Hành vi đăng bài bôi nhọ, xúc phạm cá nhân, tập thể, phát tán tin nhắn nội bộ và tự ý quay video/ghi âm trái phép là những hành vi vi phạm pháp luật
Một cá nhân đăng tải bài viết công khai bôi nhọ, xúc phạm một cá nhân và tập thể, công ty đó. Đăng tin nhắn trong group nội bộ, tự ý quay video/ghi âm, thì xử phạt như thế nào, có kiện được, kiện thì cần bằng chứng gì (tài khoản đăng bài là tài khoản ảo/phụ, không nhắc đích danh tên, nhưng có bình luận chỉ định ám thị về công ty) Phí lập vi bằng, khởi kiện cá nhân đó giao động như thế nào
3 Luật sư trả lời
Chào bạn, vui lòng liên hệ với Luật sư theo số điện thoại 0965912929 để được tư vấn nhé.
Luật sư Lê Văn Quang.
Chào bạn,
Theo như thông tin mà bạn cung cấp, thì tùy trường hợp thực tế đã xảy ra mà người có hành vi chửi bới xúc phạm người khác, công ty có thể bị xử phạt hành chính theo Nghi định 144/2021/NĐ-CP của Chính Phủ hoặc thậm chí là bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "Làm nhục người khác" theo quy định tại Điều 155 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi ở đây là bạn phải thu thập chứng cứ theo đúng trình tự luật định.
Tại Điều 86 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về chứng cứ: "Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án"
Nguồn chứng cứ quy định Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự:
"1. Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn:
a) Vật chứng;
b) Lời khai, lời trình bày;
c) Dữ liệu điện tử;
d) Kết luận giám định, định giá tài sản;
đ) Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;
e) Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;
g) Các tài liệu, đồ vật khác.
2. Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự."
Về xác định chứng cứ, Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự quy định cụ thể như sau:
"1. Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận.
2. Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.
3. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
4. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc.
5. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa.
6. Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
7. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
8. Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
9. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
10. Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
11. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định."
Bạn tham khảo và tiến hành thu thập chứng cứ theo đúng trình tự luật định. Nếu trong quá trình đó có khó khăn, vướng mắc...vui lòng gọi Luật sư theo số điện thoại 0919.989.876 (Luật sư Tuấn Anh) để được tư vấn và hướng dẫn cụ thể, cho tiết.
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình:
Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp với luật sư qua số điện thoại 0919 98 9876
- Luật sư tư vấn miễn phí;
- Luật sư tư vấn hướng giải quyết, nhận định pháp lý;
- Phí dịch vụ luật sư công khai, minh bạch.
NHẤN ĐỂ GỌI LUẬT SƯ: 0919 98 9876
- Địa chỉ: Số 203 Cộng Hoà, phường Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Điện thoại: 0919 989 876
- Website: https://luậtsư.net/
Luật sư Lê Tuấn Anh.
Chào
bạn,
Căn
cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:
Thứ nhất, Bài viết không nêu đích danh vẫn có
thể bị xử lý
Điều 34 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định danh dự, nhân phẩm,
uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm. Người bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu: Gỡ
bỏ thông tin; Bác bỏ, cải chính công khai; Xin lỗi công khai; Bồi
thường thiệt hại.
Việc tài khoản không ghi rõ tên cá nhân hoặc công ty không đồng
nghĩa với việc người đăng được miễn trách nhiệm. Nếu căn cứ vào nội dung bài viết,
hình ảnh, thời gian, sự việc được nhắc đến, bình luận dưới bài hoặc các thông
tin nhận diện khác mà người đọc có thể xác định đối tượng bị nói đến là ai thì
vẫn có cơ sở xem xét hành vi xâm phạm.
Ngược lại, nếu nội dung chỉ là ý kiến đánh giá, phản ánh sự
việc có thật, không sử dụng từ ngữ lăng mạ và không tiết lộ thông tin riêng tư
thì chưa thể mặc nhiên coi là “bôi nhọ” hoặc “vu khống”. Đối với tội vu khống,
cần chứng minh người đăng đã bịa đặt hoặc biết rõ thông tin là sai sự thật
nhưng vẫn phát tán.
Đối với công ty, pháp luật xử phạt hành chính bảo vệ trực tiếp
“uy tín của cơ quan, tổ chức”. Công ty có thể yêu cầu chấm dứt hành vi, gỡ bỏ,
cải chính và bồi thường những thiệt hại thực tế chứng minh được. Nếu chỉ nói đến
một “tập thể” không có tư cách pháp nhân thì từng cá nhân bị ảnh hưởng cần xác
định quyền, lợi ích của chính mình bị xâm phạm để yêu cầu xử lý.
Căn cứ: Điều 11, Điều 13, Điều 34, Điều 584 và Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thứ hai, về
việc đăng
tin nhắn trong nhóm nội bộ:
Việc đăng tin nhắn nội bộ bị coi là vi phạm khi nội dung được
công khai thuộc một trong các trường hợp như:
-
Chứa thông tin về đời sống riêng tư,
bí mật cá nhân hoặc bí mật gia đình;
-
Chứa dữ liệu cá nhân như họ tên, số
điện thoại, hình ảnh, giọng nói, thông tin tài khoản hoặc thông tin nhận diện
khác;
-
Chứa bí mật kinh doanh, bí mật công
nghệ hoặc thông tin mà người đăng có nghĩa vụ bảo mật theo hợp đồng, nội quy,
thỏa thuận bảo mật;
-
Bị cắt ghép, xuyên tạc hoặc sử dụng
sai bối cảnh để xúc phạm, bôi nhọ người khác.
Theo Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc thu thập, lưu giữ,
sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải
được người đó đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác. Luật Bảo vệ dữ liệu
cá nhân năm 2025 cũng xác định chủ thể dữ liệu có quyền
đồng ý hoặc không đồng ý, yêu cầu hạn chế, xóa dữ liệu, khiếu nại, tố cáo, khởi
kiện và yêu cầu bồi thường.
Tuy nhiên, việc một tin nhắn nằm trong nhóm nội bộ không
đương nhiên biến toàn bộ nội dung thành “bí mật”. Cần xem xét tính chất của
nhóm, quy định bảo mật, người được phép tiếp cận và nội dung cụ thể đã bị phát
tán.
Thứ ba, việc tự ý quay video, ghi âm
Không phải mọi trường hợp ghi âm, ghi hình khi chưa được người
khác đồng ý đều đương nhiên bị cấm. Tuy nhiên, tính hợp pháp phải được xem xét
căn cứ vào địa điểm, hoàn cảnh, mục đích, phạm vi ghi âm, ghi hình và cách thức
sử dụng bản ghi sau đó.
Điểm a khoản 1 Điều 19 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025
quy định một trong những trường hợp xử lý dữ liệu cá nhân không cần sự đồng ý của
chủ thể dữ liệu là:
“Để bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền, lợi
ích hợp pháp của chủ thể dữ liệu cá nhân hoặc người khác trong trường hợp cấp
bách; bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi
ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức một cách cần thiết trước hành vi xâm phạm
lợi ích nói trên.”
Do đó, nếu một người ghi âm, ghi hình nhằm lưu giữ chứng cứ về
hành vi đang xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình và việc ghi nhận là cần
thiết, tương xứng với mục đích bảo vệ quyền lợi thì có thể thuộc trường hợp xử
lý dữ liệu không cần sự đồng ý theo Điều 19. Việc lưu giữ và cung cấp bản ghi
cho Công an, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền để giải quyết vụ việc có cơ sở
được xem xét khác với việc đăng tải công khai bản ghi lên mạng xã hội.
Đối với việc ghi âm, ghi hình tại nơi công cộng hoặc trong hoạt
động công cộng, căn cứ áp dụng là Điều 32 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025.
Khoản 1 Điều 32 cho phép cơ quan, tổ chức, cá nhân ghi âm,
ghi hình và xử lý dữ liệu thu được mà không cần sự đồng ý trong các trường hợp
phục vụ quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; hoặc ghi nhận âm thanh, hình ảnh từ hội nghị,
hội thảo, thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà
không làm tổn hại danh dự, nhân phẩm, uy tín của chủ thể dữ liệu.
Tuy nhiên, khoản 2 Điều 32 yêu cầu người ghi âm, ghi hình phải
thông báo hoặc có hình thức thông tin khác để chủ thể dữ liệu biết mình đang bị
ghi âm, ghi hình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Khoản 3 Điều này
còn yêu cầu dữ liệu thu được chỉ được xử lý, sử dụng phù hợp với mục đích đã
xác định và không được sử dụng để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị
ghi nhận.
è Như
vậy, việc được ghi âm, ghi hình không đồng nghĩa với việc được tự do phát tán bản
ghi.
Việc có vi phạm hay không phải được đánh giá trên chứng cứ cụ
thể; không thể chỉ căn cứ vào việc người ghi âm, ghi hình có thông báo trước
hay không.
Thứ tư, người đăng bài có thể bị phạt hành chính:
Nếu hành vi xảy ra hoặc vẫn tiếp diễn từ ngày 01/7/2026, áp dụng
Nghị định số 174/2026/NĐ-CP.
Căn cứ cụ thể:
-
Điểm a khoản 1 Điều 95 Nghị định số
174/2026/NĐ-CP quy định mức phạt từ 20–30 triệu đồng đối với hành vi lợi dụng mạng
xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc,
vu khống hoặc xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá
nhân.
-
Điểm b và điểm c khoản 2 Điều 95 quy
định mức phạt từ 30–50 triệu đồng đối với hành vi tiết lộ bí mật đời tư, bí mật
khác hoặc chia sẻ thông tin sai sự thật gây thiệt hại, xâm phạm quyền và lợi
ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
-
Các điểm e, g, m và q khoản 3 Điều 96
quy định mức phạt từ 10–20 triệu đồng đối với các hành vi thu thập, xử lý, sử dụng
thông tin không được đồng ý hoặc sai mục đích; truyền đưa thông tin nhằm xuyên
tạc, vu khống, xúc phạm; tiết lộ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia
đình; nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật.
-
Khoản 3 Điều 4 quy định cá nhân thực
hiện cùng hành vi thì bị phạt bằng một nửa mức phạt đối với tổ chức.
Ngoài tiền phạt, khoản 3 Điều 95 còn quy định:
-
Buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật, gây
nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật đối với hành vi thuộc khoản 1 và khoản
2 Điều này;
-
Buộc khóa tài khoản, trang cộng đồng,
nhóm cộng đồng hoặc kênh nội dung nếu hành vi thuộc khoản 2 Điều này.
Việc áp dụng điểm a khoản 1 hay điểm c khoản 2 Điều 95 phụ
thuộc vào nội dung, tính chất và hậu quả của bài đăng. Không nên mặc nhiên cộng
đồng thời hai mức phạt cho cùng một hành vi. Nếu có nhiều hành vi độc lập, cơ
quan có thẩm quyền sẽ phân loại và xử lý từng hành vi theo nguyên tắc một hành
vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần.
Riêng việc ghi âm, chỉ có căn cứ áp dụng điểm q khoản 3 Điều
96 khi xác định đó là hành vi “nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật”. Việc
một người tham gia cuộc trao đổi tự ghi âm để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc
giao nộp cho cơ quan có thẩm quyền không mặc nhiên thuộc trường hợp này.
Thứ năm, có thể khởi kiện dân sự không?
Bạn có quyền khởi kiện khi xác định được người thực tế quản
lý, sử dụng tài khoản và có tài liệu chứng minh hành vi xâm phạm. Các yêu cầu
có thể gồm: Buộc chấm dứt hành vi và gỡ bỏ toàn bộ bài viết, hình ảnh,
video, tin nhắn; Buộc cải chính và xin lỗi công khai
trên chính tài khoản hoặc phương tiện đã đăng tải; Yêu
cầu Tòa án bác bỏ, tuyên bố thông tin là không đúng; Bồi
thường chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; Bồi
thường thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút; Bồi thường tổn thất tinh thần.
Theo khoản 2 Điều 592 Bộ luật Dân sự, nếu các bên không thỏa
thuận được thì khoản bồi thường tổn thất tinh thần tối đa là 10 lần mức lương
cơ sở cho một người bị xâm phạm. Từ ngày 01/7/2026, mức lương cơ sở là
2.530.000 đồng/tháng. Khoản này không bao gồm những thiệt hại vật chất, thu nhập
bị mất và chi phí khắc phục có chứng cứ hợp lệ.
Đối với công ty, trọng tâm là chứng minh tổn thất thực tế như
chi phí xử lý khủng hoảng, hợp đồng bị hủy, doanh thu bị giảm, khách hàng rời bỏ
và mối quan hệ nhân quả giữa bài đăng với thiệt hại đó.
Trường hợp chưa xác định được người đứng sau tài khoản, cá
nhân bị ảnh hưởng có thể căn cứ khoản 4 Điều 34 Bộ luật Dân sự yêu cầu Tòa án
tuyên bố thông tin là không đúng. Tuy nhiên, để yêu cầu một người cụ thể bồi
thường thì vẫn cần xác định được danh tính và địa chỉ của người đó.
Thứ sáu, trường hợp nào có thể bị xử lý hình sự:
Nếu mức độ nghiêm trọng, người đăng có thể bị xem xét về:
-
Tội làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự: phải
có hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của một người cụ thể.
-
Tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự: có
hành vi bịa đặt hoặc biết rõ thông tin là sai sự thật nhưng vẫn loan truyền nhằm
xúc phạm nghiêm trọng hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người
khác.
Các tội danh trên bảo vệ danh dự, nhân phẩm của con người cụ
thể. Vì vậy, nếu bài đăng chỉ ảnh hưởng đến công ty như một pháp nhân thì hướng
xử phạt hành chính và khởi kiện dân sự thường phù hợp hơn; nếu giám đốc, nhân
viên hoặc thành viên cụ thể đồng thời bị ám chỉ, xúc phạm thì những cá nhân đó
có thể đề nghị xem xét trách nhiệm hình sự.
Thứ bảy, tài
liệu chứng cứ chứng minh:
1.
Lưu
đường dẫn bài viết, đường dẫn trang cá nhân, tên và mã định danh tài khoản; chụp
toàn bộ bài đăng, bình luận, lượt chia sẻ và chế độ công khai.
2.
Quay
màn hình từ lúc mở trình duyệt, truy cập tài khoản, mở bài viết cho đến khi thể
hiện đầy đủ nội dung. Không chỉ lưu ảnh chụp rời rạc.
3.
Lưu
bản gốc video, file ghi âm, tin nhắn; không chỉnh sửa, cắt ghép hoặc ghi đè
file. Lập văn bản trình bày nguồn gốc, thời gian, thiết bị và người thực hiện
việc ghi âm, ghi hình.
4.
Thu
thập chứng cứ cho thấy người đọc nhận ra cá nhân hoặc công ty bị ám chỉ, chẳng
hạn bình luận gọi tên công ty, tin nhắn khách hàng hỏi về bài viết, lời xác nhận
của người làm chứng.
5.
Thu
thập tài liệu chứng minh nội dung đăng tải là sai: hợp đồng, email, biên bản
làm việc, dữ liệu giao dịch, camera, người làm chứng và các tài liệu khách quan
khác.
6.
Chứng
minh chủ tài khoản: tin nhắn thừa nhận, số điện thoại, email liên kết, cách
xưng hô, thông tin giao dịch hoặc các dấu hiệu cho thấy tài khoản do người bị
nghi ngờ quản lý. Thông tin IP, thuê bao và dữ liệu đăng nhập thường phải do
Công an hoặc Tòa án yêu cầu nền tảng cung cấp.
7.
Lưu
chứng cứ thiệt hại như hợp đồng bị hủy, doanh thu giảm, chi phí xử lý truyền
thông, chi phí khám và điều trị tâm lý, thu nhập bị mất.
Theo Điều 94 và Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự, tài liệu nghe
được, nhìn được và dữ liệu điện tử có thể là nguồn chứng cứ; bản ghi âm, ghi
hình cần kèm văn bản trình bày về xuất xứ.
Thứ tám, về
việc có nên lập vi
bằng không và chi phí:
Theo Điều 26 và Điều 27 Nghị định số 151/2026/NĐ-CP, vi bằng
là nguồn chứng cứ để Tòa án và cơ quan có thẩm quyền xem xét. Tuy nhiên, vi bằng
chỉ chứng minh tại thời điểm lập có tồn tại bài viết, bình luận hoặc tài khoản
đó; vi bằng không tự chứng minh nội dung là sai và cũng không mặc nhiên xác định
ai là người đứng sau tài khoản.
Điều 54 Nghị định này không quy định mức phí cố định mà cho
phép người yêu cầu và Văn phòng thi hành án dân sự thỏa thuận.
Thứ chín,
về chi
phí nếu khởi kiện ra cơ quan nhà nước có thẩm quyền:
- Án phí:
Theo điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, người yêu cầu bồi
thường về danh dự, nhân phẩm, uy tín được miễn tiền tạm ứng án phí và án phí.
Các yêu cầu độc lập khác hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại kinh tế của công ty
sẽ được Tòa án xác định cụ thể theo tính chất và giá trị tranh chấp.
- Phí luật sư:
Pháp luật không có biểu phí bắt buộc; mức phí do khách hàng và tổ chức hành nghề
luật sư thỏa thuận.
-
Chi phí khác: Lập vi bằng, sao chụp, dịch thuật,
giám định file điện tử, đi lại và chi phí thu thập chứng cứ nếu phát sinh.
Để tư vấn chính xác hơn, bạn cần làm rõ: nội dung và đường dẫn
bài viết; những chi tiết nào khiến người đọc nhận ra cá nhân, công ty; tin nhắn
nội bộ chứa thông tin gì; video, ghi âm được thực hiện ở đâu và trong hoàn cảnh
nào; bạn có nghi ngờ cụ thể ai là người đứng sau tài khoản hay không; bài đăng
đã gây ra thiệt hại hoặc hậu quả thực tế nào.
Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo
thông tin dưới đây:
Công
ty Luật TNHH T2H
Trụ
sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội
VP
giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội
Tel:
02422429900 – 0989656682
E-mail:
huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn
Trân
trọng!
Luật sư Lê Thị Thu Hương.
Không thể tìm thấy những gì bạn đang tìm kiếm?
Gửi một câu hỏi miễn phí trên diễn đàn công cộng của chúng tôi. Đặt một câu hỏi
Đặt câu hỏi- hoặc -
Tìm kiếm luật sư bằng cách đánh giá và xếp hạng..
Tìm kiếm luật sư


