iLAW
iLAW
  • Tìm luật sư
    • Tư vấn pháp luật
      • Bài viết pháp luật
        • Câu hỏi pháp luật
          • Biểu mẫu
          • Dịch vụ pháp lý
          • Đặt câu hỏi miễn phí
          • Đăng nhập
          DetailFaq
          1. Q&A
          2. Lao động   
          3. Nội dung về Luật tố cáo, Luật viên chức
          29/09/2026

          Nội dung về Luật tố cáo, Luật viên chức

          Một giảng viên sau khi gời đơn kiến nghị vế chuyên môn tại Trường nhưng không được giải quyết, sau đó gởi đến cơ quan có thẩm quyền ở Sở, Ủy ban (Trường trực thuộc Ủy ban). Sau đó một số nội dung được nâng lên và giảng viên cảm thấy một vài dấu hiệu tiêu cực tại Trường nên đã gởi Đơn tố cáo đến Ủy ban, Thanh tra TP. Sau 7 tháng, giảng viên nhận kết quả không thụ lý của Ủy ban. Một tháng sau đó, giảng viên nhận thông báo từ Hiệu trưởng - người bị tố cáo, trong thông báo Hiệu trưởng công khai danh tính người tố cáo, cảnh báo xử lý kỷ luật, cho rằng Ủy ban không thụ lý đồng nghĩa giảng viên cố ý cung cấp sai sự thật (dù trong kết luận Ủy ban không hề có nội dung này và không công khai danh tính), đồng thời trong không báo còn ghi rõ nơi nhận là lưu vào Hồ sơ viên chức của giảng viên. Xin phép được hỏi quý luật sư: 1/ Những nội dung trong Thông báo trên của Hiệu trưởng có vi phạm Luật tố cáo, Luật viên chức không và mức độ sai phạm nếu có là như thế nào 2/ Giảng viên cần phải làm gì để đấu tranh? Trân trọng cảm ơn!


          Đặt câu hỏi
          Luật sư: Nguyễn Cao Trí Ads

          67 nhận xét

          Đánh giá của iLAW:  9.4

          Nhắn tin
          Mức phí
          Hồ sơ

          Gọi

          3 Luật sư trả lời

          Trương Phú Nhân

          Luật sư: Trương Phú Nhân

          38 nhận xét
          0944501512 tel: 0944501512
          Gọi
          Thông tin

            Xin chào chị Nhi Nhi, dựa trên những thông tin chị cung cấp, CÔNG TY LUẬT VKE | VKE CONSULT LAW OFFICE xin giải đáp và tư vấn về vấn đề của chị như sau:

            Nội dungQuy định và hướng xử lý
            1. Không thụ lý tố cáo có đồng nghĩa tố cáo sai sự thật không?Không. Điều 29 Luật Tố cáo 2018 quy định các điều kiện để cơ quan có thẩm quyền thụ lý tố cáo. Việc không thụ lý chỉ thể hiện vụ việc không đáp ứng điều kiện thụ lý theo quy định và lý do cụ thể trong thông báo của cơ quan có thẩm quyền; không mặc nhiên là kết luận người tố cáo cố ý cung cấp thông tin sai sự thật. Muốn xác định người tố cáo có hành vi vi phạm phải có căn cứ và thực hiện theo đúng trình tự pháp luật.
            2. Hiệu trưởng công khai danh tính người tố cáo có đúng không?Luật Tố cáo đặt ra nguyên tắc bảo mật thông tin của người tố cáo. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi tiếp nhận, giải quyết hoặc khai thác, sử dụng thông tin tố cáo phải bảo mật họ tên, địa chỉ, bút tích và thông tin cá nhân khác của người tố cáo. Vì vậy, nếu Hiệu trưởng biết danh tính chị từ quá trình giải quyết tố cáo rồi công khai trái quy định, thì có căn cứ để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kiểm tra hành vi tiết lộ thông tin người tố cáo.
            3. Hiệu trưởng là người bị tố cáo lại cảnh báo kỷ luật người tố cáoViệc viên chức thực hiện quyền tố cáo không phải tự thân là căn cứ kỷ luật. Nếu muốn xử lý kỷ luật, đơn vị phải xác định được hành vi vi phạm cụ thể, căn cứ pháp luật và thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Đặc biệt, pháp luật về tố cáo nghiêm cấm hành vi đe dọa, mua chuộc, trả thù, trù dập người tố cáo. Do đó, nếu việc cảnh báo/xử lý kỷ luật thực chất xuất phát từ việc chị thực hiện quyền tố cáo thì cần được cơ quan cấp trên kiểm tra, làm rõ.
            4. Có được ghi Thông báo vào hồ sơ viên chức không?Cần phân biệt tài liệu quản lý hành chính với quyết định xử lý kỷ luật. Việc ghi nơi nhận “lưu hồ sơ viên chức” không tự biến nội dung trong Thông báo thành kết luận chị vi phạm hoặc quyết định kỷ luật. Nếu tài liệu ghi nhận chị “cố ý cung cấp sai sự thật” trong khi cơ quan giải quyết tố cáo không có kết luận như vậy, chị có quyền yêu cầu cơ quan quản lý viên chức kiểm tra căn cứ, đính chính thông tin và bảo đảm hồ sơ viên chức phản ánh đúng tài liệu, sự kiện pháp lý. Luật Viên chức 129/2025/QH15 đã có hiệu lực từ 01/07/2026 và hiện là luật điều chỉnh trực tiếp về viên chức.
            5. Giảng viên nên làm gì?Chị nên gửi văn bản kiến nghị/yêu cầu xem xét đến cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của Trường (theo thông tin chị cung cấp là Trường trực thuộc UBND thì cần xác định cụ thể cơ quan/người có thẩm quyền quản lý Hiệu trưởng), đồng thời gửi cơ quan đã giải quyết tố cáo khi cần thiết. Văn bản nên yêu cầu làm rõ: (i) căn cứ công khai danh tính người tố cáo; (ii) căn cứ cho rằng “không thụ lý = cố ý cung cấp sai sự thật”; (iii) căn cứ cảnh báo kỷ luật; (iv) căn cứ đưa Thông báo vào hồ sơ viên chức; và (v) xem xét dấu hiệu trả thù, trù dập nếu có.
            6. Có thể yêu cầu bảo vệ không?Có, nếu có căn cứ cho rằng vị trí công tác, quyền và lợi ích hợp pháp của chị đang bị hoặc có nguy cơ bị xâm phạm do việc tố cáo. Luật Tố cáo có cơ chế bảo vệ người tố cáo; riêng việc bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo là viên chức còn được hướng dẫn tại Thông tư 03/2020/TT-BNV, hiện được Cơ sở dữ liệu quốc gia về VBQPPL ghi nhận còn hiệu lực.

            ➡️ Kết luận: Với thông tin chị cung cấp, có 03 vấn đề cần yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kiểm tra ngay:

            Thứ nhất, việc UBND không thụ lý đơn tố cáo không đồng nghĩa chị cố ý tố cáo sai sự thật. Nếu Thông báo của UBND không có kết luận chị cố ý cung cấp thông tin sai sự thật thì Hiệu trưởng không nên tự suy diễn kết quả không thụ lý thành một kết luận vi phạm đối với chị.

            Thứ hai, nếu danh tính người tố cáo có được từ hồ sơ/quá trình giải quyết tố cáo và bị công khai trái quy định, cần xem xét trách nhiệm liên quan đến nghĩa vụ bảo mật thông tin người tố cáo theo Luật Tố cáo.

            Thứ ba, việc cảnh báo kỷ luật hoặc tạo bất lợi về công tác chỉ vì viên chức thực hiện quyền tố cáo là vấn đề cần đặc biệt xem xét dưới góc độ quy định cấm trả thù, trù dập người tố cáo. Tuy nhiên, để kết luận chính xác Hiệu trưởng đã vi phạm và mức độ xử lý đến đâu, cần căn cứ vào nguyên văn Thông báo của Hiệu trưởng, Thông báo không thụ lý của UBND, phạm vi người được nhận Thông báo và chứng cứ về hậu quả đối với vị trí công tác của chị.

            Hướng xử lý phù hợp: Chị nên giữ nguyên bản toàn bộ đơn tố cáo, phiếu tiếp nhận, Thông báo không thụ lý của UBND và Thông báo của Hiệu trưởng; sau đó làm văn bản yêu cầu cơ quan cấp trên có thẩm quyền kiểm tra, xử lý, trong đó trích nguyên văn phần Hiệu trưởng công khai danh tính, quy kết “cố ý cung cấp sai sự thật”, cảnh báo kỷ luật và yêu cầu lưu hồ sơ viên chức. Nếu đã xuất hiện dấu hiệu gây bất lợi về vị trí việc làm, đánh giá viên chức, thi đua, kỷ luật hoặc quyền lợi nghề nghiệp do việc tố cáo, chị có thể đồng thời đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo theo quy định.

            ━━━━━━━━━━━━━━━━━━
            ℹ️ Thông tin này được biên soạn nhằm mục đích phổ biến kiến thức pháp luật và chỉ mang tính chất tham khảo.
            🚫 Nội dung không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý cho từng vụ việc cụ thể. Việc áp dụng quy định pháp luật có thể khác nhau tùy theo hồ sơ, tình tiết thực tế và các văn bản pháp luật hiện hành tại thời điểm áp dụng.
            ━━━━━━━━━━━━━━━━━━
            🏢 CÔNG TY LUẬT VKE | VKE CONSULT LAW OFFICE
            📞 Zalo | WhatsApp: 0944 501 512
            📍 Địa chỉ: Tầng 6, Tòa nhà VVA, 279 Lý Tự Trọng, P. Bến Thành, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh

            Luật sư Trương Phú Nhân.

            Lê Thị Thu Hương

            Luật sư: Lê Thị Thu Hương

            0 nhận xét
            989656682 tel: 989656682
            Gọi
            Thông tin

              Chào bạn,

              Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, tôi tư vấn cho bạn như sau:

              Đầu tiên, cần tách riêng vấn đề không thụ lý đơn tố cáo với vấn đề xác định người tố cáo cố ý tố cáo sai sự thật. Đây là hai vấn đề pháp lý khác nhau. Cụ thể:

              1. “Không thụ lý tố cáo” không đồng nghĩa với “cố ý tố cáo sai sự thật”

              Điều 29. Thụ lý tố cáo

              1. Người giải quyết tố cáo ra quyết định thụ lý tố cáo khi có đủ các điều kiện sau đây:

              a) Tố cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 23 của Luật này;

              b) Người tố cáo có đủ năng lực hành vi dân sự; trường hợp không có đủ năng lực hành vi dân sự thì phải có người đại diện theo quy định của pháp luật;

              c) Vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tố cáo;

              d) Nội dung tố cáo có cơ sở để xác định người vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật.

              Trường hợp tố cáo xuất phát từ vụ việc khiếu nại đã được giải quyết đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng người khiếu nại không đồng ý mà chuyển sang tố cáo người đã giải quyết khiếu nại thì chỉ thụ lý tố cáo khi người tố cáo cung cấp được thông tin, tài liệu, chứng cứ để xác định người giải quyết khiếu nại có hành vi vi phạm pháp luật.

              Theo Điều 29 Luật Tố cáo, một tố cáo chỉ được thụ lý khi đáp ứng các điều kiện về hình thức, năng lực của người tố cáo, thẩm quyền giải quyết và đặc biệt là nội dung tố cáo phải có cơ sở để xác định người vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy, việc không thụ lý có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân về thẩm quyền, hình thức hoặc điều kiện ban đầu của hồ sơ, chứ không phải là kết luận về tính đúng, sai của nội dung tố cáo.

              Điều 35. Kết luận nội dung tố cáo

              1. Căn cứ vào nội dung tố cáo, giải trình của người bị tố cáo, kết quả xác minh nội dung tố cáo, tài liệu, chứng cứ có liên quan, người giải quyết tố cáo ban hành kết luận nội dung tố cáo.

              2. Kết luận nội dung tố cáo phải có các nội dung chính sau đây:

              a) Kết quả xác minh nội dung tố cáo;

              b) Căn cứ pháp luật để xác định có hay không có hành vi vi phạm pháp luật;

              c) Kết luận về nội dung tố cáo là đúng, đúng một phần hoặc tố cáo sai sự thật; xác định trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến nội dung tố cáo;

              Điều 36. Việc xử lý kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo

              1. Chậm nhất là 07 ngày làm việc kể từ ngày ban hành kết luận nội dung tố cáo, người giải quyết tố cáo căn cứ vào kết luận nội dung tố cáo tiến hành việc xử lý như sau:

              a) Trường hợp kết luận người bị tố cáo không vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo bị xâm phạm do việc tố cáo không đúng sự thật gây ra, đồng thời xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người cố ý tố cáo sai sự thật;

              b) Trường hợp kết luận người bị tố cáo vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì áp dụng biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

              Ngược lại, theo Điều 35 Luật Tố cáo, chỉ sau quá trình giải quyết, xác minh thì cơ quan có thẩm quyền mới ban hành kết luận nội dung tố cáo, trong đó phải xác định nội dung tố cáo là đúng, đúng một phần hoặc sai sự thật. Điều 36 tiếp tục phân biệt trường hợp tố cáo không đúng với trường hợp “cố ý tố cáo sai sự thật” để xem xét xử lý người tố cáo.

              Điều 7. Sửa đổi, bổ sung Điều 23 như sau:

              “Điều 23. Xử lý kỷ luật đối với người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức

              1. Hình thức kỷ luật khiển trách áp dụng đối với người tố cáo khi có một trong các hành vi sau:

              a) Biết rõ việc tố cáo là không đúng sự thật nhưng vẫn tố cáo;

              b) Biết vụ việc đã được cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết đúng chính sách, pháp luật nhưng vẫn tố cáo mà không có bằng chứng chứng minh nội dung tố cáo;

              c) Lôi kéo, kích động, dụ dỗ người khác tố cáo sai sự thật.

              Theo Điều 23 Nghị định 31/2019/NĐ-CP, đã được sửa đổi bởi Nghị định 156/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, quy định viên chức là người tố cáo chỉ có thể bị khiển trách trong trường hợp, chẳng hạn, biết rõ việc tố cáo là không đúng sự thật nhưng vẫn tố cáo. Như vậy phải chứng minh được yếu tố “biết rõ” và vẫn cố ý thực hiện, chứ không thể chỉ căn cứ vào việc cơ quan nhà nước không thụ lý đơn.

              2. Việc công khai danh tính người tố cáo có dấu hiệu vi phạm quy định về bảo mật người tố cáo

              Khoản 3 Điều 8 Luật Tố cáo nghiêm cấm hành vi:

              “Tiết lộ họ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và thông tin khác làm lộ danh tính của người tố cáo.”

              Luật cũng nghiêm cấm hành vi cản trở, gây khó khăn, đe dọa, trả thù, trù dập người tố cáo.

              Vì vậy, nếu Hiệu trưởng đã đưa họ tên hoặc các thông tin đủ để xác định người tố cáo vào một thông báo được phổ biến cho nhiều cá nhân, bộ phận trong Trường thì có dấu hiệu xâm phạm yêu cầu bảo mật danh tính người tố cáo.

              Tuy nhiên, để xác định chính xác trách nhiệm và hình thức xử lý cần làm rõ thêm ai là người làm lộ thông tin từ hồ sơ tố cáo. Nếu người làm lộ danh tính thuộc nhóm người giải quyết tố cáo, người xác minh hoặc người tiếp nhận tố cáo thì Điều 22 Nghị định 31/2019/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 156/2026/NĐ-CP, quy định hành vi tiết lộ thông tin làm lộ danh tính người tố cáo có thể bị xử lý kỷ luật ở mức cảnh cáo, trừ trường hợp người tố cáo từ chối biện pháp bảo vệ bí mật thông tin.

              Nếu Hiệu trưởng chỉ là người bị tố cáo, không đồng thời là người tiếp nhận, xác minh hoặc giải quyết tố cáo, thì khi đó cần xem xét nguồn thông tin bị lộ, hành vi sử dụng và công khai thông tin của Hiệu trưởng, cũng như có hay không dấu hiệu đe dọa, trả thù hoặc trù dập người tố cáo để xác định trách nhiệm tương ứng.

              3. Về việc cảnh báo sẽ xử lý kỷ luật người giảng viên

              Từ ngày 01/7/2026, việc xử lý kỷ luật viên chức được thực hiện theo Nghị định 234/2026/NĐ-CP. Việc kỷ luật phải bảo đảm khách quan, công bằng, chính xác, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và phải căn cứ vào hành vi vi phạm cụ thể, tính chất, mức độ, hậu quả, động cơ và các tình tiết có liên quan.

              Vì vậy, nếu Hiệu trưởng chỉ dựa vào việc UBND “không thụ lý đơn tố cáo” để cho rằng giảng viên cố ý cung cấp thông tin sai sự thật và từ đó cảnh báo xử lý kỷ luật thì căn cứ này là chưa phù hợp.

              Một “Thông báo” của Hiệu trưởng cũng không đương nhiên là quyết định xử lý kỷ luật. Nếu Nhà trường tiến hành kỷ luật, người giảng viên có quyền yêu cầu xác định rõ:

              • hành vi vi phạm cụ thể là gì;
              • căn cứ pháp luật nào xác định hành vi đó là vi phạm;
              • tài liệu nào chứng minh người giảng viên “biết rõ thông tin là sai nhưng vẫn tố cáo”;
              • thẩm quyền, trình tự và thủ tục xử lý kỷ luật đã được thực hiện đúng hay chưa.

              4. Về việc đưa Thông báo vào hồ sơ viên chức

              Điều 41 Luật Viên chức số 129/2025/QH15 quy định hồ sơ viên chức phải được quản lý và cập nhật, đồng thời phải “bảo đảm chính xác diễn biến, quá trình công tác của viên chức”.

              Nghị định 234/2026/NĐ-CP cũng quy định các tài liệu liên quan đến việc xử lý kỷ luật và quyết định kỷ luật phải được lưu trong hồ sơ viên chức.

              Do đó, nếu Thông báo ghi người giảng viên “cố ý cung cấp thông tin sai sự thật” như một sự việc đã được cơ quan có thẩm quyền kết luận trong khi UBND chưa hề có kết luận như vậy thì người giảng viên có cơ sở yêu cầu Nhà trường đính chính, thu hồi hoặc không sử dụng nhận định này làm căn cứ đánh giá, xếp loại, kỷ luật hoặc thực hiện các quyết định bất lợi khác đối với viên chức.

              5. Giảng viên có thể thực hiện các việc sau:

              Thứ nhất, lưu giữ toàn bộ chứng cứ chứng minh, gồm đơn tố cáo, giấy tiếp nhận/bưu điện, văn bản không thụ lý của UBND, Thông báo của Hiệu trưởng, danh sách nơi nhận của Thông báo, email/tin nhắn, biên bản họp và tài liệu chứng minh việc Thông báo đã được phổ biến cho những ai.

              Thứ hai, có văn bản yêu cầu UBND/cơ quan đã ra thông báo không thụ lý xác nhận rõ lý do không thụ lý.

              Đồng thời, thời gian 07 tháng mới nhận được kết quả không thụ lý cũng cần kiểm tra. Khoản 1 Điều 24 Luật Tố cáo quy định về nguyên tắc, trong 07 ngày làm việc kể từ khi nhận được tố cáo phải tiến hành xử lý ban đầu, kiểm tra điều kiện thụ lý; trường hợp cần kiểm tra, xác minh tại nhiều nơi thì có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày làm việc; nếu không đủ điều kiện thụ lý phải thông báo ngay và nêu lý do. Vì vậy, nếu thực tế cơ quan nhận đơn và để 07 tháng mới lần đầu thông báo không thụ lý thì cần yêu cầu giải trình quá trình xử lý hồ sơ.

              Thứ ba, gửi văn bản đến Hiệu trưởng/Nhà trường yêu cầu:

              1.     xác định căn cứ nào cho rằng người giảng viên cố ý cung cấp thông tin sai sự thật;

              2.     thu hồi hoặc đính chính nội dung không có căn cứ trong Thông báo;

              3.     chấm dứt việc tiếp tục phổ biến thông tin về danh tính người tố cáo;

              4.     không sử dụng nội dung chưa được cơ quan có thẩm quyền kết luận để đánh giá, xếp loại hoặc xử lý kỷ luật;

              5.     đính chính hoặc cập nhật lại hồ sơ viên chức nếu đã đưa thông tin không chính xác vào hồ sơ.

              Thứ tư, nếu việc cảnh báo kỷ luật, đánh giá viên chức, điều chuyển công tác hoặc các biện pháp bất lợi tiếp tục xảy ra, bạn có thể làm văn bản yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ người tố cáo. Điều 57 Luật Tố cáo cho phép áp dụng các biện pháp như tạm đình chỉ hoặc hủy bỏ quyết định kỷ luật/quyết định xâm phạm quyền lợi, khôi phục vị trí công tác, thu nhập và xử lý người có hành vi trả thù, trù dập, đe dọa người tố cáo.

              Nếu cần tư vấn thêm, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây:

              Công ty Luật TNHH T2H

              Trụ sở: G4-4A, Tập thể 708, xã Ngọc Hồi, thành phố Hà Nội

              VP giao dịch: Số 02, ngõ 115 Chiến Thắng, phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội

              Tel: 02422429900 – 0989656682

              E-mail: huong.le@t2h.vn - contact.t2h@t2h.vn

              Trân trọng!

               

              Luật sư Lê Thị Thu Hương.

              Nguyễn Thanh Hải

              Luật sư: Nguyễn Thanh Hải

              37 nhận xét
              0522385888 tel: 0522385888
              Gọi
              Thông tin

                Chào bạn,

                Vấn đề bạn hỏi luật sư trả lời như sau:

                Theo thông tin bạn cung cấp, cần phân biệt rõ “không thụ lý tố cáo” với “kết luận tố cáo sai sự thật”. Đây là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.

                1. Về việc Hiệu trưởng công khai danh tính người tố cáo

                Khoản 1 Điều 9 Luật Tố cáo 2018 quy định người tố cáo có quyền được bảo đảm bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác. Đồng thời, khoản 3 và khoản 8 Điều 8 Luật này nghiêm cấm việc tiết lộ thông tin làm lộ danh tính, cũng như đe dọa, trả thù, trù dập, xúc phạm người tố cáo.

                Do đó, nếu Hiệu trưởng là người bị tố cáo nhưng đã biết và công khai danh tính người tố cáo trong thông báo gửi trong nội bộ Trường, thì cần xem xét rất nghiêm túc về tính phù hợp với quy định bảo vệ người tố cáo. Đặc biệt, nếu việc công khai nhằm gây áp lực, cảnh báo hoặc gây bất lợi cho người tố cáo thì càng cần được cơ quan có thẩm quyền xem xét.

                2. “Không thụ lý” không đồng nghĩa với “tố cáo sai sự thật”

                Theo Điều 24 và Điều 29 Luật Tố cáo 2018, cơ quan có thẩm quyền có thể không thụ lý khi tố cáo không đủ điều kiện theo luật, chẳng hạn không thuộc thẩm quyền hoặc nội dung chưa có đủ cơ sở để xác định người vi phạm, hành vi vi phạm.

                Việc xác định người tố cáo cố ý tố cáo sai sự thật phải có căn cứ riêng. Luật Tố cáo quy định người tố cáo có nghĩa vụ chịu trách nhiệm về nội dung tố cáo; tuy nhiên, không thể chỉ từ việc “không thụ lý” mà mặc nhiên kết luận người tố cáo cố ý cung cấp thông tin sai sự thật.

                Vì vậy, nếu văn bản của Ủy ban chỉ thông báo không thụ lý mà không có kết luận rằng giảng viên tố cáo sai sự thật, thì việc Hiệu trưởng tự diễn giải “không thụ lý = cố ý cung cấp sai sự thật” là chưa có cơ sở để khẳng định.

                3. Về việc cảnh báo xử lý kỷ luật và đưa văn bản vào hồ sơ viên chức

                Việc một viên chức thực hiện quyền tố cáo theo đúng quy định pháp luật không đương nhiên là hành vi vi phạm kỷ luật.

                Luật Viên chức quy định viên chức được pháp luật bảo vệ trong hoạt động nghề nghiệp; đồng thời việc xử lý kỷ luật phải căn cứ vào hành vi vi phạm, tính chất và mức độ vi phạm, chứ không thể chỉ dựa vào việc viên chức đã gửi đơn tố cáo.

                Đáng lưu ý, Luật Viên chức cũng quy định người có thẩm quyền xử lý kỷ luật phải tuân thủ trình tự, thủ tục; viên chức nếu bị xử lý kỷ luật mà thấy không thỏa đáng có quyền khiếu nại, khởi kiện hoặc yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.

                Việc ghi văn bản vào “Hồ sơ viên chức” cũng cần phân biệt: một thông báo cảnh báo không đương nhiên là quyết định kỷ luật và không đồng nghĩa với việc viên chức đã bị xử lý kỷ luật. Nếu chưa có quyết định xử lý kỷ luật hợp pháp thì không nên mặc nhiên coi văn bản này là một hình thức kỷ luật.

                4. Giảng viên nên làm gì?

                Theo tôi, trước hết nên bảo toàn chứng cứ, gồm:

                • Đơn tố cáo đã gửi và các tài liệu, chứng cứ kèm theo;
                • Giấy biên nhận hoặc bằng chứng đã gửi đơn;
                • Văn bản của Ủy ban/Thanh tra về việc không thụ lý;
                • Toàn bộ thông báo của Hiệu trưởng;
                • Chứng cứ thể hiện việc danh tính người tố cáo bị công khai;
                • Email, tin nhắn, biên bản họp hoặc tài liệu khác liên quan đến việc cảnh báo kỷ luật.

                Sau đó, giảng viên có thể gửi đơn kiến nghị/khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền quản lý Trường, đề nghị kiểm tra:

                1. Căn cứ pháp lý nào cho phép Hiệu trưởng công khai danh tính người tố cáo;
                2. Căn cứ nào để kết luận việc không thụ lý đồng nghĩa với tố cáo sai sự thật;
                3. Căn cứ pháp lý của việc cảnh báo xử lý kỷ luật;
                4. Căn cứ và mục đích của việc đưa thông báo vào hồ sơ viên chức;
                5. Yêu cầu chấm dứt việc gây bất lợi hoặc trù dập do thực hiện quyền tố cáo nếu có căn cứ.

                Nếu sau đó có quyết định kỷ luật hoặc quyết định hành chính cụ thể ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của giảng viên, cần xem xét sử dụng thủ tục khiếu nại hoặc khởi kiện phù hợp.

                Đặc biệt, nếu có căn cứ cho rằng việc công khai danh tính và cảnh báo kỷ luật được sử dụng để gây áp lực, trả đũa hoặc trù dập người tố cáo thì có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét theo Điều 8 Luật Tố cáo 2018; hành vi vi phạm các quy định về tố cáo, tùy tính chất và mức độ, có thể bị xử lý theo Điều 65 của Luật này.

                Tuy nhiên, để kết luận Hiệu trưởng đã vi phạm ở mức độ nào, cần xem chính xác nội dung Thông báo, cách thức công khai danh tính và văn bản “không thụ lý” của Ủy ban/Thanh tra. Bạn nên giữ nguyên bản gốc các tài liệu này để đối chiếu.

                Nếu bạn cần thông tin thêm về dịch vụ tư vấn, vui lòng gọi tổng đài i-Law để được giải đáp.
                Nếu bạn vừa lòng với nội dung trả lời, vui lòng đánh giá câu trả lời để ủng hộ Luật sư Nguyễn Thanh Hải.


                Luật sư Nguyễn Thanh Hải.

                Luật sư: Nguyễn Cao Trí Ads

                67 nhận xét

                • Đánh giá của iLAW: 9.4

                Nhắn tin
                Mức phí
                Hồ sơ

                Gọi

                Luật sư: NGUYỄN ĐỨC THẮNG Ý Ads

                222 nhận xét

                • Đánh giá của iLAW: 9.4

                Nhắn tin
                Mức phí
                Hồ sơ

                Gọi

                  0916999058

                Những câu hỏi cùng lĩnh vực

                1. Lương
                  Có 3 Luật sư trả lời
                2. Có được đền bù khi công ty chấm dứt hợp đồng trước hạn?
                  Có 4 Luật sư trả lời
                3. tiền công
                  Có 3 Luật sư trả lời
                4. Nội dung về Luật tố cáo, Luật viên chức
                  Có 3 Luật sư trả lời
                5. Em xin được trình bày tiếp. Em là bạn sinh viên bị bắt TT 78 công ạ
                  Có 3 Luật sư trả lời
                6. Dạ xin chào Luật sư, Nhờ Luật sư tư vấn giúp em trường hợp công ty nợ lương
                  Có 2 Luật sư trả lời

                  Lĩnh vực Lao động

                  1. Hợp đồng lao động
                  2. Kỷ luật lao động
                  3. Lao động nước ngoài
                  4. Tranh chấp lao động

                  Không thể tìm thấy những gì bạn đang tìm kiếm?


                  Gửi một câu hỏi miễn phí trên diễn đàn công cộng của chúng tôi. Đặt một câu hỏi

                  Đặt câu hỏi

                  - hoặc -

                  Tìm kiếm luật sư bằng cách đánh giá và xếp hạng..

                  Tìm kiếm luật sư

                  Duyệt tìm Luật sư

                  • Theo lĩnh vực
                  • Theo tỉnh thành

                      Đánh giá (Rating) của iLAW

                      1. Hệ thống Đánh giá (Rating) trên iLAW hoạt động như thế nào

                      iLAW đưa ra Đánh giá (Rating) dựa trên các thông tin do Luật sư cung cấp trong trang cá nhân của Luật sư và các thông tin mà iLAW thu thập được (ví dụ, các thông tin do Đoàn Luật sư, Liên đoàn Luật sư hoặc các Sở tư pháp công bố...). Thêm vào đó, thuật toán thông minh (Smart Agorithm) trên hệ thống iLAW cũng nhận diện và tự động cập nhật thường xuyên những thay đổi (tăng hoặc giảm) của Đánh giá (Rating). 

                      2. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến Đánh giá (Rating) của iLAW

                      Kinh nghiệm và bằng cấp

                      Số năm kinh nghiệm hành nghề của Luật sư, học vấn, bằng cấp chuyên môn hoặc các bằng cấp trong các lĩnh vực liên quan mà Luật sư đạt được.

                      Thành tựu trong nghề nghiệp

                      Các giải thưởng, vinh danh, bằng khen…của cá nhân Luật sư hoặc của văn phòng/công ty nơi Luật sư làm việc.

                      Danh tiếng và uy tín trong nghề

                      Mức độ tích cực của các Nhận xét (reviews) và đánh giá sao (từ 1 sao đến 5 sao) chất lượng dịch vụ pháp lý từ khách hàng cũ và Đánh giá của luật sư đồng nghiệp đối với Luật sư.

                      Đóng góp cho nghề

                      Luật sư có xuất bản các sách chuyên ngành pháp lý, các bài viết, chia sẻ quan điểm pháp lý trên các báo, tạp chí, các tham luận, trình bày tại các hội thảo chuyên ngành pháp lý...

                      Đóng góp cho cộng đồng

                      Luật sư tích cực tham gia trả lời miễn phí các Câu hỏi của khách hàng, chia sẻ miễn phí các thông tin pháp lý hữu ích, các biểu mẫu, mẫu hợp đồng cho khách hàng trên iLAW.

                      3. Các mức độ của Đánh giá (Rating) của iLAW

                      Kết quả Đánh giá (Rating) trên hệ thống iLAW được chia làm 04 mức độ tương ứng, phản ánh thông tin toàn diện về Luật sư và chất lượng cũng như uy tín của dịch vụ pháp lý mà Luật sư cung cấp:

                      10 - 9.0: Xuất sắc 

                      8.9 - 8.0: Rất tốt 

                      7.9 - 7.0: Tốt 

                      6.9 - 6.0: Trung bình

                      • Về chúng tôi
                      • Điều khoản sử dụng
                      • Dành cho người dùng
                      • Dành cho Luật sư
                      • Chính sách bảo mật
                      • Nội quy trang Nhận xét
                      • Đánh giá của iLAW

                      Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Pháp Lý Thông Minh

                      Tầng 6,7 Toà nhà Friendship, số 31 Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

                      Điện thoại: (028) 7303 2868

                      Email: cskh@i-law.vn

                      GCNĐKKD số 0314107106 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TPHCM cấp ngày 10/11/2016

                      iLAW chỉ cung cấp thông tin và nền tảng công nghệ để bạn sử dụng thông tin đó. Chúng tôi không phải là công ty luật và không cung cấp dịch vụ pháp lý. Bạn nên tham vấn ý kiến Luật sư cho vấn đề pháp lý mà bạn đang cần giải quyết. Vui lòng tham khảo Điều khoản sử dụng và Chính sách bảo mật khi sử dụng website.

                      © iLAW Inc. All Rights Reserved 2019