đất ở nhờ
Cha em,ở trên đất của dì ruột 1996 đến năm 2008 dì của ông tuổi cao sức yếu chết.Cho ở có viết giấy cho nhưng lụt trôi mất.Ba năm nay con của dì đòi lại sổ đỏ do cha em giữ.Cha em không trả và em cũng thấy bất bình! Dù gì cha tới xây dựng nhà và có trồng hoa lợi.Giờ con dì nói sang sổ mà cho 1 lô?cha em hiện tại không đồng ý.Toà án hiện đã thụ lý và yêu cầu lập biên bản trả sổ đỏ cho con dì và đã yêu cầu dì rút đơn.Vậy là sổ trả còn đất mình kiện lấy đc o?
4 Luật sư trả lời
Chào chị, chị vui lòng liên hệ số điện thoại luật sư 0977761893 để cung cấp thêm thông tin và được tư vấn cụ thể nhé.
Luật sư Phạm Đức Huy.
Ở nhờ đất từ năm 1996, có giấy cho ở bị mất, con của dì đòi lại sổ đỏ thì có còn quyền kiện đòi đất không?
Chào anh/chị, vấn đề của anh/chị được Luật sư Nguyễn Thành Huân – Giám đốc Công ty Luật Sư 11 – tư vấn như sau:
Cha anh/chị sử dụng đất của dì ruột từ năm 1996, có xây dựng nhà và trồng hoa lợi trên đất. Theo trình bày, dì có viết giấy cho ở nhưng giấy này đã bị nước lũ làm thất lạc; dì mất năm 2008. Hiện nay con của dì yêu cầu cha anh/chị trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và muốn sang tên đất, trong khi cha anh/chị không đồng ý; Tòa án đã thụ lý và có yêu cầu liên quan đến việc trả sổ.
1. Ở nhờ đất từ năm 1996 có làm phát sinh quyền sử dụng đất cho người ở nhờ không?
Về nguyên tắc, ở nhờ và tặng cho quyền sử dụng đất là hai quan hệ khác nhau. Nếu chủ đất chỉ cho người khác ở nhờ thì việc sử dụng đất không đồng nghĩa với việc quyền sử dụng đất đã được chuyển sang cho người ở nhờ.
Đối với hợp đồng về quyền sử dụng đất, Bộ luật Dân sự quy định phải lập thành văn bản và việc thực hiện phải tuân thủ pháp luật đất đai; việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực theo quy định về đăng ký.
Tuy nhiên, trường hợp của cha anh/chị không thể chỉ nhìn vào việc hiện nay không còn giấy tờ để kết luận ngay là “ở nhờ” hay “được cho đất”. Cần xác định chính xác nội dung giấy mà dì đã viết trước đây, người làm chứng, quá trình giao đất, việc xây dựng nhà và việc quản lý, sử dụng đất từ năm 1996.
→ Đối với trường hợp của anh/chị, nếu chứng minh được dì thực tế đã cho cha anh/chị quyền sử dụng phần đất đó chứ không chỉ cho ở tạm, thì đây là căn cứ quan trọng để yêu cầu Tòa án xem xét quyền sử dụng đất của cha anh/chị.
2. Giấy cho ở bị mất có còn cách nào chứng minh việc dì đã giao đất không?
Việc bản chính giấy cho ở bị thất lạc không có nghĩa là mọi chứng cứ về sự việc đều mất.
Cha anh/chị cần rà soát và cung cấp cho Tòa án các chứng cứ khác, chẳng hạn:
Người từng trực tiếp chứng kiến việc dì giao đất hoặc viết giấy.
Bản sao, hình ảnh hoặc bản chụp của giấy nếu trước đây có lưu giữ.
Giấy tờ thể hiện quá trình xây dựng nhà trên đất.
Chứng cứ về việc gia đình đã sử dụng đất từ năm 1996.
Hồ sơ điện, nước, thuế, cư trú hoặc các giấy tờ liên quan đến căn nhà.
Chứng cứ thể hiện dì biết và đồng ý cho cha anh/chị xây dựng, sử dụng đất.
Người làm chứng biết rõ việc dì cho đất hoặc cho ở.
Việc sử dụng đất trong thời gian dài và việc xây dựng nhà là những tình tiết cần được Tòa án xem xét cùng với các chứng cứ khác; không nên chỉ dựa vào thời gian sử dụng đất để kết luận cha anh/chị đương nhiên có quyền sử dụng đất.
→ Đối với trường hợp của anh/chị, cần đặc biệt tìm người biết việc dì viết giấy hoặc giao đất cho cha anh/chị. Đây có thể là chứng cứ rất quan trọng khi bản gốc giấy đã bị mất.
3. Cha anh/chị có thể yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất hay không?
Có thể đặt vấn đề yêu cầu Tòa án xem xét, nhưng khả năng được công nhận phụ thuộc vào chứng cứ chứng minh việc dì đã chuyển quyền cho cha anh/chị.
Luật Đất đai hiện hành xác định “chuyển quyền sử dụng đất” bao gồm chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho và một số hình thức khác; việc đăng ký đất đai là cơ chế để Nhà nước ghi nhận quyền sử dụng đất của người sử dụng đất.
Đặc biệt, vì sự việc bắt đầu từ năm 1996, Tòa án phải xem xét pháp luật tại thời điểm dì giao đất và toàn bộ quá trình sử dụng đất.
→ Đối với trường hợp của anh/chị, cha anh/chị có thể trình bày và yêu cầu Tòa án xem xét quyền sử dụng đất nếu cho rằng dì đã thực sự tặng cho/giao đất, đồng thời phải đưa ra các chứng cứ chứng minh việc này.
4. Nếu trả lại sổ đỏ cho con của dì thì cha anh/chị còn kiện hoặc yêu cầu về quyền sử dụng đất được không?
Việc trả lại bản chính Giấy chứng nhận không đồng nghĩa với việc cha anh/chị tự động mất quyền trình bày hoặc chứng minh quyền lợi đối với thửa đất.
Giấy chứng nhận là giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng tranh chấp về quyền sử dụng đất vẫn có thể được Tòa án xem xét trên cơ sở hồ sơ, nguồn gốc đất, quá trình sử dụng và các chứng cứ liên quan.
Bộ luật Tố tụng dân sự trong tài liệu được cung cấp cũng quy định trường hợp tranh chấp về đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ có những trường hợp pháp luật cho phép khởi kiện lại nếu trước đó yêu cầu chưa được Tòa án chấp nhận.
→ Đối với trường hợp của anh/chị, nếu Tòa án đang giải quyết tranh chấp thì không nên hiểu đơn giản rằng “trả sổ là mất đất”. Cần xem chính xác biên bản mà Tòa yêu cầu cha anh/chị ký là biên bản trả lại giấy chứng nhận, biên bản hòa giải, hay văn bản thể hiện việc cha anh/chị từ bỏ quyền và yêu cầu đối với đất.
Nếu cha anh/chị chỉ trả giấy chứng nhận nhưng vẫn bảo lưu quan điểm tranh chấp quyền sử dụng đất, thì hai vấn đề này cần được phân biệt rõ.
5. Lưu ý & khuyến nghị từ Luật Sư 11
Trong trường hợp này, cha anh/chị không nên ký bất kỳ văn bản nào có nội dung xác nhận “đất thuộc hoàn toàn về con của dì”, “tự nguyện trả đất”, “không có tranh chấp” hoặc “từ bỏ mọi quyền đối với đất” nếu chưa được đọc và hiểu rõ.
Cần làm rõ 4 vấn đề:
Giấy chứng nhận hiện đứng tên ai và được cấp từ năm nào?
Dì đã viết giấy cho ở hay giấy tặng cho đất? Có ai từng nhìn thấy giấy?
Từ năm 1996 đến nay cha anh/chị sử dụng chính xác phần diện tích nào, có xây nhà từ thời điểm nào?
Tòa án đang giải quyết vụ án với yêu cầu cụ thể là đòi lại sổ đỏ, đòi đất, tranh chấp quyền sử dụng đất hay tranh chấp về quan hệ cho ở nhờ?
Nếu Tòa đã thụ lý, việc quan trọng nhất hiện nay là tìm hiểu chính xác đơn khởi kiện, thông báo thụ lý và biên bản làm việc của Tòa để xác định cha anh/chị cần đưa ra yêu cầu phản tố hay yêu cầu độc lập về quyền sử dụng đất.
Cần kiểm tra thêm hồ sơ để tư vấn chính xác hơn.
Nếu anh/chị cần hỗ trợ thêm về vấn đề này, vui lòng liên hệ với luật sư qua thông tin sau:
📍 CÔNG TY LUẬT TNHH LUẬT SƯ 11
✔️ 120 – 122 Điện Biên Phủ, phường Tân Định, TP. Hồ Chí Minh
📞 0979 800 000 – Zalo/Mobile
📧 nguyenthanhhuan@luatsu11.vn
🌐 https://luatsu11.vn
Luật sư Nguyễn Thành Huân sẽ cùng đội ngũ là những luật sư nhiều năm kinh nghiệm tại Công ty Luật Sư 11 đồng hành cùng anh/chị để giải quyết vấn đề nêu vấn đề và bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của anh/chị.
Luật sư Nguyễn Thành Huân.
Chào bạn, Hãng Luật Chân Thiện Mỹ tư vấn sơ bộ cho bạn tham khảo như sau:
1. Căn cứ Điều 166, Điều 500, Điều 502 Bộ luật Dân sự 2015 (Về quyền đòi lại tài sản và hợp đồng về quyền sử dụng đất);
Điều 217, Điều 218 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (Về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự).
2. Qua sự việc của bạn, Giấy tờ hứa cho đất viết tay đã bị thất lạc và hiện tại dì bạn là người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ). Về mặt pháp lý, người đứng tên trên sổ đỏ có đầy đủ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với thửa đất đó.
Việc dì bạn tự ý sang tên sổ đỏ cho con của dì hoặc hứa cho gia đình bạn nhưng không thực hiện bằng văn bản công chứng hợp pháp thì gia đình bạn rất khó đòi lại đất nếu dì không tự nguyện.
Khi Tòa án đã thụ lý vụ án và yêu cầu lập biên bản trả sổ đỏ cho dì, đồng thời yêu cầu rút đơn: Nếu gia đình bạn đồng ý rút đơn khởi kiện, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Khi đó, gia đình bạn sẽ không thể lấy lại được sổ đỏ cũng như đất thông qua vụ kiện này.
Khuyên bạn: Nếu không có chứng cứ chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp hoặc giao dịch tặng cho đã hoàn thành, việc rút đơn là phương án giải quyết vụ án. Ngược lại, nếu có căn cứ chứng minh công sức đóng góp, cải tạo đất từ năm 1996 đến nay, gia đình bạn có quyền yêu cầu Tòa án xem xét xét xử để bảo vệ phần chi phí/công sức đã đầu tư trên đất.
3. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn chi tiết.
Nếu bạn cần luật sư giúp đỡ, hãy liên hệ ngay với:
Luật sư Ngô Đình Nhiên – Cộng sự cấp cao tại Hãng Luật Chân Thiện Mỹ – Thuộc Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh
Gọi ngay/Zalo: 0919.183.001
Email: luatsungodinhnhien@gmail.com
Địa chỉ văn phòng: Số 94 Nguyễn Hữu Tiến, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh
-----------------------------------------------------------------------------------------
Đừng để vấn đề pháp lý làm bạn lo lắng – Với sự am hiểu pháp luật chuyên sâu, có kinh nghiệm thực tiễn nhiều năm, Luật sư Nhiên sẽ có giải pháp toàn diện, được việc và đồng hành cùng bạn!
------------------------------------------------------------------------------------------
Luật sư Ngô Đình Nhiên .
Chào bạn.
Thứ nhất, về việc đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ)
Sổ đỏ là văn bản pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp để xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp.
Khoản 1 Điều 135 Luật Đất đai 2024 quy định
“Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được cấp theo từng thửa đất cho người có quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất có nhu cầu và đủ điều kiện theo quy định của Luật này. Trường hợp người sử dụng đất đang sử dụng nhiều thửa đất nông nghiệp tại cùng 01 xã, phường, thị trấn mà có yêu cầu thì được cấp 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất chung cho các thửa đất đó.”
Tuy nhiên, Giấy chứng nhận không phải là căn cứ duy nhất để Tòa án xem xét tranh chấp. Nếu phía dì bạn có tài liệu, người làm chứng hoặc chứng cứ khác chứng minh cha bạn đã tặng cho quyền sử dụng đất thì Tòa án vẫn phải xem xét toàn bộ quá trình sử dụng đất và giao dịch giữa các bên.
Thứ hai, về quyền lợi đối với tài sản gắn liền với đất (nhà ở, hoa lợi) và quyền sử dụng đất
Mặc dù cha bạn không phải là chủ sở hữu quyền sử dụng đất trên Sổ đỏ, nhưng gia đình bạn đã ở, xây dựng nhà cửa và trồng hoa lợi ổn định từ năm 1996 đến nay ( khoảng 20 năm).
Trường hợp đất cho ở nhờ/cho mượn
Căn cứ khoản 3 Điều 496 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ của bên mượn tài sản
“Trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; nếu không có thỏa thuận về thời hạn trả lại tài sản thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay sau khi mục đích mượn đã đạt được.”
Theo đó, khi chủ sở hữu đòi lại đất cho ở nhờ, cha bạn có nghĩa vụ trả lại đất.
Tuy nhiên, cha bạn có quyền yêu cầu thanh toán/bồi thường giá trị công sức quản lý, tôn tạo đất và giá trị tài sản đã đầu tư xây dựng trên đất (nhà ở, công trình, cây trồng) nếu việc xây dựng, trồng trọt trước đây được sự đồng ý hoặc không bị phản đối.
Căn cứ khoản 2 Điều Điều 497 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền của bên mượn tài sản
“Yêu cầu bên cho mượn thanh toán chi phí hợp lý về việc sửa chữa hoặc làm tăng giá trị tài sản mượn, nếu có thỏa thuận.”
Trường hợp có căn cứ về việc tặng cho/chuyển nhượng (dù giấy tờ bị mất): Nếu có người làm chứng hoặc các chứng cứ khác chứng minh việc người dì đã cho đất, cha bạn có thể trình bày với Tòa án để xem xét công nhận hạn mức/diện tích đất đã cho.
Thứ ba, hướng xử lý khi Tòa án đang thụ lý vụ án
Khi con của người dì rút đơn kiện hoặc Tòa án yêu cầu lập biên bản trả sổ đỏ, để bảo vệ quyền lợi của cha bạn về đất và tài sản trên đất, cha bạn nên:
Yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của việc đòi lại đất cho ở nhờ: Yêu cầu phía con người dì phải bồi thường/hoàn trả giá trị nhà ở, công trình xây dựng và hoa lợi trên đất mà cha bạn đã đầu tư từ năm 1996 đến nay.
Hoặc nộp đơn khởi kiện độc lập hoặc yêu cầu phản tố: Nếu cha bạn có căn cứ chứng minh đất được cho/tặng hoặc có công sức đóng góp lớn trong việc giữ gìn, làm tăng giá trị đất, cha bạn có quyền làm Đơn yêu cầu phản tố gửi Tòa án đang thụ lý vụ án để xem xét giải quyết đồng thời trong cùng một vụ án.
Bạn muốn tư vấn cụ thể hãy liên hệ trực tiếp với Luật sư trình bày sự việc cụ thể. Số điện thoại Luật sư 0919.989.876 (Luật sư Tuấn Anh).
Luật sư chờ phản hồi từ bạn.
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình:
Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp với luật sư qua số điện thoại 091 998 9876
- Luật sư tư vấn miễn phí;
- Luật sư tư vấn hướng giải quyết, nhận định pháp lý;
- Phí dịch vụ luật sư công khai, minh bạch.
NHẤN ĐỂ GỌI LUẬT SƯ: 091 998 9876
- Địa chỉ: Số 203 Cộng Hoà, phường Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Điện thoại: 091 998 9876
- Website: https://luậtsư.net/
Luật sư Lê Tuấn Anh.
Lĩnh vực Đất đai
Không thể tìm thấy những gì bạn đang tìm kiếm?
Gửi một câu hỏi miễn phí trên diễn đàn công cộng của chúng tôi. Đặt một câu hỏi
Đặt câu hỏi- hoặc -
Tìm kiếm luật sư bằng cách đánh giá và xếp hạng..
Tìm kiếm luật sư

