chia thừa kế
Ls Cho e hỏi . ck e có vk mới ,đất mẹ ck cho sau hôn nhân cả hai vk ck đều đứng tên chung trên sổ . giờ e muốn chia tài sản có dc k ạ
6 Luật sư trả lời
Chào chị!
Chị vui lòng liên hệ luật sư qua số điện thoại 0977761893 để cung cấp thêm thông tin và được tư vấn cụ thể nhé.
Luật sư Phạm Đức Huy.
Chào bạn, Hãng Luật Chân Thiện Mỹ tư vấn sơ bộ cho bạn tham khảo như sau:
1. Căn cứ Khoản 1 Điều 33 và Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn về nguyên tắc là tài sản chung, trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc có được bằng tài sản riêng.
2. Qua sự việc của bạn, nếu mẹ chồng cho đất sau khi hai vợ chồng đã kết hôn và Giấy chứng nhận đứng tên cả hai vợ chồng, thì về nguyên tắc đây được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Khi ly hôn, hai bên có thể tự thỏa thuận việc chia đất; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình.
3. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn chi tiết.
Nếu bạn cần luật sư giúp đỡ, hãy liên hệ ngay với:
Luật sư Ngô Đình Nhiên – Cộng sự cấp cao tại Hãng Luật Chân Thiện Mỹ – Thuộc Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh
Gọi ngay/Zalo: 0919.183.001
Email: luatsungodinhnhien@gmail.com
Địa chỉ văn phòng: Số 94 Nguyễn Hữu Tiến, phường Tây Thạnh, TP. Hồ Chí Minh
-----------------------------------------------------------------------------------------
Đừng để vấn đề pháp lý làm bạn lo lắng – Với sự am hiểu pháp luật chuyên sâu, có kinh nghiệm thực tiễn nhiều năm, Luật sư Nhiên sẽ có giải pháp toàn diện, được việc và đồng hành cùng bạn!
------------------------------------------------------------------------------------------
Luật sư Ngô Đình Nhiên .
Chào bạn, theo như bạn trình bày. Vợ chồng bạn được gia đình nhà chồng cho diện tích đất đã được cấp GCN quyền sử dụng đất mang tên hai vợ chồng. Thì đây là tài sản chung của hai vợ chồng bạn trong thời kỳ hôn nhân.
I. Theo quy định tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:
Điều 29. Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng
1. Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.
2. Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
3. Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường.
Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung
1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này.
Điều 40. Hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
1. Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.
2. Thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba.
II. Theo quy định tại điều 7 , Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP có hiệu lực kể từ ngày 01/3/2016, như sau:
Điều 7. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
1. Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản. Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được mà có yêu cầu thì Tòa án phải xem xét, quyết định việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay theo luật định, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau:
a) Trường hợp không có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng hoặc văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn;
b) Trường hợp có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng và văn bản này không bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng các nội dung của văn bản thỏa thuận để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Đối với những vấn đề không được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng hoặc bị vô hiệu thì áp dụng các quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 59 và các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật hôn nhân và gia đình để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.
2. Khi giải quyết ly hôn nếu có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu thì Tòa án xem xét, giải quyết đồng thời với yêu cầu chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.
3. Khi chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, Tòa án phải xác định vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba hay không để đưa người thứ ba vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba mà họ có yêu cầu giải quyết thì Tòa án phải giải quyết khi chia tài sản chung của vợ chồng. Trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ với người thứ ba mà người thứ ba không yêu cầu giải quyết thì Tòa án hướng dẫn họ để giải quyết bằng vụ án khác.
4. Trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:
a) “Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng” là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.
b) “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.
c) “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.
Ví dụ: Vợ chồng có tài sản chung là một chiếc ô tô người chồng đang chạy xe taxi trị giá 400 triệu đồng và một cửa hàng tạp hóa người vợ đang kinh doanh trị giá 200 triệu đồng. Khi giải quyết ly hôn và chia tài sản chung, Tòa án phải xem xét giao cửa hàng tạp hóa cho người vợ, giao xe ô tô cho người chồng để họ tiếp tục kinh doanh, tạo thu nhập. Người chồng nhận được phần giá trị tài sản lớn hơn phải thanh toán cho người vợ phần giá trị là 100 triệu đồng.
d) “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.
Ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.
5. Giá trị tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc.
6. Khi giải quyết chia tài sản khi ly hôn, Tòa án phải xem xét để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Ví dụ: Khi chia nhà ở là tài sản chung và là chỗ ở duy nhất của vợ chồng, trong trường hợp không chia được bằng hiện vật thì Tòa án xem xét và quyết định cho người vợ hoặc chồng trực tiếp nuôi con chưa thành niên, con bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự nhận hiện vật và thanh toán giá trị tương ứng với phần tài sản được chia cho người chồng hoặc vợ nếu người vợ hoặc chồng có yêu cầu.
Trên đây là căn cứ và cách giải quyết khi thực hiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Bạn tham khảo, nếu cần tư vấn gì thêm. Vui lòng liên hệ số điện thoại số điện thoại 0965912929.
Luật sư Lê Văn Quang.
Chào bạn,
Theo Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, quy định về tài sản chung như sau:
“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”
Như vậy, đất được mẹ chồng tặng cho sau khi kết hôn và cả hai vợ chồng đều đứng tên chung trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đây là dấu hiệu pháp lý rất rõ ràng cho thấy tài sản này là tài sản chung của vợ chồng, chứ không phải tài sản riêng của chồng.
Việc chồng có "vợ mới" (nếu là quan hệ ngoài hôn nhân, chưa ly hôn) thì không làm mất quyền sở hữu tài sản chung của bạn. Bạn có hai hướng xử lý như sau:
Hướng 1: Nếu bạn chưa ly hôn có thể áp dụng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo Điều 38 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Hướng 2: Chia tài sản khi ly hôn theo Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, nguyên tắc chia đôi nhưng có tính đến công sức đóng góp, hoàn cảnh mỗi bên, lỗi vi phạm nghĩa vụ vợ chồng (nếu chồng ngoại tình sẽ là yếu tố bất lợi cho chồng khi Tòa xem xét tỷ lệ chia).
Tuy nhiên, bạn nên xác minh Giấy chứng nhận có ghi rõ là tài sản chung của vợ chồn hay không. Đồng thời kiểm tra văn bản tặng cho (nếu có) để loại trừ khả năng đây là tài sản riêng được tặng cho có điều kiện.
Bạn muốn tư vấn cụ thể hãy liên hệ trực tiếp với Luật sư trình bày sự việc cụ thể. Số điện thoại Luật sư 0919.989.876 (Luật sư Tuấn Anh).
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình:
Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp với luật sư qua số điện thoại 091 998 9876
- Luật sư tư vấn miễn phí;
- Luật sư tư vấn hướng giải quyết, nhận định pháp lý;
- Phí dịch vụ luật sư công khai, minh bạch.
NHẤN ĐỂ GỌI LUẬT SƯ: 091 998 9876
- Địa chỉ: Số 203 Cộng Hoà, phường Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Điện thoại: 091 998 9876
- Website: https://luậtsư.net/
Luật sư Lê Tuấn Anh.
Chào bạn! Nếu mảnh đất được mẹ chồng cho sau khi hai vợ chồng đã kết hôn và Giấy chứng nhận đứng tên cả hai vợ chồng, thì về nguyên tắc đây là căn cứ rất mạnh để xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng, trừ khi có chứng cứ cho thấy việc tặng cho chỉ dành riêng cho người chồng. Luật Hôn nhân và gia đình quy định tài sản được tặng cho chung trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung.
Vì vậy, bạn có quyền yêu cầu chia tài sản, đặc biệt nếu hai người đang ly hôn hoặc đã ly hôn nhưng tài sản chưa được giải quyết.
Điểm cần kiểm tra là hợp đồng tặng cho và nội dung Giấy chứng nhận, vì đây sẽ là căn cứ quan trọng để xác định phần quyền của bạn.Nếu muốn hỗ trợ tư vấn kỹ hơn bạn liên hệ:
Luật sư Bùi Anh Ninh – Điện thoại: 0938 358 868
Luật sư Bùi Anh Ninh.
Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi pháp lý cho chúng tôi
Đối với vấn đề của bạn, bạn có thể liên hệ tới số điện thoại: 0984.499.996 (Luật sư Dương Hoài Vân) hoặc đặt lịch hẹn tại địa chỉ: 36 Mạc Đĩnh Chi, phường Tân Định, TP. HCM để Luật sư có thể giải đáp thắc mắc của bạn một cách cụ thể và chi tiết hơn. Hỗ trợ làm rõ vấn đề mà bạn đang vướng phải nhằm bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp cho bạn.
Trân trọng./.
Luật sư Dương Hoài Vân.
Lĩnh vực Đất đai
Không thể tìm thấy những gì bạn đang tìm kiếm?
Gửi một câu hỏi miễn phí trên diễn đàn công cộng của chúng tôi. Đặt một câu hỏi
Đặt câu hỏi- hoặc -
Tìm kiếm luật sư bằng cách đánh giá và xếp hạng..
Tìm kiếm luật sư


