao động, trả công, giao việc và quản lý công việc.
            Người trực tiếp gọi người nhà đi làm có phải chịu trách nhiệm không?Có thể. Nếu người đại diện thi công trực tiếp thuê, thỏa thuận tiền công, phân công và quản lý người bị nạn thì đây là căn cứ rất quan trọng để xác định trách nhiệm của người này với tư cách người sử dụng lao động.
            Chủ thầu có phải chịu trách nhiệm không?Có thể phát sinh trách nhiệm, nhưng không thể kết luận chỉ vì người đại diện thi công có hợp đồng với chủ thầu. Cần kiểm tra hợp đồng giữa hai bên, cơ chế thuê nhân công, người trực tiếp quản lý công trường, trách nhiệm an toàn lao động và nguyên nhân tai nạn.
            Gia đình được yêu cầu những khoản nào?Nếu xác định đây là tai nạn lao động thuộc quan hệ lao động, thân nhân có thể được xem xét bồi thường hoặc trợ cấp tai nạn lao động và các chế độ liên quan theo Luật An toàn, vệ sinh lao động. Nếu người sử dụng lao động vi phạm nghĩa vụ tham gia bảo hiểm bắt buộc thì còn phải xem xét trách nhiệm tương ứng theo pháp luật.
            Hai bên đùn đẩy thì gia đình phải làm gì?Gia đình không nên tự lựa chọn một bên để yêu cầu rồi bỏ qua bên còn lại. Nên yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra vụ tai nạn lao động chết người, xác định nguyên nhân, quan hệ thuê lao động và trách nhiệm của từng cá nhân/tổ chức.

            ⚠️ VKE KHUYẾN NGHỊ GIA ĐÌNH LÀM NGAY

            Gia đình nên thu thập và giữ:

            ① Biên bản hiện trường, biên bản điều tra tai nạn lao động và tài liệu của Công an/cơ quan chức năng (nếu có);

            ② Tin nhắn, cuộc gọi, thỏa thuận tiền công, chuyển khoản hoặc chứng cứ chứng minh ai là người trực tiếp thuê người nhà đi làm;

            ③ Danh sách và lời khai của những người làm cùng;

            ④ Hợp đồng giữa người đại diện thi công và chủ thầu (nếu tiếp cận được);

            ⑤ Tài liệu về việc giao việc, quản lý công trường, trang bị bảo hộ và biện pháp an toàn lao động;

            ⑥ Giấy chứng tử, hồ sơ bệnh viện và các chứng từ liên quan đến vụ tai nạn.

            Kết luận của VKE

            Trong trường hợp này, chưa thể kết luận ngay chủ thầu hay người đại diện thi công là bên duy nhất phải bồi thường.

            Điểm quyết định là phải xác định người nhà Quý khách thực tế làm việc cho ai. Nếu người đại diện thi công là người trực tiếp thuê, trả công, giao việc và quản lý công việc thì việc hai bên không ký một văn bản mang tên “hợp đồng lao động” không đương nhiên loại trừ quan hệ lao động và trách nhiệm pháp lý.

            Đồng thời, vì đây là tai nạn chết người, cần làm rõ cả trách nhiệm về an toàn lao động của chủ thầu, đơn vị thi công và những người quản lý công trường. Nếu có hành vi vi phạm quy định về an toàn lao động dẫn đến chết người thì ngoài nghĩa vụ bồi thường, cá nhân có trách nhiệm còn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

            VKE khuyến nghị gia đình chưa nên ký giấy xác nhận “đã nhận đủ tiền”, “không khiếu nại” hoặc thỏa thuận miễn trách nhiệm cho bất kỳ bên nào trước khi có kết quả xác minh nguyên nhân tai nạn và xác định rõ trách nhiệm của các bên.

            ━━━━━━━━━━━━━━━━━━
            ℹ️ Thông tin này được biên soạn nhằm mục đích phổ biến kiến thức pháp luật và chỉ mang tính chất tham khảo.
            🚫 Nội dung không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý cho từng vụ việc cụ thể. Việc áp dụng quy định pháp luật có thể khác nhau tùy theo hồ sơ, tình tiết thực tế và các văn bản pháp luật hiện hành tại thời điểm áp dụng.
            ━━━━━━━━━━━━━━━━━━
            🏢 CÔNG TY LUẬT VKE | VKE CONSULT LAW OFFICE
            📞 Zalo | WhatsApp: 0944 501 512
            📍 Địa chỉ: Tầng 6, Tòa nhà VVA, 279 Lý Tự Trọng, P. Bến Thành, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh

            Luật sư Trương Phú Nhân.

            Lê Thị Thu Hương

            Luật sư: Lê Thị Thu Hương

            0 nhận xét
            989656682 tel: 989656682
            Gọi
            Thông tin

              Chào bạn,

              Dựa theo thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin đưa ra tư vấn như sau:

              1. Chủ thầu có phải chịu trách nhiệm chi trả, bồi thường cho đến khi cậu của bạn bình phục hay không?

              Căn cứ theo Khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động 2019:

              - Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động

              - Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.

              Căn cứ theo Khoản 1 Điều 119 Bộ luật dân sự 2015: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.”

              Vậy, theo quy định của pháp luật thì không có hợp đồng bằng văn bản vẫn được công nhận quan hệ lao động nếu có thực tế làm việc, nhận lương và người lao động chịu sự quản lý của người sử dụng lao động. Trong trường hợp của bạn, bên đại diện thi công là bên đã gọi người nhà của bạn đi làm, nhưng không thể xác định bên thi công có phải là bên trực tiếp thuê, thỏa thuận tiền công, phân công và quản lý người nhà bạn hay không.

                         Căn cứ theo Khoản 9 Điều 15 nghị định 207/2026/NĐ-CP quy định về Trách nhiệm của nhà thầu thi công xây dựng: “9…Dừng thi công xây dựng khi phát hiện nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, sự cố gây mất an toàn lao động và có biện pháp khắc phục để bảo đảm an toàn trước khi tiếp tục thi công; khắc phục hậu quả tai nạn lao động, sự cố gây mất an toàn lao động xảy ra trong quá trình thi công xây dựng công trình.”

                         Vậy, nếu chủ thầu phát hiện nguy cơ gây tai nạn lao động thì phải có biện pháp khắc phục để đảm bảo an toàn trước khi tiếp tục thi công. Việc quản lý an toàn lao động được áp dụng đối với toàn bộ công trường, kể cả lao động của thầu phụ hoặc người được giao việc. Nếu chủ thầu không kiểm soát được việc sử dụng lao động không hợp đồng của người đại diện thi công, và/hoặc không quản lý được chất lượng, nguy cơ tiềm ẩn trong quá trình thi công thì có thể phải liên đới chịu trách nhiệm.

              2. Trách nhiệm bồi thường

              Căn cứ theo Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 khi Người lao động gặp tai nạn lao động, Người sử dụng lao động có trách nhiệm:

              “…2. Thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp

              …4. Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động mà không hoàn toàn do lỗi của chính người này gây ra và cho người lao động bị bệnh nghề nghiệp

              a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu bị suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;

              b) Ít nhất 30 tháng tiền lương cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

              5. Trợ cấp cho người lao động bị tai nạn lao động mà do lỗi của chính họ gây ra một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 4 Điều này với mức suy giảm khả năng lao động tương ứng;”

              Căn cứ theo điều 591 Bộ luật dân sự 2015:

              “Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

              1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

              a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;

              b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

              c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;

              d) Thiệt hại khác do luật quy định.

              2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”

              Vậy theo quy định của pháp luật, người sử dụng lao động có trách nhiệm:

              - Chi trả toàn bộ chi phí sơ cứu, cấp cứu, điều trị từ khi xảy ra tai nạn đến khi mất;

              - Bồi thường một lần cho thân nhân người gặp nạn ít nhất 30 tháng tiền lương;

              - Trợ cấp (nếu tai nạn do lỗi của người lao động) bằng ít nhất 40% mức bồi thường nêu trên;

              - Chi phí mai táng;

              - Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho thân nhân không vượt quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

              Trong trường hợp này, chưa thể kết luận ngay chủ thầu hay người đại diện thi công là bên duy nhất phải bồi thường. Cần xác định người nhà của bạn thực tế làm việc cho ai. Nếu người đại diện thi công là người trực tiếp thuê, trả công, giao việc và quản lý công việc thì việc hai bên không ký “hợp đồng lao động” không đương nhiên loại trừ quan hệ lao động và trách nhiệm pháp lý.

              Đồng thời, cần làm rõ cả trách nhiệm về an toàn lao động của chủ thầu, đơn vị thi công và những người quản lý công trường. Nếu có hành vi vi phạm quy định về an toàn lao động dẫn đến chết người thì ngoài nghĩa vụ bồi thường, cá nhân có trách nhiệm còn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

              Trên đây là tư vấn của chúng tôi dựa trên thông tin mà bạn cung cấp, để có cơ sở tư vấn chính xác hơn, bạn vui lòng cung cấp thêm một số thông tin sau:

              - Ai là người trực tiếp thuê, thỏa thuận tiền công, phân công, quản lý người nhà của bạn? Là bên chủ thầu hay bên thi công?

              - Nơi làm việc của người nhà bạn có đảm bảo an toàn lao động hay có nguy cơ nào gây mất an toàn lao động không?

              - Đã có biên bản hiện trường hoặc giấy chứng tử chưa?

              - Người nhà bạn có nhận được bất kỳ khoản hỗ trợ nào từ bên chủ thầy hoặc bên thi công chưa?

              - Ngoài người nhà bạn ra, còn ai khác được gọi đi làm không?

              Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

              Công ty Luật TNHH T2H

              Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

              VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

              Tel: 02422429900 – 0989656682

              E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

              Trân trọng!

              Luật sư Lê Thị Thu Hương.

              Nguyễn Thanh Hải

              Luật sư: Nguyễn Thanh Hải

              37 nhận xét
              0522385888 tel: 0522385888
              Gọi
              Thông tin

                Chào bạn,

                Với trường hợp bạn trình bày, luật sư tư vấn như sau:

                Đây là vụ việc tai nạn lao động chết người, nhưng người đã trực tiếp gọi người nhà bạn đi làm lại không ký hợp đồng lao động với người đã mất. Tuy nhiên, không thể chỉ dựa vào việc “không có hợp đồng” để kết luận không bên nào phải chịu trách nhiệm.

                Điểm cần làm rõ là ai thực tế thuê, giao việc, quản lý, điều hành và bảo đảm an toàn cho người lao động tại công trình.

                1. Không có hợp đồng bằng văn bản không đồng nghĩa với không có quan hệ lao động

                Theo Điều 13 Bộ luật Lao động 2019, nếu hai bên có thỏa thuận về việc làm có trả công, tiền lương và có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì có thể được xác định là hợp đồng lao động, dù hai bên gọi bằng tên khác hoặc không lập thành văn bản trong trường hợp pháp luật cho phép.

                Do đó, cần chứng minh:

                • Ai trực tiếp gọi người nhà bạn đi làm;
                • Ai thỏa thuận tiền công;
                • Ai giao công việc sơn;
                • Ai bố trí địa điểm, thời gian làm việc;
                • Ai quản lý, giám sát;
                • Ai trả tiền công;
                • Người này làm việc cho ai;
                • Công việc được thực hiện trong công trình của chủ thầu nào.

                Không nên chấp nhận ngay lập luận của hai bên rằng:

                “Không ký hợp đồng nên chúng tôi không có trách nhiệm.”

                2. Người đại diện thi công có thể phải chịu trách nhiệm nếu chính người này thuê và quản lý người đã mất

                Thông tin bạn cung cấp rất đáng chú ý:

                “Người đại diện thi công là người trực tiếp gọi người nhà tôi đi làm, nhưng người đại diện thi công này có ký hợp đồng lao động với bên chủ thầu.”

                Điều này đặt ra hai khả năng.

                Trường hợp 1: Người đại diện thi công thực tế là người trực tiếp thuê, giao việc, trả công và quản lý người đã mất.

                → Có cơ sở xem xét xác định người này là người sử dụng lao động, hoặc ít nhất là chủ thể có trách nhiệm trực tiếp liên quan đến việc bảo đảm an toàn lao động.

                Trường hợp 2: Người này chỉ là nhân viên/đại diện của chủ thầu, được chủ thầu giao nhiệm vụ tuyển người, tổ chức thi công.

                → Khi đó cần xem xét trách nhiệm của chính chủ thầu, vì người đại diện thực hiện công việc nhân danh hoặc trong phạm vi công việc được chủ thầu giao.

                Vì vậy, không thể chỉ nhìn vào việc ai ký hợp đồng với ai mà xác định trách nhiệm.

                3. Chủ thầu cũng không đương nhiên được miễn trách nhiệm

                Nếu chủ thầu nhận thi công công trình và người đại diện thi công là người của chủ thầu, được chủ thầu giao nhiệm vụ tổ chức thi công, thì phải xác minh:

                • Chủ thầu có biết việc tuyển người nhà bạn không?
                • Ai phân công công việc?
                • Ai quản lý người lao động?
                • Ai chịu trách nhiệm về an toàn tại công trường?
                • Người lao động có được huấn luyện an toàn không?
                • Có trang bị phương tiện bảo hộ không?
                • Có biện pháp phòng ngừa nguy hiểm trong công việc sơn không?

                Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 đặt trách nhiệm bảo đảm an toàn lao động lên người sử dụng lao động; trong trường hợp người lao động bị tai nạn, pháp luật còn quy định trách nhiệm bồi thường/trợ cấp tùy nguyên nhân và mức độ suy giảm khả năng lao động.

                4. Nếu người lao động chết do tai nạn lao động thì thân nhân có quyền yêu cầu bồi thường

                Đây là điểm rất quan trọng.

                Theo quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động, trường hợp người lao động chết do tai nạn lao động, nếu tai nạn không do lỗi của người lao động thì thân nhân được bồi thường theo mức luật định; trường hợp có lỗi của người lao động thì vẫn có cơ chế trợ cấp theo quy định.

                Đối với trường hợp chết do tai nạn lao động, mức bồi thường tối thiểu theo quy định về an toàn, vệ sinh lao động là 30 tháng tiền lương trong trường hợp thuộc diện áp dụng quy định này. Ngoài ra còn phải xem xét các khoản chế độ bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác.

                Nhưng trong vụ này có một vấn đề cần giải quyết trước:

                Ai là người sử dụng lao động thực sự của người đã mất?

                Đây chính là nội dung cần điều tra, xác minh chứ không thể để hai bên tự “đùn đẩy”.

                5. Nếu chủ thầu không đóng BHXH thì vẫn phải xem xét quyền lợi của gia đình

                Nếu xác định người đã mất thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc nhưng người sử dụng lao động không đóng BHXH thì việc không đóng bảo hiểm không làm mất quyền lợi của người lao động/thân nhân.

                Pháp luật có cơ chế buộc người sử dụng lao động phải thanh toán khoản tiền tương ứng với chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà người lao động đáng lẽ được hưởng trong trường hợp thuộc diện tham gia nhưng chưa được đóng bảo hiểm.

                Vì vậy, gia đình cần kiểm tra cả quá trình đóng BHXH của người đã mất, nếu trước đó người này từng làm việc cho doanh nghiệp/chủ sử dụng khác.

                6. Ngoài trách nhiệm dân sự và lao động, có thể có trách nhiệm hình sự

                Do hậu quả là chết người, tôi cho rằng gia đình không nên chỉ giải quyết bằng việc “đòi hai bên hỗ trợ tiền”.

                Cần đề nghị cơ quan Công an xác minh nguyên nhân tai nạn và việc chấp hành quy định an toàn lao động.

                Nếu có người có trách nhiệm đã vi phạm quy định về an toàn lao động, dẫn đến chết người, có thể xem xét Điều 295 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 – Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người.

                Việc có truy cứu hình sự hay không phải căn cứ vào kết quả điều tra cụ thể, không thể kết luận chỉ từ thông tin hiện tại.

                7. Gia đình nên làm gì ngay?

                Tôi khuyên gia đình không nên tiếp tục chờ hai bên tự thỏa thuận, mà cần chủ động làm hồ sơ.

                Thứ nhất: Làm đơn trình báo/tố giác với Công an

                Trong đơn ghi rõ:

                • Họ tên người đã mất;
                • Thời gian, địa điểm xảy ra tai nạn;
                • Công việc đang thực hiện;
                • Ai gọi đi làm;
                • Ai giao việc;
                • Ai quản lý;
                • Ai trả tiền công;
                • Tên chủ thầu;
                • Tên người đại diện thi công;
                • Diễn biến tai nạn;
                • Nguyên nhân nghi ngờ;
                • Hậu quả chết người.

                Đồng thời đề nghị xác minh trách nhiệm của cả người đại diện thi công và chủ thầu, không chỉ xác minh một người.

                Thứ hai: Đề nghị lập hồ sơ tai nạn lao động

                Gia đình cần yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác minh, điều tra vụ tai nạn và lập hồ sơ theo quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015.

                Đặc biệt, cần có tài liệu về:

                • Hiện trường;
                • Biên bản tai nạn;
                • Lời khai người chứng kiến;
                • Hồ sơ y tế;
                • Nguyên nhân tử vong;
                • Điều kiện an toàn tại công trường;
                • Người phụ trách an toàn;
                • Người trực tiếp quản lý công việc.

                Thứ ba: Thu thập chứng cứ về quan hệ lao động

                Gia đình cần giữ:

                • Tin nhắn gọi đi làm;
                • Tin nhắn giao việc;
                • Tin nhắn thỏa thuận tiền công;
                • Sao kê/chuyển khoản tiền công;
                • Số điện thoại của người gọi đi làm;
                • Lời khai người làm cùng;
                • Hình ảnh người đã mất tại công trình;
                • Camera công trình;
                • Hình ảnh hiện trường;
                • Danh sách người lao động;
                • Các giấy tờ của chủ thầu;
                • Hợp đồng giữa chủ thầu và người đại diện thi công nếu có thể thu thập.

                Đừng để camera công trình bị ghi đè dữ liệu. Nếu còn camera, gia đình nên đề nghị cơ quan Công an nhanh chóng thu thập.

                8. Gia đình có thể yêu cầu những khoản nào?

                Sau khi xác định được chủ thể chịu trách nhiệm, cần xem xét tối thiểu các nhóm quyền lợi:

                Một là, chi phí cứu chữa, cấp cứu trước khi chết nếu thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động.

                Hai là, tiền lương/tiền công và các khoản liên quan theo quy định.

                Ba là, khoản bồi thường hoặc trợ cấp do tai nạn lao động chết người.

                Bốn là, các chế độ BHXH liên quan đến tai nạn lao động, tử tuất nếu đủ điều kiện.

                Năm là, trong trường hợp có hành vi gây thiệt hại ngoài quan hệ lao động, còn phải xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Bộ luật Dân sự 2015, bao gồm các khoản thiệt hại thực tế và quyền lợi của thân nhân theo từng trường hợp.

                9. Vậy cuối cùng bên nào phải trả?

                Với dữ kiện hiện tại, chưa thể khẳng định ngay chỉ chủ thầu hoặc chỉ người đại diện thi công phải trả.

                Phải xác định quan hệ thực tế:

                Người trực tiếp thuê → ai trả công → ai giao việc → ai quản lý → ai tổ chức thi công → ai có nghĩa vụ bảo đảm an toàn → nguyên nhân tai nạn → lỗi của từng chủ thể.

                Có thể xảy ra trường hợp chủ thầu là người sử dụng lao động, người đại diện thi công chỉ là người được giao nhiệm vụ; cũng có thể người đại diện thi công là người trực tiếp thuê và sử dụng lao động, từ đó phát sinh trách nhiệm riêng.

                Nếu có lỗi của nhiều chủ thể, trách nhiệm của từng người/doanh nghiệp phải được xác định dựa trên hành vi, nghĩa vụ và mức độ lỗi của từng bên.

                Tôi đặc biệt lưu ý gia đình một việc:

                Không nên ký bất kỳ giấy “cam kết đã giải quyết xong”, “hỗ trợ gia đình”, “không khiếu nại”, “không yêu cầu bồi thường” nào với chủ thầu hoặc người đại diện thi công trước khi luật sư xem nội dung.

                Vụ việc đã có hậu quả chết người, vì vậy cần làm rõ trách nhiệm pháp lý trước, sau đó mới tính đến phương án thương lượng bồi thường.

                Nếu gia đình cung cấp thêm (1) ai là người trả tiền công cho người đã mất, (2) ai trực tiếp giao việc sơn, (3) tai nạn xảy ra tại công trình của ai, (4) nguyên nhân cụ thể dẫn đến tử vong và (5) chủ thầu là cá nhân hay công ty, luật sư có thể phân tích sâu hơn bên nào có tư cách người sử dụng lao động, ai phải bồi thường và gia đình có thể yêu cầu những khoản tiền cụ thể nào.

                Nếu bạn cần luật sư, hãy liên hệ i-Law để được tư vấn.

                Nếu bạn vừa ý với nội dung tư vấn, vui lòng để lại nhận xét trên diễn đàn để luật sư có thêm động lực hỗ trợ cộng đồng.


                Luật sư Nguyễn Thanh Hải.

                Luật sư: Nguyễn Văn Quynh Ads

                0 nhận xét

                • Đánh giá của iLAW: 9.5

                Nhắn tin
                Mức phí
                Hồ sơ

                Gọi

                Luật sư: Nguyễn Xuân Tín Ads

                63 nhận xét

                • Đánh giá của iLAW: 9.6

                Nhắn tin
                Mức phí
                Hồ sơ

                Gọi

                  0989376528

                Những câu hỏi cùng lĩnh vực

                1. Hợp đồng lao động
                  Có 5 Luật sư trả lời
                2. Bị tai nạn lao động không hợp đồng
                  Có 4 Luật sư trả lời
                3. Tai nạn lao động
                  Có 3 Luật sư trả lời
                4. Luật lao động về việc công ty cho thôi việc
                  Có 4 Luật sư trả lời
                5. Vi phạm quyền lao động
                  Có 4 Luật sư trả lời
                6. Viết đơn
                  Có 4 Luật sư trả lời

                  Lĩnh vực Lao động

                  1. Hợp đồng lao động
                  2. Kỷ luật lao động
                  3. Lao động nước ngoài
                  4. Tranh chấp lao động

                  Không thể tìm thấy những gì bạn đang tìm kiếm?


                  Gửi một câu hỏi miễn phí trên diễn đàn công cộng của chúng tôi. Đặt một câu hỏi

                  Đặt câu hỏi

                  - hoặc -

                  Tìm kiếm luật sư bằng cách đánh giá và xếp hạng..

                  Tìm kiếm luật sư

                  Duyệt tìm Luật sư

                  • Theo lĩnh vực
                  • Theo tỉnh thành

                      Đánh giá (Rating) của iLAW

                      1. Hệ thống Đánh giá (Rating) trên iLAW hoạt động như thế nào

                      iLAW đưa ra Đánh giá (Rating) dựa trên các thông tin do Luật sư cung cấp trong trang cá nhân của Luật sư và các thông tin mà iLAW thu thập được (ví dụ, các thông tin do Đoàn Luật sư, Liên đoàn Luật sư hoặc các Sở tư pháp công bố...). Thêm vào đó, thuật toán thông minh (Smart Agorithm) trên hệ thống iLAW cũng nhận diện và tự động cập nhật thường xuyên những thay đổi (tăng hoặc giảm) của Đánh giá (Rating). 

                      2. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến Đánh giá (Rating) của iLAW

                      Kinh nghiệm và bằng cấp

                      Số năm kinh nghiệm hành nghề của Luật sư, học vấn, bằng cấp chuyên môn hoặc các bằng cấp trong các lĩnh vực liên quan mà Luật sư đạt được.

                      Thành tựu trong nghề nghiệp

                      Các giải thưởng, vinh danh, bằng khen…của cá nhân Luật sư hoặc của văn phòng/công ty nơi Luật sư làm việc.

                      Danh tiếng và uy tín trong nghề

                      Mức độ tích cực của các Nhận xét (reviews) và đánh giá sao (từ 1 sao đến 5 sao) chất lượng dịch vụ pháp lý từ khách hàng cũ và Đánh giá của luật sư đồng nghiệp đối với Luật sư.

                      Đóng góp cho nghề

                      Luật sư có xuất bản các sách chuyên ngành pháp lý, các bài viết, chia sẻ quan điểm pháp lý trên các báo, tạp chí, các tham luận, trình bày tại các hội thảo chuyên ngành pháp lý...

                      Đóng góp cho cộng đồng

                      Luật sư tích cực tham gia trả lời miễn phí các Câu hỏi của khách hàng, chia sẻ miễn phí các thông tin pháp lý hữu ích, các biểu mẫu, mẫu hợp đồng cho khách hàng trên iLAW.

                      3. Các mức độ của Đánh giá (Rating) của iLAW

                      Kết quả Đánh giá (Rating) trên hệ thống iLAW được chia làm 04 mức độ tương ứng, phản ánh thông tin toàn diện về Luật sư và chất lượng cũng như uy tín của dịch vụ pháp lý mà Luật sư cung cấp:

                      10 - 9.0: Xuất sắc 

                      8.9 - 8.0: Rất tốt 

                      7.9 - 7.0: Tốt 

                      6.9 - 6.0: Trung bình

                      • Về chúng tôi
                      • Điều khoản sử dụng
                      • Dành cho người dùng
                      • Dành cho Luật sư
                      • Chính sách bảo mật
                      • Nội quy trang Nhận xét
                      • Đánh giá của iLAW

                      Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Pháp Lý Thông Minh

                      Tầng 6,7 Toà nhà Friendship, số 31 Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

                      Điện thoại: (028) 7303 2868

                      Email: cskh@i-law.vn

                      GCNĐKKD số 0314107106 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TPHCM cấp ngày 10/11/2016

                      iLAW chỉ cung cấp thông tin và nền tảng công nghệ để bạn sử dụng thông tin đó. Chúng tôi không phải là công ty luật và không cung cấp dịch vụ pháp lý. Bạn nên tham vấn ý kiến Luật sư cho vấn đề pháp lý mà bạn đang cần giải quyết. Vui lòng tham khảo Điều khoản sử dụng và Chính sách bảo mật khi sử dụng website.

                      © iLAW Inc. All Rights Reserved 2019