Giấy tặng cho nhà đất có hiệu lực Pháp luật không ?
Chào luật sư.Bố mẹ tôi có mảnh đất mua từ 1975 có chứng thực của( u b n d) đến nay chua làm quyền sử dụng đất.Năm 2002 Bố mẹ viết giấy cho tôi mảnh đất này (có xác nhận của chính quyền) vì gia đình tôi hoàn cảnh khó khăn nên tôi chưa làm thủ tục sang tên cho tôi .Đến năm 2020 Bố mẹ tôi mất hết. Nay tôi làm sang tên tôi , theo giấy cho tặng mà bố mẹ tôi viết thì anh tôi đòi chia tài sản thừa kế theo pháp luật vì khi bố me mất không viết di chúc vì bố mẹ khi còn sống bố mẹ đã viết giấy cho tôi rồi ,khi chết không thay đổi. Vậy giấy viết tặng cho có giá trị pháp luật không ? Tôi có phải chia lại theo pháp luật không ? Trường hợp của tôi có áp dụng với án lệ 52/2021 không ? Theo tôi biết :( Nếu sử dụng đất do tặng cho trước ngày 01/1/2008 thì dù thửa đất đó không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 18 NGhị định 43/2014/NĐ-CP thì tặng cho đó vẫn có hiệu lực. Đồng thời hợp đồng tặng cho cũng không bắt buộc thực hiện công chứng, chứng thực. - Nếu sử dụng đất do nhận tặng cho từ ngày 01/01/2008 đến trước ngày 01/7/2014 thì phải có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013 và Điều 18 Nghị định 43/2014/ NĐ-CP nếu không có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì tặng cho đó không có hiệu lực.)
3 Luật sư trả lời
Kính gửi: Quý độc giả.
Với trường hợp của bạn tôi xin có ý kiến như sau:
Đối với mảnh đất của bố mẹ bạn để lại, về nguồn gốc là mua từ người khác và sử dụng ổn định từ năm 1975 đến nay không xảy ra tranh chấp.
Nguyên nhân tranh chấp hiện tại là giữa 2 anh em bạn liên quan về thừa kế và tặng cho.
Về nguyên tắc, tài sản của bố mẹ bạn là hợp pháp họ có toàn quyền quyết định, nếu khi còn sống họ đã quyết định cho bạn, và việc cho tặng là tự nguyện, hợp pháp. Thì tài sản đã cho tặng, sẽ không còn là tài sản trong khối di sản thừa kế sau khi cha mẹ mất.
Những tài sản được xác định trong khối di sản của cha mẹ để lại thừa kế là những tài sản mà trước khi mất còn thuộc quyền sở hữu, sử dụng của cha mẹ bạn.
Trong trường hợp hai anh em không thương lượng giải quyết với nhau được phải kiện ra tòa thì Tòa án sẽ là cơ quan quyết định có áp dụng án lệ mà bạn viện dẫn hay không. Dựa trên sự tương đồng của các tình tiết liên quan.
Nếu vụ việc phải giải quyết theo hướng tranh chấp giữa hai anh em bạn thì với vụ việc này sẽ có nhiều quy định pháp luật liên quan được viện dẫn. Dưới đây là một số quy định.
Tại Luật Đất đai
Điều 169. Nhận quyền sử
dụng đất
1. Người nhận quyền sử dụng đất được
quy định như sau:
a) Hộ gia đình, cá nhân được nhận
chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp thông qua chuyển đổi quyền sử dụng đất quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 179 của Luật này;
b) Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá
nhân được nhận chuyển quyền sử dụng đất thông qua nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, trừ trường hợp quy định tại Điều 191 của Luật này; người Việt Nam
định cư ở nước ngoài được nhận chuyển quyền sử dụng đất thông qua nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất,
khu công nghệ cao, khu kinh tế. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được nhận
chuyển nhượng vốn đầu tư là giá trị quyền sử dụng đất theo quy định của Chính
phủ;
c) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân,
cộng đồng dân cư được nhận chuyển quyền sử dụng đất thông qua nhận tặng cho
quyền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 và điểm e khoản 1
Điều 179 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 191 của Luật này;
d) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân,
cộng đồng dân cư được nhận chuyển quyền sử dụng đất thông qua nhận thừa kế
quyền sử dụng đất;
Điều 188. Điều kiện thực hiện các
quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế
chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất
1. Người sử dụng đất được thực hiện
các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho,
thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện
sau đây:
a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường
hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản
1 Điều 168 của Luật này;
b) Đất không có tranh chấp;
c) Quyền sử dụng đất không bị kê
biên để bảo đảm thi hành án;
d) Trong thời hạn sử dụng đất.
Điều 191. Trường hợp không được nhận
chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất
1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân,
cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho
quyền sử dụng đất đối với trường hợp mà pháp luật không cho phép chuyển nhượng,
tặng cho quyền sử dụng đất.
2. Tổ chức kinh tế không được nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
của hộ gia đình, cá nhân, trừ trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê
duyệt.
3. Hộ gia đình, cá nhân không trực
tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử
dụng đất trồng lúa.
4. Hộ gia đình, cá nhân không được
nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp trong
khu vực rừng phòng hộ, trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi
sinh thái thuộc rừng đặc dụng, nếu không sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ,
rừng đặc dụng đó.
Tại
Bộ luật Dân sự:
.Điều 194. Quyền định đoạt của
chủ sở hữu
Chủ
sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở
hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp
với quy định của pháp luật đối với tài sản.
Điều 223. Xác lập quyền sở hữu theo hợp đồng
Người
được giao tài sản thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay hoặc
hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật thì có quyền sở
hữu tài sản đó.
Điều 238. Chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho người khác
Khi
chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho người khác thông qua hợp đồng
mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo
quy định của pháp luật hoặc thông qua việc để thừa kế thì quyền sở hữu đối với
tài sản của người đó chấm dứt kể từ thời điểm phát sinh quyền sở hữu của người
được chuyển giao.
Điều
457. Hợp đồng tặng cho tài sản
Hợp
đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài
sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền
bù, bên được tặng cho đồng ý nhận.
Điều 458. Tặng cho động
sản
1.
Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận
tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2.
Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho
có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.
Điều 459. Tặng cho bất
động sản
1.
Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực
hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của
luật.
2.
Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất
động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể
từ thời điểm chuyển giao tài sản.
Điều
612. Di sản
Di
sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài
sản chung với người khác.
Trân trọng.
Luật sư Tô Hồng Thế.
Thời điểm 2002 bạn được tặng cho
tài sản. Theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự 1995
“Điều
463. Tặng cho bất động sản
1- Tặng cho
bất động sản phải được lập thành văn bản có chứng nhận của Công chứng nhà nước
hoặc có chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền và phải đăng ký
tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản
phải đăng ký quyền sở hữu.
2- Hợp đồng
tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký;
nếu bất động
sản không phải đăng ký quyền sở hữu, thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời
điểm nhận tài sản.”
Như vậy, việc có xác nhận của chính
quyền một phần đã khẳng định bố mẹ đã cho bạn.
Anh bạn có tranh chấp với bạn về
tài sản này thì bạn chưa thể thực hiện đăng ký quyền sử dụng. Do đó, trường hợp
này anh bạn có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Việc của bạn là chứng
minh đất bố mẹ đã cho, thời điểm cho anh chị em trong nhà có biết không? Ai quản
lý, sử dụng đất từ khi bố mẹ cho đến nay… Trước khi Tòa án ra bản án, sẽ thu thập
các tài liệu chứng cứ liên quan, không chỉ dựa vào giấy tặng cho để quyết định.
Án lệ 52/2021 đề cập tới trường hợp “bên được tặng cho chưa đăng ký quyền sử dụng đất do trở ngại khách quan thì bên tặng cho tài sản chết”. Còn trường hợp của bạn từ 2002 đến 2020 không đăng ký thì khó có thể nói là “trở ngại khách quan”. Do đó, trường hợp này không thể áp dụng Án lệ 52.
Trân trọng.
Hi vọng nội dung tư vấn giúp ích cho bạn.
Lưu lại thông tin của Luật sư và add Zalo để
liên hệ khi cần:
Luật sư Nguyễn Thành Huân
Giám đốc Công ty Luật TNHH Luật Sư 11 (120 - 122 Điện Biên Phủ, Đa Kao, Quận 1, Thành phố Hồ
Chí Minh)
Điện thoại:
0979 800 000
Email:
luatsuhuan11@gmail.com
Website: https://luatsu11.vn
Luật sư Nguyễn Thành Huân.
Chào em,
Mình có thể đến trực tiếp VPLS Triển Luật (213 A Nguyễn Xí P13 Q Bình Thạnh TPHCM hoặc gọi điện thoại số 0776820693 của Luật sư Thảo) để được tư vấn trực tiếp nhé.
Thân chào.
Luật sư Hồ Ngọc Hiền Thảo.
Lĩnh vực Đất đai
Không thể tìm thấy những gì bạn đang tìm kiếm?
Gửi một câu hỏi miễn phí trên diễn đàn công cộng của chúng tôi. Đặt một câu hỏi
Đặt câu hỏi- hoặc -
Tìm kiếm luật sư bằng cách đánh giá và xếp hạng..
Tìm kiếm luật sư


